7. Đời Sống Mới Trong Thần Khí

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - LỄ HIỂN LINH

 

  •  
    Tinh Cao - Jan 4 at 5:05 AM
     
     

    Lễ Hiển Linh Ngày 6/1 hay Chúa Nhật trước ngày 6/1

     

    Chúa Nhật 5/1/2020

     

    ĐỌC VÀ LẮNG NGHE Lời Chúa :

    1. TÔI BIẾT CHÚA MÀ CHƯA ĐI TÌM CHÚA

    2. BA VUA QUYẾT ĐI TÌM GẶP CHÚA

    3. TÔI BIẾT CHÚA CẦN ĐI GẶP CHÚA NGAY

    4. BẠN VÀ TÔI CẦN BƯỚC RA KHỎI CÁI TÔI ĐỂ GẶP ANH EM

     

     

    Bài Ðọc I: Is 60, 1-6

    "Vinh quang Chúa xuất hiện trên ngươi".

    Trích sách Tiên tri Isaia.

    Hãy đứng lên, hãy toả sáng ra, hỡi Giêrusalem! Vì sự sáng của ngươi đã tới, vì vinh quang của Chúa đã bừng dậy trên mình ngươi.

    Kìa tối tăm đang bao bọc địa cầu, vì u minh phủ kín các dân, nhưng trên mình ngươi Chúa đang đứng dậy, vì vinh quang của Ngài xuất hiện trên mình ngươi. Chư dân sẽ lần bước tìm về sự sáng của ngươi, và các vua hướng về ánh bình minh của ngươi.

    Hãy ngước mắt lên chung quanh, và hãy nhìn coi: tất cả những người đó đang tập họp, đang tìm đến với ngươi; các con trai của ngươi tự đàng xa đi tới, và các con gái ngươi đứng dậy từ khắp bên hông.

    Bấy giờ ngươi sẽ nhìn coi, và ngươi trở nên rực rỡ, tim ngươi sẽ rạo rực và sẽ phồng lên. Bởi vì những kho tàng bể khơi tuôn đến với ngươi, nguồn phú túc của chư dân sẽ tới tay ngươi. Những con lạc đà tràn ngập vây phủ lấy ngươi, những lạc đà một bướu tự xứ Mađian và Epha; tất cả những ai từ Saba đi tới, đem theo vàng và nhũ hương, và họ sẽ tuyên rao lời ca ngợi Chúa.

    Ðó là lời Chúa. 

    Ðáp Ca: Tv 71, 2. 7-8. 10-11a. 12-13

    Ðáp: Lạy Chúa, mọi dân tộc trên địa cầu đều thờ lạy Chúa (x. c. 11b).

    Xướng: 1) Lạy Chúa, xin ban quyền xét đoán khôn ngoan cho đức vua, và ban sự công chính cho hoàng tử, để người đoán xét dân Chúa cách công minh, và phân xử người nghèo khó cách chính trực. - Ðáp.

    2) Sự công chính và nền hoà bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại người, cho đến khi mặt trăng không còn chiếu sáng. Và người sẽ thống trị từ biển nọ đến biển kia, từ sông cái đến tận cùng trái đất. - Ðáp.

    3) Vì người sẽ giải thoát kẻ nghèo khó khỏi tay kẻ quyền thế, và sẽ cứu người bất hạnh không ai giúp đỡ. Người sẽ thương xót kẻ yếu đuối và người thiếu thốn, và cứu thoát mạng sống kẻ cùng khổ. - Ðáp.

    4) Chúc tụng danh người đến muôn đời, danh người còn tồn tại lâu dài như mặt trời. Vì người, các chi họ đất hứa sẽ được chúc phúc, và các dân nước sẽ ca ngợi người. - Ðáp. 

    Bài Ðọc II: Ep 3, 2-3a. 5-6

    "Bây giờ được tỏ ra rằng các dân ngoại được đồng thừa tự lời hứa".

    Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.

    Anh em thân mến, (chắc) anh em đã nghe biết rằng: Thiên Chúa đã ban cho tôi việc phân phát ân sủng cho anh em, là theo ơn mạc khải cho tôi biết, tôi đã được thấu hiểu mầu nhiệm mà con cái loài người các thế hệ khác không được biết, nhưng nay đã mạc khải cho các thánh Tông đồ của Người, và cho các vị Tiên tri, nhờ Thánh Thần. Và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được nên đồng thừa tự, đồng một thân thể và đồng thông phần với lời hứa của Người trong Chúa Giêsu Kitô.

    Ðó là lời Chúa. 

    Alleluia: Mt 2, 2

    Alleluia, alleluia! - Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Ðông phương, và chúng tôi đã đến để triều bái Người. - Alleluia. 

    Phúc Âm: Mt 2, 1-12

    "Chúng tôi từ phương Ðông đến thờ lạy Ðức Vua".

    Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

    Khi Chúa Giêsu sinh hạ tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, trong đời vua Hêrôđê, có mấy nhà đạo sĩ từ Ðông phương tìm đến Giê-rusalem. Các ông nói: "Vua người Do-thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Ðông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người". Nghe nói thế, vua Hêrôđê bối rối, và tất cả Giêrusalem cùng với nhà vua. Vua đã triệu tập tất cả các đại giáo trưởng và luật sĩ trong dân, và hỏi họ cho biết nơi mà Ðức Kitô sinh hạ. Họ tâu nhà vua rằng: "Tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, vì đó là lời do Ðấng Tiên tri đã chép: Cả ngươi nữa, hỡi Bêlem, đất Giuđa, không lẽ gì ngươi bé nhỏ hơn hết trong các thành trì của Giuđa, vì tự nơi ngươi sẽ xuất hiện một thủ lãnh, Người đó sẽ chăn nuôi Israel dân tộc của Ta".

    Bấy giờ Hêrôđê ngầm triệu tập mấy nhà đạo sĩ tới, cặn kẽ hỏi han họ về thời giờ ngôi sao đã hiện ra. Rồi vua đã phái họ đi Bêlem và dặn rằng: "Các khanh hãy đi điều tra cẩn thận về Hài Nhi, rồi khi đã gặp thấy, hãy báo tin lại cho Trẫm, để cả Trẫm cũng đến triều bái Người". Nghe nhà vua nói, họ lên đường. Và kìa ngôi sao họ xem thấy ở Ðông phương, lại đi trước họ, mãi cho tới nơi và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở. Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng. Và khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy Hài Nhi và Bà Maria Mẹ Người, và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người. Rồi, mở kho tàng ra, họ đã dâng tiến Người lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược. Và khi nhận được lời mộng báo đừng trở lại với Hêrôđê, họ đã qua đường khác trở về xứ sở mình.

    Ðó là lời Chúa. 

     

     

    SỐNG VÀ CHIA SẺ Lời Chúa

     

     

    Emmanuel Đông Phương 

     

      

    Hôm nay, Chúa Nhật sau Tuần Bát Nhật Giáng Sinh, tức sau Lễ Mẹ Thiên Chúa 1/1, ở Hoa Kỳ cũng như ở hầu như các giáo phận trên thế giới, vì lý do mục vụ cho nhiều giáo dân có thể tham dự, đều mừng Lễ Hiển Linh, tột đỉnh của Mùa Giáng Sinh, vào Chúa Nhật này.

     

    Thật vậy, Lễ Hiển Linh là tột đỉnh của Mùa Giáng Sinh là vì nếu "Lời đã hóa thành nhục thể và ở cùng chúng ta" (Giona 1:14) như một Đấng Thiên Sai Cứu Thế, Đấng Thiên Sai của dân Do Thái đúng như đã được tiên báo trong lịch sử cứu độ của họ, và vì thế Người cũng là Đấng Cứu Thế của chung nhân loại, như đã được Thiên Chúa hứa ban ngay sau nguyên tội (xem Khởi Nguyên 3:15), thì sự kiện ba chiêm vương gia đông phương theo ngôi sao lạ tìm đến với Người sau khi Người giáng sinh đã bắt đầu hiện thực dự án cứu độ của Thiên Chúa. 

     

    Đó là một mầu nhiệm không phải ai trong dân Do Thái cũng có thể biết vào thời ấy, một dân tộc vốn coi thường dân ngoại, cho dân ngoại là những loại người tội lỗi xấu xa nhơ nhớp bởi họ tôn thờ những tà thần và ngẫu tượng nhân tạo giả trá, chứ không phải là vị Thiên Chúa chân thật duy nhất như dân Do Thái, cho dù Thánh Kinh và lịch sử cứu độ của dân Do Thái liên lỉ ám chỉ đến mầu nhiệm cứu độ phổ quát như vậy. Bởi thế, trong Bài Đọc 2 hôm nay, Thánh Phaolô Tông Đồ Dân Ngoại, trong Thư gửi Giáo đoàn Epheso mới dám nói mà không sợ kiêu ngạo rằng: 

     

    "Thiên Chúa đã ban cho tôi việc phân phát ân sủng cho anh em, là theo ơn mạc khải cho tôi biết, tôi đã được thấu hiểu mầu nhiệm mà con cái loài người các thế hệ khác không được biết, nhưng nay đã mạc khải cho các thánh Tông đồ của Người, và cho các vị Tiên tri, nhờ Thánh Thần".

     

    Phải, mầu nhiệm ấy là gì, mầu nhiệm được Thánh Thần chẳng những tỏ cho riêng vị tông đồ dân ngoại này mà còn tỏ cho các vị tông đồ của Tân Ước và các vị tiên tri trong Cựu Ước nữa, thành phần được sai đi rao giảng tin mừng cứu độ, nếu không phải, như đã cảm nhận và cũng đã được Vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô xác định trong Bài Đọc 2 hôm nay: "Nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được nên đồng thừa tự, đồng một thân thể và đồng thông phần với lời hứa của Người trong Chúa Giêsu Kitô".

     

    Trong Bài Đọc 1 hôm nay, Ngôn Sứ Isaia cũng đã nói tiên tri về ơn gọi và vai trò được tuyển chọn của dân Do Thái theo dự án cứu độ của Thiên Chúa, một dự án cứu độ mà nhờ họ và qua họ Thiên Chúa muốn tỏ mình ra và ban ơn cứu độ cho chung nhân loại:

     

    "Hãy đứng lên, hãy toả sáng ra, hỡi Giêrusalem! Vì sự sáng của ngươi đã tới, vì vinh quang của Chúa đã bừng dậy trên mình ngươi. Kìa tối tăm đang bao bọc địa cầu, vì u minh phủ kín các dân, nhưng trên mình ngươi Chúa đang đứng dậy, vì vinh quang của Ngài xuất hiện trên mình ngươi. Chư dân sẽ lần bước tìm về sự sáng của ngươi, và các vua hướng về ánh bình minh của ngươi".

     

    Chưa hết, cũng trong Bài Đọc 1 hôm nay, vị ngôn sứ này còn nói rõ hơn nữa về mầu nhiệm cứu độ phổ quát này, như thể ám chỉ đến chính sự kiện ba chiêm vương gia đại diện cho dân ngoại tìm đến bái thờ Hài Nhi Giêsu, qua các hình ảnh ám chỉ như sau:

     

    "Hãy ngước mắt lên chung quanh, và hãy nhìn coi: tất cả những người đó đang tập họp, đang tìm đến với ngươi; các con trai của ngươi tự đàng xa đi tới, và các con gái ngươi đứng dậy từ khắp bên hông. Bấy giờ ngươi sẽ nhìn coi, và ngươi trở nên rực rỡ, tim ngươi sẽ rạo rực và sẽ phồng lên. Bởi vì những kho tàng bể khơi tuôn đến với ngươi, nguồn phú túc của chư dân sẽ tới tay ngươi. Những con lạc đà tràn ngập vây phủ lấy ngươi, những lạc đà một bướu tự xứ Mađian và Epha; tất cả những ai từ Saba đi tới, đem theo vàng và nhũ hương, và họ sẽ tuyên rao lời ca ngợi Chúa".

     

    Trước mầu nhiệm cứu độ phổ quát tuyệt vời ấy, Thánh Vịnh gia trong Bài Đáp Ca hôm nay cũng không thể nào không hân hoan vang tiếng chúc tụng ngợi khen rằng: "Chúc tụng danh người đến muôn đời, danh người còn tồn tại lâu dài như mặt trời. Vì người, các chi họ đất hứa sẽ được chúc phúc, và các dân nước sẽ ca ngợi người".

     

    Bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu hôm nay là bài phúc âm duy nhất trong cả 4 phúc âm về biến cố ba chiêm vương gia đông phương tìm "đến để triều bái Người". Thế nhưng, việc tìm kiếm của ba vị chiêm vương gia được bắt đầu từ kiến thức tự nhiên thông thạo của họ về trời đất cùng với lòng khao khát thần linh và tìm chân lý của họ, tự bản chất của những khả năng nhân bản này, tuy tốt lành và cần thiết, vẫn chưa đủ để gặp được Thiên Chúa, nếu không được chính Ngài tỏ mình ra cho, qua Thánh Kinh của người Do Thái. 

     

    Bởi thế, mới xẩy ra sự kiện ngôi sao dẫn đường của họ và cho họ, trước khi dẫn họ đến chính chỗ "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1;14) thì đã biến mất ở ngay giáo đô Do Thái giáo là Thành Thánh Giêrusalem, nơi duy nhất có thể cho họ biết được đích xác đích điểm và đối tượng thần linh mà họ đang tìm kiếmĐó là lý do phần đầu tiên của bài Phúc Âm hôm nay mới có đoạn sau đây

     

    "Khi Chúa Giêsu sinh hạ tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, trong đời vua Hêrôđê, có mấy nhà đạo sĩ từ Ðông phương tìm đến Giê-rusalem. Các ông nói: 'Vua người Do-thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Ðông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người'. Nghe nói thế, vua Hêrôđê bối rối, và tất cả Giêrusalem cùng với nhà vua. Vua đã triệu tập tất cả các đại giáo trưởng và luật sĩ trong dân, và hỏi họ cho biết nơi mà Ðức Kitô sinh hạ. Họ tâu nhà vua rằng: 'Tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, vì đó là lời do Ðấng Tiên tri đã chép: Cả ngươi nữa, hỡi Bêlem, đất Giuđa, không lẽ gì ngươi bé nhỏ hơn hết trong các thành trì của Giuđa, vì tự nơi ngươi sẽ xuất hiện một thủ lãnh, Người đó sẽ chăn nuôi Israel dân tộc của Ta'".

     

    Thật vậy, sự kiện kiến thức tự nhiên của ba chiêm vương gia này nhận biết các điềm trời đất để tìm kiếm chân lý, tìm kiếm Đấng Tối Cao của mình chỉ đạt tới một mức độ giới hạn nào đó thôi. Muốn biết một cách đích xác hơn, Thiên Chúa là ai và ở đâu, như thế nào, chính Thiên Chúa cần phải tự tỏ mình ra cho con người, như Ngài đã liên tục tỏ mình ra nơi lịch sử của dân Do Thái, qua các biến cố của họ cũng như qua các vị tiên tri được Ngài sai đến với họ. Nhờ mạc khải thần linh của Thiên Chúa, như là những dấu mốc hay cột mốc chính yếu bất khả thiếu, con người mới có thể gặp được Ngài, như ba chiêm vương gia trong bài Phúc Âm hôm nay, nhờ chỉ dẫn của Thánh Kinh, như Thánh ký Mathêu ghi lại như sau:

     

    "Bấy giờ Hêrôđê ngầm triệu tập mấy nhà đạo sĩ tới, cặn kẽ hỏi han họ về thời giờ ngôi sao đã hiện ra. Rồi vua đã phái họ đi Bêlem và dặn rằng: 'Các khanh hãy đi điều tra cẩn thận về Hài Nhi, rồi khi đã gặp thấy, hãy báo tin lại cho Trẫm, để cả Trẫm cũng đến triều bái Người'. Nghe nhà vua nói, họ lên đường. Và kìa ngôi sao họ xem thấy ở Ðông phương, lại đi trước họ, mãi cho tới nơi và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở. Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng. Và khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy Hài Nhi và Bà Maria Mẹ Người, và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người. Rồi, mở kho tàng ra, họ đã dâng tiến Người lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược. Và khi nhận được lời mộng báo đừng trở lại với Hêrôđê, họ đã qua đường khác trở về xứ sở mình".

     

    Đúng thế, chỉ sau khi được Thánh Kinh chỉ dẫn, ba chiêm vương gia này mới thấy lại ngôi sao lạ, nhờ đó họ đến được tận nơi mà họ muốn tới, hay đúng hơn nơi mà họ được dẫn tới, vì ở nơi đó là một ngôi "nhà" chứ không phải là một dinh thự, chỉ có "Hài Nhi và Bà Maria Mẹ Người", chứ không phải một đức vua uy nghi lẫm liệt ngự trên ngai vàng cùng với hoàng thái hậu bên cạnh. 

     

    Ở đây không thấy nói tới Thánh Giuse. Chắc có thể bấy giờ, ngay lúc ba chiêm vương gia này bất ngờ tiến vào nhà thì ngài đi đâu vắng hay bận làm gì đó. Nhưng hình ảnh Mẹ Maria bên cạnh Hài Nhi Giêsu trước mặt ba chiêm vương gia này đã chẳng những cho thấy Lễ Mẹ Thiên Chúa được Giáo Hội có lý để mà sắp xếp (vào ngày 1/1) trước Lễ Hiển Linh (6/1), mà còn ám chỉ công cuộc cứu chuộc trần gian, bao gồm cả dân Do Thái lẫn dân ngoại, được thực hiện bởi chính Người Con Thần Linh này cùng với sự đồng công cộng tác bất khả thiếu của Người Mẹ.

     

    Tuy chỉ nhìn thấy "Hài Nhi và Mẹ Người" trong một ngôi "nhà" tầm thường, chẳng có gì là uy nghi cao cả, nguy nga lộng lẫy, hùng hậu triều thần v.v. như ở các cung đình khác trên thế gian này, ba chiêm vương gia vẫn tin tưởng Hài Nhi đó chính là "vua Do Thái mới sinh", Đấng mà họ đã bất chấp ngàn dặm xa xôi vất vả (có thể bất chấp cả những lời nhạo báng chê bai của những ai thân quen biết được ý định lên đường mù mịt mơ hồ của họ) để đến "bái thờ" với tất cả lòng thành kính và tin tưởng của mình: "khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy Hài Nhi và Bà Maria Mẹ Người, và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người. Rồi, mở kho tàng ra, họ đã dâng tiến Người lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược".

     

    Ba chiêm vương gia đông phương này, so với thành phần mục đồng Do Thái cũng đã đến kính viếng Hài Nhi Giêsu trước đó trong chính Đêm Giáng Sinh, là thành phần thuộc hàng trí thức khôn ngoan và vương giả giầu có, mang theo họ những gì quí báu nhất để có thể xứng đáng bài thờ Hài Vương Giêsu, những món quà khác nhau và quí báu nhất của họ là "vàng, nhũ hương và mộc dược", ám chỉ 3 vai trò của Đấng Thiên Sai Cứu Thế là vương đế (được tiêu biểu nơi "vàng"), tư tế (được tiêu biểu nơi "nhũ hương") và ngôn sứ (được tiêu biểu nơi "mộc dược"). 

     

    Ba món quà quí giá này còn tiêu biểu cho các nền văn hóa đa dạng của dân ngoại, tuy cao quí và tốt đẹp, nhưng vẫn cần phải được qui về Chúa Kitô là Đấng qui tụ lại hết mọi sự (Epheso 1:10) để được thăng hoa và thánh hóa "trong tinh thần và chân lý" (Gioan 4:24). Ba món quà này, nếu tiêu biểu cho các nền văn hóa đa diện của các dân ngoại như thế, thì các nền văn hóa tiêu biểu nhất thời bấy giờ bao gồm 3 thứ văn hóa chính yếu khác nhau là: đạo giáo Đông phương (vàng), triết lý Hy Lạp (nhũ hương) và Luật pháp Rôma (mộc dược). 

     

     

    Thánh Thi Giờ Kinh Phụng Vụ Ban Mai Lễ Hiển Linh 

     

    Hỡi các bạn, người đi tìm Chúa,

    Ngước mắt lên thẳng ngó trời cao,

    Kìa xem điềm lạ ánh sao,

    Hào quang rộng tỏa khắp bầu không trung.

     

    Ngôi sao ấy ngời trong vẻ đẹp,

    Ánh trời hồng nối kết trăng thanh,

    Báo tin hội lớn hình thành,

    Ki-tô Cứu Chúa mặc thân xác người.

     

    Vịnh Ba-tư chân trời ngút mắt,

    Bóng tà huy vừa tắt non đoài,

    Trán cao biển rộng nhíu mày,

    Ba người hiền sĩ tính ngày vua sinh.

     

    Vị vua nào quyền linh cao cả,

    Khiến bầu trời, run sợ oai nghiêm,

    Muôn thiên thể chợt im lìm,

    Thinh không ánh sáng dịu mềm nhường tơ?

     

    Và điềm lạ chúng ta đương thấy,

    Dấu miên trường trải mấy thời gian,

    Trước hỗn mang trước vũ hoàn,

    Cao siêu vô lượng vượt tầm trí khôn.

     

    Ðây Thánh Chúa ngàn muôn dân nước,

    Ðấng Ích-diên những ước cùng mong

    Như lời Thượng Ðế hứa cùng

    Áp-ram với cả giống dòng mai sau.

     

    Quỳ dâng Chúa ngàn câu cảm tạ,

    Ôi Giê-su, Ngài đã hiển linh,

    Thánh Thần, Thánh Phụ uy danh,

    Cùng xin chúc tụng hiển vinh muôn đời.


    Lời nguyện các Giờ Kinh Phụng Vụ Lễ Hiển Linh

     

    Lạy Chúa, hôm nay Chúa đã khiến ngôi sao chỉ đường mà mặc khải cho muôn dân nhận biết Con Một Chúa. Phần chúng con đã nhận biết Chúa nhờ đức tin dẫn lối đưa đường, xin dủ lòng thương đưa chúng con về chiêm ngưỡng Thánh Nhan vinh hiển. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con. Amen.

     

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. Nếu có thể xin nghe chia sẻ theo cảm hứng hơn là đọc lại bài chia sẻ trên 

     

      GS-LeHienLinh.mp3 

    ---------------------------------------------------

     

     

     

     

     

 

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - SỨ ĐIỆP GIÁNG SINH

 

  •  
    Tinh Cao
    Dec 25 at 3:44 PM
     
     

    ĐTC Phanxicô - Sứ Điệp Giáng Sinh 2019

     

    "Dân bước đi trong tăm tối đã được thấy ánh sáng rạng ngời" (Isaia 9:1)

      

    2019.12.25 Benedizione Urbi et Orbi

     

    Từ lòng của Mẹ Hội Thánh, đêm hôm nay Người Con nhập thể của Thiên Chúa được hạ sinh một lần nữa... 

    Bằng lòng thương xót cao cả Chúa Cha đã ban tặng Người cho chúng ta.

    Ngài tặng ban Người cho hết tất cả mọi người. Ngài đã vĩnh viễn ban tặng Người.

    Người Con này đã được sinh ra, như một ánh sáng lung linh trong giá lạnh và tăm tối của đêm hôm.

     

     

    "Dân bước đi trong tăm tối đã được thấy ánh sáng rạng ngời" (Is 9:1).

    Tối tăm ở trong cõi lòng con người,

    thế nhưng ánh sáng của Chúa Kitô còn mãnh liệt hơn thế nữa.

    Tối tăm ở nơi những mối liên hệ tư riêng, gia đình và xã hội,

    thế nhưng ánh sáng của Chúa Kitô còn vĩ đại hơn thế nữa.

    Tối tăm ở nơi những xung khắc về kinh tế, địa dư và môi trường,

    thế nhưng ánh sáng của Chúa Kitô còn cao cả hơn thế nữa.

     

    Pope Francis gives the Urbi et Orbi blessing from the center loggia of St. Peter’s Basilica Dec. 25, 2019. Credit: Daniel Ibanez/CNA.

     

    Qua bàn tay mềm yếu của chúng ta,

    xin Người khoác mặc cho những ai trần trụi, trao bánh cho kẻ đói ăn và chữa lành người bệnh hoạn.

    Qua tình bằng hữu của chúng ta,

    Người được tới gần với người già cả và neo đơn,

    tới với những người di dân và thành phần sống ở bên lề xã hội.

    Trong Ngày Giáng Sinh hân hoan này,

    xin Người mang niềm êm ái dịu dàng của Người đến cho tất cả mọi người

    và làm bừng sáng bóng tối của thế giới này.

     

    Chúc mừng Giáng Sinh anh chị em thân mến!

    Từ lòng của Mẹ Hội Thánh, đêm hôm nay Người Con nhập thể của Thiên Chúa được hạ sinh một lần nữa. Tên của Người là Giêsu, nghĩa là "Thiên Chúa cứu độ". Ngôi Cha, Tình Yêu hằng hữu và vô cùng bất tận, đã sai Người xuống thế gian không phải để luận phạt thế gian mà là cứu độ thế gian (xem Gioan 3:17). Bằng lòng thương xót cao cả Chúa Cha đã ban tặng Người cho chúng ta. Ngài tặng ban Người cho hết tất cả mọi người. Ngài đã vĩnh viễn ban tặng Người. Người Con này đã được sinh ra, như một ánh sáng lung linh trong giá lạnh và tăm tối của đêm hôm.

    Con Trẻ ấy, được hạ sinh bởi Trinh Nữ Maria, là Lời Thiên Chúa đã hóa thành nhục thể. Ngôi Lời, Đấng đã dẫn dắt cõi lòng của Abraham và những bước chân của ông tới mảnh đất hứa, và là Đấng tiếp tục lôi kéo tất cả những ai tin tưởng vào các lời hứa của Thiên Chúa. Ngôi Lời này đã dẫn đưa dân Do Thái trong cuộc hành trình từ cảnh làm nô lệ đến cuộc sống tự do, và là Đấng tiếp tục kêu gọi thành phần bị làm tôi ở hết mọi thời đại, bao gồm cả thời đại của chúng ta nữa, ra khỏi ngục tù của họ. Người là Ngôi Lời sáng ngời hơn cả mặt trời, đã hóa thân nhập thể nơi một nam nhi tí hon của con người, đó là Giêsu ánh sáng thế gian.

    Đó là lý do tại sao vị tiên tri này đã kêu lên: "Dân bước đi trong tăm tối đã được thấy ánh sáng rạng ngời" (Is 9:1). Tối tăm ở trong cõi lòng con người, thế nhưng ánh sáng của Chúa Kitô còn mãnh liệt hơn thế nữa. Tối tăm ở nơi những mối liên hệ tư riêng, gia đình và xã hội, thế nhưng ánh sáng của Chúa Kitô còn vĩ đại hơn thế nữa. Tối tăm ở nơi những xung khắc về kinh tế, địa dư và môi trường, thế nhưng ánh sáng của Chúa Kitô còn cao cả hơn thế nữa.

    Chớ gì Chúa Kitô mang ánh sáng của Người đến cho nhiều trẻ em đang chịu khốn khổ vì chiến tranh và các cuộc xung đột ở Trung Đông cũng như ở các xứ sở khác nhau trên thế giới. Chớ gì Người giúp cho nhân dân Syria được dễ chịu, những con người vẫn đang chứng kiến thấy những hận thù vô tận từng xâu xé xứ sở của họ hơn thập niên qua. Hôm nay xin Người đánh động lương tâm của những con người nam nữ thiện tâm. Xin Người đánh động các chính quyền và cộng đồng quốc tế tìm thấy các giải pháp giúp cho các dân tộc ở miền ấy cùng nhau chung sống trong hòa bình và an ninh, cùng chấm dứt những khổ đau khôn tả của họ. Xin Người nâng đỡ nhân dân Lebanon và giúp họ thắng vượt cuộc khủng hoảng hiện tại, và tái khám phá ra ơn gọi của họ đó là trở thành một sứ điệp tự do và hòa hợp chung sống cho tất cả mọi người.

    Xin Chúa Giêsu mang ánh sáng đến cho Thánh Địa, nơi Người được hạ sinh như Đấng Cứu Thế của nhân loại, và là nơi rất nhiều người - tranh đấu không chán nản - vẫn đang đợi chờ thời điểm an bình, an ninh và thịnh vượng. Xin Người mang niềm an ủi đến cho Iraq đang ở giữa những căng thẳng về xã hội hiện nay, cũng như cho Yemen đang đau khổ gây ra bởi một cuộc khủng hoảng về nhân đạo.

    Xin Hài Nhi tí hon Bêlem mang hy vọng đến cho toàn đại lục Mỹ Châu, nơi đang có một số quốc gia trải qua một thời điểm biến động về xã hội và chính trị. Chớ gì Người phấn khích nhân dân Venezuela yêu dấu, đã bị thử thách lâu dài bởi những căng thẳng về chính trị và xã hội, và bảo đảm là họ nhận được trợ giúp cần thiết. Xin Người chúc lành cho các nỗ lực của những ai không loại trừ một nỗ lực nào để cổ võ công lý và hòa giải cùng thắng vượt các cuộc khủng hoảng khác nhau cũng như các hình thức nghèo khổ đang phạm tới phẩm giá của từng người.

    Xin Đấng Cứu Chuộc của thế giới mang ánh sáng đến cho Ukraine, một đất nước mong có được những giải pháp cụ thể cho một nền hòa bình bền vững.

    Xin Vị Chúa mới sinh mang ánh sáng tới nhân dân Phi Châu, nơi mà các tình hình về xã hội và chính trị dai dẳng thường buộc các cá nhân phải di tản, khiến họ hụt hẫng mất nhà cửa và gia đình. Xin Người mang hòa bình đến cho những ai sống ở phía đông của Cộng Hòa Dân Chủ Congo, nơi bị xâu xé bởi các cuộc xung đột liên tục. Xin Người mang niềm an ủi đến cho tất cả những ai đang chịu khổ bởi bạo lực, bởi thiên tai hay bởi những bùng phát của bệnh nạn. Xin Người làm dịu bớt cho những ai đang bị bách hại vì niềm tin tôn giáo của họ, nhất là các vị thừa sai cùng các phần tử tín hữu đã bị bắt cóc, và cho các nạn nhân bị tấn công bởi những nhóm cực đoan quá khích, đặc biệt ở Burkina Faso, Mali, Niger và Nigeria.

    Xin Con Thiên Chúa, từ trời hạ giáng xuống trần gian này, bảo vệ và nâng đỡ tất cả những ai, vì những bất công này hay bất công khác, buộc phải di tản với niềm hy vọng tìm được một cuộc sống an toàn. Chính bất công buộc họ phải băng qua những vùng sa mạc và biển khơi là những nơi trở thành các nghĩa trang. Chính bất công bắt họ phải nắm chắc cho mình những hình thức lạm dụng khôn tả, phải làm nô lệ đủ mọi thứ và bị hành hạ ở những trại giam bất nhân. Chính bất công xua họ ra khỏi những nơi chốn họ hy vọng có được một đời sống xứng đáng, nhưng trái lại họ chỉ chạm phải những bức tường lạnh lùng lãnh đạm.

    Xin Emmanuel mang ánh sáng đến cho các phần tử đớn đau của gia đình nhân loại chúng ta. Xin Người làm mềm mại hóa những tâm can chai đá và vị kỷ, và làm cho họ thành những thông đạo của tình Người yêu thương. Xin Người mang nụ cười của Người, qua gương mặt hèn mọn của chúng ta, đến cho tất cả những trẻ em trên thế giới này: cho những trẻ em bị bỏ rơi và những trẻ em đang chịu đựng bạo lực. Qua bàn tay mềm yếu của chúng ta, xin Người khoác mặc cho những ai trần trụi, trao bánh cho kẻ đói ăn và chữa lành người bệnh hoạn. Qua tình bằng hữu của chúng ta, Người được tới gần với người già cả và neo đơn, tới với những người di dân và thành phần sống ở bên lề xã hội. Trong Ngày Giáng Sinh hân hoan này, xin Người mang niềm êm ái dịu dàng của Người đến cho tất cả mọi người và làm bừng sáng bóng tối của thế giới này.

     

    http://w2.vatican.va/content/francesco/en/messages/urbi/documents/papa-francesco_20191225_urbi-et-orbi-natale.html

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu  

     

 

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - BÌNH AN VÀ

Bình an và Hy vọng

Lần đầu tiên gặp các môn đệ sau khi Đức Giêsu Kitô phục sinh, lời chúc bình an là câu nói đầu tiên của Ngài: “Bình an cho anh em” (Lc 24:36; Ga 20:19; Ga 20:21). Tám ngày sau, Ngài gặp lại các môn đệ và cũng chúc: “Bình an cho anh em” (Ga 20:26). Quả thật, sự bình an rất quan trọng đối với bất kỳ ai và bất cứ lúc nào – cả tinh thần, thể lý, và xã hội.

Khi gặp nhau, chúng ta thường hỏi: “Có khỏe không?”. Hỏi về sức khỏe nhưng thực chất là nói về sự bình an, đơn giản là bình an về thể lý. Khi hỏi thăm ai về người nào đó mà lâu ngày chúng ta không gặp, chúng ta cũng hỏi: “Người ấy có khỏe không, có bình an không?”. Khi ai đó đi xa, chúng ta cũng luôn cầu chúc: “Thượng lộ bình an”. Thậm chí người ta còn cầu chúc cho người quá cố: “Xin cho linh hồn này được nghỉ yên muôn đời”. Chắc chăn sự bình an vô cùng cần thiết.

Sự bình an và niềm hy vọng có liên quan lẫn nhau. Có được sống trong sự bình an thì người ta mới hy vọng tràn trề. Không có bình an thì ước mơ chẳng khác gì chuyện hão huyền, mơ cũng chẳng bao giờ thấy. Tương tự, một đất nước không có nền hòa bình thực sự thì niềm hy vọng của người dân chẳng khác gì xa xỉ phẩm, họ khao khát mà không thể có được. Thật tội nghiệp cho người dân ở các nước thiếu hòa bình, hoặc tương đối có hòa bình mà không trọn vẹn. Hòa bình đó là hòa-bình-ảo!

SỰ BÌNH AN

Sự bình an còn gọi là an bình, bình yên, hoặc yên bình. Đó là trạng thái thanh thản, cảm giác an hòa, thanh bình. Sự bình an có hai dạng: Bình an tâm hồn và bình an thể lý. Có thể có một dạng nữa là bình an xã hội, bình an đất nước – gọi là hòa bình.

Bình an tâm hồn là không bị dao động, lương tâm trong sạch, không đam mê cái xấu, sạch tội, không bon chen, không so đo, không giận hờn, không ghen tương, không đố kỵ, không phiền muộn,… Bình an thể lý là không bệnh tật, ăn ngon, dễ ngủ,… Bình an xã hội là không sợ bị trộm cướp, không sợ bị hại, không lo bị dòm ngó,…

Danh nhân Mahatma Gandhi, một chính khách chủ trương bất bạo động được dân Ấn Độ coi là “cha già” và thánh nhân, đã nhận xét về sự bình an: “Mỗi người đều phải tìm thấy sự bình an từ bên trong bản thân mình. Sự bình an thực sự phải không bị ảnh hưởng bởi ngoại tại” (Each one has to find his peace from within. Peace to be real must be unaffected by outside circumstances). Thời xưa cũng quan niệm tương tự: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Mọi sự phải được bắt đầu từ chính mình vậy!

Sự bình an quan trọng hơn sự giàu sang hoặc nghèo khó. Giàu sang mà bất an thì cũng vô ích, ngồi trên đống vàng mà lòng như lửa đốt thì có vui không? Người giàu cũng khóc kia mà! Ngược lại, nghèo khó mà lòng thanh thản, không nợ nần, dù không được ăn ngon và mặc đẹp như người khác, thế là được bình an rồi. Lão Tử đã nhận định: “Tri túc chi túc, hà thời túc; tri nhàn chi nhàn, hà thời nhàn” (Biết đủ là đủ, tức là đủ; biết nhàn là nhàn, tức là nhàn). Nhàn ở đây không có nghĩa là “ngồi không”, bởi vì thể xác nhàn nhưng chưa chắc tâm hồn nhàn. Nhàn phải mang nghĩa thanh thản cả thể lý lẫn tâm hồn. Như vậy mới là bình an. Đó là sự bình an cần thiết.

Đất nước nào có hòa bình thực sự thì mới hưng thịnh. Muốn hòa bình thực sự thì chính phủ phải là một “bộ máy yêu thương”, nghĩa là chính phủ biết thương dân, thương nước, không tham nhũng, không hối lộ. Trong thi phẩm “Chữ Nhàn”, cụ Nguyễn Công Trứ đặt vấn đề: “Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc; tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn?”. Nghĩa là: “Biết đủ là đủ, đợi cho đủ thì bao giờ mới đủ; biết nhàn là nhàn, đợi cho nhàn thì bao giờ mới nhàn?”.

Vua Trần Nhân Tông định nghĩa chữ Nhàn là không màng công danh phú quý, là hơn tất cả mọi thứ. Trong một thi phẩm Hán tự, ông viết câu kết: “Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn kim”. Vạn kim là mười ngàn lượng vàng, là giàu sang phú quý. Nghĩa là “hai chữ thanh nhàn hơn cả sự giàu sang phú quý”. Đó mới là “nhàn” đúng nghĩa, nhàn như vậy mới là sự bình an đích thực. Thật vậy, tác giả Thánh Vịnh bộc bạch: “Thư thái bình an vừa nằm con đã ngủ, vì chỉ có mình Ngài, lạy Chúa, ban cho con được sống yên hàn” (Tv 4:9).

Khi Con Một Thiên Chúa giáng sinh làm người nơi hang Belem đơn nghèo, muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2:14). Trong thời gian thực hiện sứ vụ, Chúa Giêsu căn dặn những người được sai đi truyền giáo: “Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy” (Mt 10:12; Lc 10:5). Ngay cả những khi chữa lành bệnh hoặc tha tội cho ai, Chúa Giêsu đều nói với họ: “Hãy đi bình an” (Lc 7:50; Lc 8:48).

Sự bình an cũng có ý nghĩa khác nhau. Sự bình an của Thiên Chúa khác hẳn với sự bình an của loài người, như Chúa Giêsu đã xác định: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi!” (Ga 14:27). Ngài không giải thích về sự khác nhau thế nào, nhưng Ngài động viên chúng ta. Ngài biết chúng ta sẽ ngạc nhiên, nhưng Ngài muốn để chúng ta tự cảm nghiệm, nhờ đó mà Đức Tin của chúng ta mới được thanh luyện.

Chữ “bình an” được đề cập nhiều lần xuyên suốt Kinh Thánh – dù trực tiếp hoặc gián tiếp. Sau khi con trẻ Gioan ra đời, mọi người đều lấy làm lạ và chia vui, ông Da-ca-ri-a liền ứng khẩu cảm tác bài ca “Chúc Tụng” (Benedictus): “Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn, cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm ta, soi sáng những ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần, dẫn ta bước vào đường nẻo bình an” (Lc 1:78-79).

Được bình an là hạnh phúc. Chia sẻ bình an còn hạnh phúc hơn, vì đó là một trong Bát Phúc mà Chúa Giêsu đưa ra trong bài giảng thứ nhất, khởi đầu công khai sứ vụ của Ngài: “Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5:9).

Có câu chuyện liên quan sự bình an như thế này…

Một hôm, Tô Đông Pha đến chơi nhà chùa và cùng ngồi thiền với một nhà sư. Trong khi ngồi thiền, Tô thấy an lạc xuất hiện. Xả thiền xong, Tô rất vui vẻ hỏi nhà sư: “Ngài thấy tôi ngồi thiền như thế giống cái gì?”. Nhà sư ôn tồn: “Trông ngài giống như Đức Phật”. Tô nghe thế thì vui lắm. Thiền sư hỏi lại: “Thế ngài thấy tôi ngồi thiền giống cái gì?”. Tô đáp ngay: “Trông ngài ngồi thiền giống một đống phân bò”.

Thiền sư nghe nói vậy mà lòng vẫn bình an. Tô Đông Pha cười suốt dọc đường về và thầm nghĩ: “Hôm nay ta đã thắng lão hòa thượng đó một phen rồi. Bị ta nói là đống phân bò mà không bẻ lại được câu nào cả”. Tô về khoe với Tô tiểu muội: “Hôm nay huynh đã qua mặt được lão sư già đó rồi!”. Tô muội hỏi chuyện gì. Tô huynh hào hứng kể lại chi tiết đầu đuôi. Tô muội cười ồ lên, Tô huynh đắc chí nên càng hào hứng kể. Chợt ngưng cười, Tô muội nói: “Muội cười là cười huynh đó, huynh lại thua lão hòa thượng ấy rồi!”.

Tô huynh ngạc nhiên hỏi thế là thế nào. Tô muội phân tích: “Tâm lão hòa thượng là tâm Phật, nên thấy huynh cũng giống như Phật. Còn tâm của huynh thì toàn phân bò, nên huynh thấy hòa thượng giống như đống phân bò. Tâm huynh như thế làm sao mà bằng được tâm lão hòa thượng chứ?”. Tô huynh ngộ ra và tiu nghỉu!

Thiền sư có cái tâm chân chính nên thấy người khác cũng tốt, cái tâm của thiền sư là tâm bình an. Còn Tô Đông Pha có cái tâm bất chính nên thấy người khác cũng xấu, cái tâm của Tô là tâm bất an, chỉ tìm mọi cách để chê trách người khác, kiểu “vạch lá tìm sâu” hoặc “bới bèo ra bọ”. Dạng tâm địa như vậy không thể sống bình an được!

Câu chuyện này “nhắc khéo” chúng ta về “chữ Tâm”, về cách đối nhân xử thế, cách nhìn người. Tục ngữ có câu: “Chiếc áo không làm nên thầy tu”. Ca dao cũng ví von: “Thế gian lắm kẻ mơ màng, thấy người toét mắt tưởng vàng ăn ra”. Lão giáo còn mệnh danh là “Đạo Vô Vi”. Động thái vô vi rất khó, ngay khi bạn nghĩ bạn vô vi là bạn đã không vô vi rồi! Càng thoát tục thì người ta càng được hưởng bình an, nhưng chỉ có Thiên Quốc mới nền hòa bình thực sự và vĩnh cửu. Trần gian muốn hưởng sự bình an thì phải bảo vệ và duy trì công lý: “Triều đại Người đua nở hoa công lý và thái bình thịnh trị tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn” (Tv 72:7).

Hằng ngày, mỗi khi tham dự Thánh lễ, sau hai lần xin Thiên Chúa thương xót, chúng ta tiếp tục xin Ngài ban bình an: “Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, xin ban bình an cho chúng con”. Kết thúc Thánh lễ cũng là một lời chúc bình an. Vâng, ơn bình an vô cùng quan trọng đối với cuộc lữ hành trần gian này, nhờ có sự bình an mà chúng ta tiếp tục sống trong niềm hy vọng. Khi sống, ai cũng mong được bình an, khi chết cũng mong được bình an để có thể thanh thản giã biệt thế gian, hy vọng được hưởng sự bình an của Nước Trời vĩnh hằng.

NIỀM HY VỌNG

Hy vọng là Đức Cậy, một trong ba nhân đức đối thần. Hy vọng liên quan sự lạc quan. Có thể chia loài người thành hai loại: Người lạc quan và người bi quan. Người lạc quan có thể “vô tư” (theo nghĩa tích cực), nhìn mọi thứ qua lăng kính màu hồng sáng; còn người bi quan có thể dễ yếm thế, nhìn mọi thứ qua lăng kính ảm đạm. Hai người cùng nhìn qua cửa sồ, người thì thấy ánh nắng, người thì thấy bùn đen!

Ngày hôm qua là cảnh mộng, ngày mai là ước mơ, nhưng ngày hôm nay sống tốt sẽ khiến mỗi ngày qua đi là một giấc mơ hạnh phúc, và mỗi ngày mai là giấc mơ hy vọng. Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã có quyết tâm tích cực: “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, chọn những bông hoa và những nụ cười… Mỗi ngày tôi chọn đường mình đi, đường đến anh em, đường đến bạn bè… Và như thế tôi sống vui từng ngày, và như thế tôi đến trong cuộc đời, đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi… Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, cùng với anh em tìm đến mọi người…” (Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui). Ca từ đầy chất nhân bản, phù hợp với Đức Ái Kitô giáo. Đẹp lắm!

Cuộc sống nhiêu khê nhưng cần cố gắng đối với bốn động thái tích cực này: (1) Nhìn lại phía sau để rút kinh nghiệm, (2) nhìn lên phía trước để luôn hy vọng, (3) nhìn ra xung quanh để nhận biết thực tế, (4) nhìn vào nội tâm để nhận diện chính mình. Ông Thomas Carlyle (1795-1881, triết gia và sử gia Anh quốc) nhận xét: “Người có sức khỏe thì có hy vọng, người có hy vọng sẽ có tất cả mọi thứ”. Ở đây, “sức khỏe” nên hiểu theo hai nghĩa: Sức khỏe thể lý và sức khỏe tinh thần. Như vậy sức khỏe mới trọn vẹn.

Tương tự, một danh nhân đã nói: “Nếu bạn cảm thấy sợ hãi về điều sẽ xảy ra, đừng sợ! Hãy ôm lấy sự không chắc chắn và để nó dẫn bạn đi. Hãy cản đảm khi đời thách thức bạn sử dụng cả con tim và trí óc để mở ra con đường dẫn tới hạnh phúc của riêng mình, đừng lãng phí thời gian trong tiếc nuối. Bật sức mạnh vào hành động tiếp theo. Hãy tận hưởng hiện tại khi nó tới, tận hưởng từng giây phút, bởi vì bạn sẽ không bao giờ có lại thời khắc đó nữa. Nếu có lúc nào đó bạn ngước lên và thấy mình lạc lối, hãy hít thở sâu và bắt đầu lại. Đi ngược theo bước chân mình và quay trở về nơi tinh khiết nhất trong trái tim, nơi hy vọng tồn tại. Rồi bạn sẽ lại tìm thấy con đường”.

Vâng, hy vọng luôn mở ra những con đường, đặc biệt là “con đường sống”. Và con-đường-sống đó chính là Đức Kitô, vì Ngài đã xác định: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14:6). Hãy chú ý hành trình của mình: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7:13-14; Lc 13:24). Bà Helen Keller (1880-1968, tác giả và chính khách Hoa Kỳ) phân tích: “Chúng ta bảo tình yêu là sự sống, nhưng tình yêu không có hy vọng và niềm tin thì chỉ là cái chết đau đớn”. Cẩn tắc vô ưu!

Trước khi qua đời, ông Mát-tít-gia căn dặn các con: “Các con hãy tâm niệm rằng: từ đời này qua đời khác, hết những ai đặt hy vọng vào Thiên Chúa sẽ không bị suy tàn” (1 Mcb 2:61). Chắc chắn là vậy. Người sắp chết luôn nói thật để người khác có kinh nghiệm sống, vì họ biết họ không còn dịp để làm lại cuộc đời nữa!

Chắc hẳn các Kitô hữu còn nhớ chuyện người mẹ và bảy người con trai bị vua An-ti-ô-khô hành quyết vì họ quyết bảo vệ Đức Tin tới giọt máu cuối cùng. Khi đến lượt người thứ ba bị tra tấn, vừa được yêu cầu anh liền thè lưỡi, anh can đảm đưa tay ra và khẳng khái nói: “Tôi có được lưỡi này, tay này, là do Chúa Trời ban. Nhưng vì luật Chúa Trời, tôi coi khinh những thứ đó, và tôi hy vọng nhờ Chúa Trời, tôi sẽ lấy lại được” (2 Mcb 7:11). Tinh thần Kitô giáo vô cùng bất khuất! Chính Đức Cậy (niềm hy vọng) đã giúp họ giữ vững Đức Tin vì yêu mến Thiên Chúa (Đức Mến). Một Tam-Giác-Đối-Thần tuyệt vời, luôn nối kết chặt chẽ với nhau. Rất lô-gích! Thánh Phaolô nói: “Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13:7).

Kinh Thánh luôn đề cập niềm hy vọng ở nhiều dạng và nhiều tình huống. Ông Ê-li-phát, người Tê-man, nói lời động viên ông Gióp: “Người cứu kẻ yếu hèn khỏi lưỡi gươm, khỏi tay người quyền thế. Bấy giờ kẻ nghèo khó lại bừng lên niềm hy vọng, và phường tội lỗi chẳng còn dám hé môi” (G 5:15-16). Vâng, Thiên Chúa luôn tín thành và giàu lòng thương xót, nhất là đối với những người bé mọn: “Cây lau bị giập, Người không đành bẻ gãy, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi, cho đến khi Người đưa công lý đến toàn thắng, và muôn dân đặt niềm hy vọng nơi danh Người” (Mt 12:20-21).

Thánh Phaolô động viên: “Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện” (Rm 12:12). Niềm hy vọng kéo theo nhiều hệ lụy. Và Thánh Phaolô cầu chúc: “Xin Thiên Chúa là nguồn hy vọng, ban cho anh em được chan chứa niềm vui và bình an nhờ đức tin, để nhờ quyền năng của Thánh Thần, anh em được tràn trề hy vọng” (Rm 15:13). Ước gì mỗi chúng ta luôn sống được như vậy!

Liên quan niềm hy vọng, Thánh Phaolô “chuyển hệ” một chút: “Nếu anh em cho vay mà hy vọng đòi lại được thì còn gì là ân với nghĩa? Cả người tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi vay mượn để được trả lại sòng phẳng. Trái lại, anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả. Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác” (Lc 6:34-35). Loại hy vọng này khó lắm, khó vô cùng. Nhưng ai có niềm hy vọng này mới thực sự là thánh nhân!

Cuộc sống luôn có rất nhiều thứ khiến chúng ta nản chí, chùn bước. Tuy nhiên, dù thất vọng thì cũng đừng bao giờ tuyệt vọng (x. 2 Cr 4:8). Hy vọng, thất vọng, tuyệt vọng (vô vọng). Ba mức độ này chênh lệch nhau không nhiều. Có câu chuyện về bốn ngọn nến như thế này…

Trong một căn phòng, không gian tĩnh lặng tới mức người ta có thể nghe thấy tiếng thì thầm của những ngọn nến. Cây nến thứ nhất than vãn: “Tôi là biểu tượng của Thái Bình và Hoà Thuận. Thế nhưng thời nay, những cái đó thật chênh vênh, chông chênh. Thế giới hiếm khi không có gươm đao, súng đạn, tranh chấp, cãi cọ,… giữa người với người – thậm chí vợ chồng, anh em trong một nhà”. Thế rồi ngọn nến leo lét, ngọn lửa mờ dần, mờ dần,… cho tới khi ánh sáng lụi tắt hoàn toàn.

Ngọn nến thứ hai vừa lắc đầu vừa kể lể: “Tôi là Niềm Tin. Thế nhưng trong thế giới này hình như tôi trở nên thừa thãi, như một thứ xa xỉ. Biết bao kẻ sống theo thời không cần tới niềm tin”. Nói rồi ngọn nến từ từ tắt, tỏa ra một làn khói trắng luyến tiếc.

Ngọn nến thứ ba than phiền: “Ta là Tình Yêu, nhưng ta không còn đủ sức để tỏa sáng nữa. Người ta gạt tôi ra một bên và không thèm hiểu giá trị của tôi. Cứ nhìn thế giới mà xem, không thiếu những kẻ quên luôn cả tình yêu đối với chính những người ruột thịt của mình”. Dứt lời, ngọn nến vụt tắt.

Căn phòng trở nên tối tăm. Chỉ còn một ngọn nến nằm ở góc xa vẫn tiếp tục phát ra ánh sáng, như ngôi sao đơn độc giữa đêm tối âm u. Bất chợt, một cô bé bước vào phòng. Thấy ba ngọn nến đã tắt, cô bé thốt lên: “Tại sao các bạn không cháy nữa? Cuộc sống này luôn cần các bạn. Hòa Bình, Niềm Tin, Tình Yêu phải luôn tỏa sáng chứ?”.

Cây nến thứ tư nãy giờ vẫn lặng lẽ cháy trong góc phòng khe khẽ đáp lời cô gái: “Đừng lo! Tôi là Hy Vọng. Nếu tôi còn cháy, mặc dù ngọn lửa rất mong manh, chúng ta vẫn có thể thắp sáng lại Hòa Bình, Niềm Tin và Tình Yêu”. Mắt cô bé sáng lên. Cô bé dùng cây nến Hy Vọng để thắp sáng lại các cây nến khác.

Niềm Hy Vọng rất quan trọng. Nếu trái tim luôn cháy lên “ngọn lửa hy vọng”, dù chỉ leo lét và âm ỉ, chúng ta sẽ tìm lại được những điều tốt đẹp khác cho cuộc sống: Tình yêu, niềm tin và bình an. Thánh Don Bosco chia sẻ kinh nghiệm: “Càng khốn khó thì càng phải tin cậy vào Thiên Chúa”.

Hy vọng là Đức Cậy. Đức Cậy liên quan Đức Tin, vì có tin tưởng thì mới trông cậy. Chúa Giêsu dạy chúng ta tin tưởng nơi Ngài: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài!”. Sau khi nhận hỉ tín làm Mẹ Thiên Chúa và đi thăm người Chị cũng vừa được hỉ tín làm mẹ của Gioan Tẩy Giả, Đức Maria đã xưng tụng Lòng Thương Xót của Thiên Chúa: “Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người” (Lc 1:50).

Tháng Mười Hai. Cuối năm. Nhưng là đầu năm Phụng vụ, Giáo hội cho chúng ta sống trong một khoảng thời gian Mùa Vọng để chuẩn bị đón mừng Con Thiên Chúa giáng sinh làm người, nhắc nhở chúng ta hướng vọng về Nước Trời, nơi không còn Đức Tin và Đức Cậy, chỉ còn Đức Mến và sự Bình An vĩnh viễn. Thánh Tiến sĩ Augustinô xác định: “Hồn con còn xao xuyến mãi cho tới khi nào được an nghỉ trong Thiên Chúa”.

Mùa Vọng là Mùa Hy Vọng – trông đợi và mong ước điều tốt lành nhất: Chúa Giêsu giáng sinh làm người. Đó là khởi đầu của sự bình an và niềm hy vọng: Ơn Cứu Độ.

Lạy Thiên Chúa, xin vì sự giáng sinh của Đấng Cứu Thế đem lại ƠN BÌNH AN và NIỀM HY VỌNG cho mọi người thành tâm thiện chí. Xin giúp chúng con biết kiến tạo hòa bình, bảo vệ công lý, và khơi nguồn hy vọng cho tha nhân. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Chia sẻ Bài này:
 

Related posts

 
 

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - ĐTC HUẤN TỪ GIÁNG SINH

 

  •  
    Tinh Cao  - Dec 23 at 8:27 AM
     
     

    ĐTC PHANXICÔ

     

    Lời Huấn Chúc Giáng Sinh Giáo Triều Roma

     

    Thứ Bảy 21/12/2019 ở Sảnh Đường Clementine

     

     

    "Và Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14)

     

     

     

    cần phải lên đường để tồn tại, cần phải thay đổi để trung thành...

    những gì chúng ta đang trải qua không phải chỉ là một kỷ nguyên của đổi thay mà là một thay đổi kỷ nguyên....

    Chúng ta thường tiến đến việc thay đổi như thể nó là vấn đề chỉ như việc mặc quần áo mới, nhưng chúng ta vẫn còn nguyên như trước đó...

    "nếu chúng ta muốn mọi sự vẫn cứ giống như thế thì hết mọi sự cần phải đổi thay"

     

    Pope Francis addresses members of the Roman Curia during the annual exchange of Christmas greetings

     

    Thế giới Kitô giáo không còn nữa - Christendom no longer exists!

    Ngày nay chúng ta không còn là những kẻ duy nhất tạo nên văn hóa nữa, và cũng chẳng còn là thành phần tiên phong hay những người được lắng nghe nhất nữa....

    Chúng ta không còn sống trong một thế giới Kitô giáo nữa, vì đức tin - đặc biệt là ở Âu Châu, nhưng cũng ở cả một phần lớn ở Tây phương - không còn là một giả định của đời sống xã hội nữa;

    thật vậy, đức tin thường bị loại trừ, chế nhạo, gạt bỏ và chê cười.

     

    Pope Francis gives his annual Christmas greeting to the Roman Curia Dec. 21, 2019. Credit: Daniel Ibanez/Vatican Pool.

     

    Giáo Triều Roma không phải là một cơ cấu tách biệt khỏi thực tại, cho dù cái nguy cơ này bao giờ cũng có đó.

    Trái lại, Giáo Triều Roma cần phải được nghĩ đến và cảm nghiệm theo khung cảnh của cuộc hành trình với con người nam nữ ngày nay và trước bối cảnh của chiều hướng thay đổi kỷ nguyên này.

    Giáo Triều Roma không phải là một dinh thự hay một tủ áo đầy những thứ y phục để thay mặc.

    Giáo Triều Roma là một cơ cấu sống động, và càng phải là như thế đến độ Giáo Triều Roma sống Phúc Âm một cách toàn vẹn.

     

     

    Anh chị em thân mến,

    ....

    Đối với Neumann thì thay đổi là hoán cải, nói cách khác, là biến đổi nội tâm [7]. Đời sống Kitô hữu là một cuộc hành trình, một cuộc hành hương. Lịch sử Thánh Kinh là một cuộc hành trình, liên tục được đánh dấu bằng những khởi điểm mới. Tổ Phụ Abraham cũng thế. Cả những người Galiêa cũng vậy, thành phần 2 ngàn năm trước đã bắt đầu theo Chúa Giêsu: "Khi họ đưa thuyền vào bờ, họ đã bỏ mọi sự mà theo Người" (Luca 5:11). Từ lúc ấy trở đi, lịch sử của dân Chúa - lịch sử của Giáo Hội - luôn được đánh dấu bằng những khởi điểm mới, những chuyển dịch và những đổi thay. Cuộc hành trình này, dĩ nhiên, không phải chỉ về lãnh vực địa dư, mà trên hết mang ý nghĩa biểu hiệu, ở chỗ, nó là một lời hiệu triệu hãy khám phá ra hướng động của tâm can, một hướng động có tính cách mâu thuẫn đó là tác động cần phải lên đường để tồn tại, cần phải thay đổi để trung thành [8].

    Tất cả những điều này đặc biệt quan trọng đối với thời đại của chúng ta, vì những gì chúng ta đang trải qua không phải chỉ là một kỷ nguyên của đổi thay mà là một thay đổi kỷ nguyênChúng ta đang sống vào thời điểm mà thay đổi không còn tính cách dọc theo hàng thẳng nữa mà là tính cách kỷ nguyên. Nó bao gồm những chiều kích nhanh chóng biển đổi các cách thức sống động của chúng ta, những cách thức liên hệ với nhau, những cách thức truyền đạt và suy nghĩ, những cách thức ra sao nơi mối liên hệ của các thế hệ, cũng như cách thức chúng ta hiểu biết và cảm nghiệm đức tin và khoa học ra sao. Chúng ta thường tiến đến việc thay đổi như thể nó là vấn đề chỉ như việc mặc quần áo mới, nhưng chúng ta vẫn còn nguyên như trước đó. Tôi nghĩ đến một lời phát biểu khó hiểu ở trong một cuốn tiểu thuyết của Ý nổi tiếng đó là "nếu chúng ta muốn mọi sự vẫn cứ giống như thế thì hết mọi sự cần phải đổi thay" (The Leopard by Giuseppe Tomasi di Lampedusa).

    Phương thức lành mạnh hơn đó là hãy đối diện với những vấn đề của thời đại và tiến đến với chúng bằng các nhân đức nhận thức, parrhesía and hypomoné. Theo chiều hướng này thì vấn đề thay đổi có một khía cạnh rất khác biệt, đó là từ một cái gì đó bên lề, ngẫu nhiên hay thuần bề ngoài, trở nên một cái gì đó nhân bản hơn và Kitô giáo hơn. Vấn đề thay đổi vẫn đang xẩy ra, thế nhưng được bắt đầu ở nơi con người ta là tâm điểm của nó: một việc hoán cải có tính cách nhân loại học [9]

    Chúng ta cần khởi động những tiến trình chứ không phải chỉ chiếm cứ lấy các nơi chốn: Thiên Chúa tỏ mình ra nơi mạc khải có tính cách lịch sử, trong giòng lịch sử. Thời gian là những gì khởi động các tiến trình còn nơi chốn lại làm cho các tiến trình này kết đặc lại. Thiên Chúa ở trong lịch sử, ở trong tiến trình. Chúng ta không được tập trung vào việc chiếm lấy các nơi chốn liên quan đến việc thực thi quyền lực, mà là vào việc bắt đầu các tiến trình lịch sử dài hạn. Chúng ta cần phải khởi động các tiến trình hơn là chiếm cứ các nơi chốn. Thiên Chúa đang tỏ mình ra trong thời gian và đang hiện diện trong các tiến trình của lịch sử. Tiến trình này đặt ưu tiên cho những hoạt động phát sinh ra những gì là năng động mới về lịch sử. Nó đòi phải nhẫn nại, đợi chờ [10]. Theo đó, chúng ta được thôi thúc lưu ý tới những dấu chỉ thời đại bằng con mắt đức tin, nhờ đó hướng đi của việc thay đổi này cần phải "gợi lên những vấn đề cũ mới mà chúng ta cần phải đối diện" [11].

    Trong việc bàn luận về một sự đổi thay chính yếu được đặt nền tảng trên lòng trung thành với kho tàng đức tin và Truyền Thống, hôm nay tôi muốn nói một lần nữa về việc áp dụng vấn đề canh tân của Giáo Triều Roma và tái khẳng định là việc canh tân này không bao giờ tác hành như thể chưa từng có gì trước đó. Trái lại, vẫn nỗ lực thăng hoa các yếu tố tốt đẹp xuất phát từ lịch sử phức tạp của Giáo Triều Roma. Cần phải tôn trọng lịch sử để xây dựng một tương lai có được những gốc rễ vững chắc, nhờ đó có thể thấy được hoa trái của nó. Việc dựa vào ký ức không phải đồng nghĩa với việc cắm neo khư khư nắm giữ bản thân mình, mà trái lại làm khơi động sự sống và tính chất sống động của một tiến trình liên tục. Ký ức không phải là những gì bất động mà là năng động. Chính bản chất của mình, nó bao gồm cả việc chuyển động nữa. Truyền thống không phải là những gì bất động; nó cũng năng động nữa, như vĩ nhân [Gustav Mahler] thường nói: truyền thống là một thứ bảo toàn cho tương lai chứ không phải là một thứ hộp đựng tro tàn.

    Anh chị em thân mến,

    Trong các cuộc họp Giáng Sinh trước đây, tôi đã nói về các tiêu chuẩn tác động đến công việc canh tân này... Năm 2017, tôi đã nhấn mạnh đến một số yếu tố mới trong việc tổ chức Giáo Triều Roma...

    Trong cuộc gặp gỡ hôm nay, tôi muốn chia sẻ về các Phân Bộ khác, bắt đầu từ tâm điểm của việc canh tân, đó là việc truyền bá phúc âm hóa, bởi đó là công việc tiên khởi và quan trọng nhất của Giáo Hội. Như Thánh Phaolô VI đã nói: "Việc truyền bá phúc âm hóa thực sự là ân sủng và là ơn gọi xứng hợp với Giáo Hội, với căn tính sâu xa nhất của Giáo Hội. Giáo Hội hiện hữu là để truyền bá phúc âm hóa" [13] Cả cho đến hôm nay, Tông Huấn Evengelii Nuntiandi vẫn tiếp tục là văn kiện mục vụ quan trọng nhất cho thời hậu công đồng. Thật vậy, đích nhắm của việc canh tân hiện nay đó là "những tập tục của Giáo Hội, những đường lối hành sự, các thời điểm và các chương trình, ngôn từ và các cấu trúc cần phải làm sao để có thể chuyên chở việc truyền bá phúc âm hóa cho thế giới ngày nay, hơn là cho việc Giáo Hội tự bảo tồn lấy mình. Việc canh tân các cấu trúc cần đến việc cải thiện về mục vụ chỉ có thể hiểu được theo ý nghĩa ấy: nó như là yếu tố của một nỗ lực làm cho chúng theo chiều hướng truyền giáo hơn nữa" (Evangelii Gaudium, 27). Bởi thế, được tác động bởi huấn quyền của các Vị Thừa Kế Thánh Phêrô từ thời Công Đồng Chung Vaticanô II cho đến nay, danh xưng Praedicate Evangelium - Rao Giảng Phúc Âm đã được chọn cho Tông Hiến mới đang được soạn dọn về việc canh tân Giáo Triều Roma. Một viễn ảnh truyền giáo.

    Thế nên, hôm nay tôi muốn nói tới một số Phân bộ của Giáo Triều Roma mang danh xưng hiển nhiên cho thấy vấn đề canh tân này, đó là Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin và Thánh Bộ Truyền Bá Phúc Âm Hóa Các Dân Tộc. Tôi cũng nghĩ đến Phân bộ Truyền Thông và Phân Bộ Cổ Võ Phát Triển Con Người Toàn Diện.

    Hai Thánh Bộ được đề cập đến đầu tiên đã được thiết lập trong một thời đại khi còn dễ dàng phân biệt hai thực tại được phân định rõ ràng này: một thế giới Kitô giáo và một thế giới chưa được truyền bá phúc âm hóa. Tình trạng này ngày nay không còn nữa. Thành phần chưa lãnh nhận sứ điệp Phúc Âm không chỉ sống ở những châu lục ngoài Tây phương; họ sống ở khắp nơi, nhất là tập trung ở những thành thị rộng lớn cần đến một cuộc dấn thân đặc biệt về mục vụ. Ở những thành phố lớn, chúng ta cần "những tấm bản đồ" khác, đến những kiểu mẫu khác, có thể giúp chúng ta tái định vị cách thức suy nghĩ của chúng ta cùng với các thái độ của chúng ta. Thưa anh chị em, Thế giới Kitô giáo không còn nữa - Christendom no longer exists! Ngày nay chúng ta không còn là những kẻ duy nhất tạo nên văn hóa nữa, và cũng chẳng còn là thành phần tiên phong hay những người được lắng nghe nhất nữa [14]. Chúng ta cần thay đổi cái não trạng mục vụ của chúng ta, một thứ não trạng không có ý tiến đến một thứ chăm sóc mục vụ tương đối. Chúng ta không còn sống trong một thế giới Kitô giáo nữa, vì đức tin - đặc biệt là ở Âu Châu, nhưng cũng ở cả một phần lớn ở Tây phương - không còn là một giả định của đời sống xã hội nữa; thật vậy, đức tin thường bị loại trừ, chế nhạo, gạt bỏ và chê cười.

    Điều này đã được Dức Biển Đức XVI làm sáng tỏ khi ngài tuyên bố năm 2012 là Năm Đức Tin: "Trong quá khứ có thể nhận thấy một thứ liên kết về văn hóa một cách chặt chẽ, mối liên kết được rộng rãi chấp nhận nơi lời kêu gọi của nó đối với nội dung của đức tin cũng như đối với các thứ giá trị theo chiều hướng đức tin, tuy nhiên ngày nay điều ấy không còn nữa nơi đại đa số xã hội, vì một cuộc khủng hoảng đức tin sâu xa đã ảnh hưởng đến nhiều người" [15] Điều ấy cũng dẫn tới việc thiết lập vào năm 2010 Hội Đồng Cổ Võ Tân Truyền Bá Phúc Âm Hóa để phát động "một cuộc truyền bá phúc âm hóa mới lại ở nơi những xứ sở đầu tiên được loan truyền đức tin đã từng vang bóng và ở những nơi các Giáo Hội có nền tảng cổ kính hiện hữu, thế nhưng lại đang trải qua một cuộc tục hóa xã hội càng gia tăng và một thứ 'nhật thực cảm thức về Thiên Chúa', một tình trạng trở thành một thách đố cho việc tìm kiếm phương tiện thích đáng để nêu lên một cách mới mẻ sự thật nguyên tuyền của Phúc Âm Chúa Kitô" [16].... Đó là thế giới của chúng ta ngày nay.

    Việc hiện thực hóa sự thay đổi kỷ nguyên đang khơi lên những vấn đề hệ trọng về căn tính đức tin của chúng ta, đã không đùng một cái xuất hiện đâu [17]. Nó khơi lên từ ngữ "tân truyền bá phúc âm hóa", một từ ngữ bấy giờ được sử dụng bởi Thánh Gioan Phaolô II, vị đã viết trong Thông Điệp Redemptoris Missio - Sứ Vụ của Đấng Cứu Chuộc ": "Ngày nay Giáo Hội cần phải đối diện với những thách đố khác, và xông pha tới những biên cương bờ cõi mới, cả ở việc truyền giáo ban đầu cho muôn dân, lẫn ở việc truyền bá phúc âm hóa mới cho những thành phần đã nghe rao giảng về Chúa Kitô" (Khoản 30). Điều cần ở đây đó là một việc truyền bá phúc âm hóa mới hay là một việc tái phúc âm hóa (xem khoản 33).

    Tất cả những điều ấy cần bao gồm những thay đổi và việc chuyển hướng những gì cần phải tập trung, cả ở bên trong những Phân Bộ được đề cập đến trên đây cũng như ở bên trong Giáo Triều Roma nói chung [18].

    Tôi cũng muốn nói thêm về Phân Bộ Truyền Thông mới được thiết lập.... Phân Bộ Truyền Thông được trao cho trách vụ liên hợp thành một cơ cấu mới 9 bộ phận trước đây đã từng liên quan đến vấn đề truyền thông một cách khác nhau và bằng những việc làm khác nhau. Những bộ phận này là Hội Đồng Truyền Thông Xã Hội, Văn Phòng Báo Chí Tòa Thánh, Nhà In Vatican, Nhà Phát Hành Vatican, tờ L’Osservatore Romano, Đài Phát Thanh Vatican, Trung Tâm Truyền Hình Vatican, Dịch Vụ Điện Toán Toàn Cầu Vatican và Dịch Vụ Hình Ảnh. Như tôi đã nói, việc thống nhất này không chỉ để cho việc phối hợp được tốt đẹp hơn, mà còn cho có được một tái dạng thức về những bộ phận khác nhau, hầu có thể cống hiến được một sản phẩm tốt đẹp hơn, cùng giữ cho việc thu thập và phổ biến được nhất trí.

    Nhiều điều về những gì tôi đang nói đây cũng có thể áp dụng vào Phân bộ Cổ Võ Việc Phát Triển Con Người Toàn Diện. Phân bộ này cũng mới được thiết lập để đáp ứng những thay đổi đã xẩy ra ở cấp toàn cầu, và hợp nhất 4 Hội Đồng Tòa Thánh trước đó là những Hội Đồng Công Lý và Hòa Bình, Hội Đồng Cor Unum, và Hội Đồng chăm sóc mục vụ cho những Người Di Dân và các Nhân Viên Chăm Sóc Sức Khỏe... Tôi muốn nhắc lại vấn đề phát triển cần phải toàn vẹn quan trọng biết bao. Thánh Phaolô VI đã nhận định rằng "để trở nên chân thực, thì việc phát triển cần phải có tính chất toàn diện; nó cần phải phát động việc phát triển hết mọi con người và toàn thể con người" (Populorum Progressio, 14).

    Đến đây, cần phải thận trọng về khuynh hướng nghiêm ngặt. Tính chất nghiêm ngặt xuất phát từ nỗi sợ thay đổi, một nỗi sợ cuối cùng tiến đến chỗ dựng lên các hàng rào và chướng vật về lãnh vực công ích, biến nó thành một bãi mìn của những gì là bất khả thông và hận thù ghen ghét. Chúng ta hãy luôn nhớ rằng ở đằng sau hết mọi hình thức nghiêm ngặt đều chất chứa một thứ bất cân bằng. Tính chất nghiêm ngặt và mất cân bằng quyện vào nhau một cách tệ hại. Ngày nay khuynh hướng nghiêm ngặt này đã trở nên rất thực hữu.

    Anh chị em thân mến,

    Giáo Triều Roma không phải là một cơ cấu tách biệt khỏi thực tại, cho dù cái nguy cơ này bao giờ cũng có đó. Trái lại, Giáo Triều Roma cần phải được nghĩ đến và cảm nghiệm theo khung cảnh của cuộc hành trình với con người nam nữ ngày nay và trước bối cảnh của chiều hướng thay đổi kỷ nguyên này. Giáo Triều Roma không phải là một dinh thự hay một tủ áo đầy những thứ y phục để thay mặc. Giáo Triều Roma là một cơ cấu sống động, và càng phải là như thế đến độ Giáo Triều Roma sống Phúc Âm một cách toàn vẹn.

    Đức Hồng Y Martini, trong cuộc phỏng vấn cuối cùng của mình, mấy ngày trước khi ngài qua đời, đã nói một điều khiến chúng ta phải suy nghĩ: "Giáo Hội ở sau thời gian cả 200 năm. Tại sao Giáo Hội không bừng tỉnh chứ? Có phải vì sợ hãi? Sợ hãi thay vì can trường? Tuy nhiên đức tin là nền tảng của Giáo Hội. Đức tin, cậy trông, can trường... Chỉ có tình yêu mới thắng được những gì là mệt mỏi" [20].

    Giáng Sinh là lễ về tình Chúa yêu thương chúng ta. Tình yêu thần linh này là những gì tác động, hướng dẫn và điều chỉnh sự đổi thay, và thắng vượt nỗi sợ hãi của loài người trong việc bỏ lại sau lưng "cái an toàn" để một lần nữa gắn bó với "mầu nhiệm" này.

    Chúc tất cả mọi người một Giáng Sinh hạnh phúc!

    * * * * *

    Để sửa soạn cho Giáng Sinh, chúng ta đã nghe những bài giảng về Mẹ Thiên Chúa Thánh Mẫu. Chúng ta hãy hướng về Mẹ trước khi lĩnh phép lành. [Kính Mừng Maria... và ĐTC ban phép lành]

    Giờ đây tôi muốn tặng anh chị em một món quà nhỏ là 2 cuốn sáchMón quà thứ nhất là "văn kiện" mà tôi muốn phát hành cho Tháng Truyền Giáo Ngoại Lệ (10/2019), và tôi đã thực hiện bằng hình thức của một cuộc phỏng vấn; Senza di Lui non possiano fare nulla - Không có Người chúng ta chẳng làm gì đượcTôi được hứng khởi bởi một câu nói tôi không biết bởi ai, đó là khi các nhà thừa sai đến một nơi nào đó thì Thánh Linh đã ở đó rồi và đang chờ đợi họ. Đó là nguồn hứng cho văn kiện ấy. Món quà thứ hai là một cuộc tĩnh tâm cho các vị linh mục mới đây của Cha Luigi Maria Epicoco, Qualcuno a cui guardare – Ai đó chúng ta có thể ngắm nhìnTôi tặng anh chị em những món quà này để chúng có thể giúp ích cho toàn thể cộng đồng. Xin cám ơn anh chị em.

    http://w2.vatican.va/content/francesco/en/speeches/2019/december/documents/papa-francesco_20191221_curia-romana.html

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

     

    [7] Newman describes it like this: “I was not conscious to myself, on my conversion, of any change, intellectual or moral, wrought in my mind... it was like coming into port after a rough sea; and my happiness on that score remains to this day without interruption” (Apologia Pro Vita Sua, 1865, Chapter 5, 238.  Cf. J. HONORÉ, Gli aforismi di Newman, LEV, 2010, 167).

    [8] Cf. J. M. BERGOGLIO, “Lenten Message to Priests and Religious”, 21 February 2007, in In Your Eyes I See my Words: Homilies and Speeches from Buenos Aires, Volume 2: 2005-2008, Fordham University Press, 2020.

    [9] Cf. Apostolic Constitution Veritatis Gaudium (27 December 2017), 3: “In a word, this calls for changing the models of global development and redefining our notion of progress.  Yet the problem is that we still lack the culture necessary to confront this crisis. We lack leadership capable of striking out on new paths”.

    [10] Interview given to Father Antonio Spadaro, Civiltà Cattolica, 19 September 2013, p. 468.

    [11] Schreiben an das Pilgernde Volk Gottes in Deutschland, 29 June 2019.

    [13] Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 14.  Saint John Paul II wrote that missionary evangelization “is the primary service which the Church can render to every individual and to all humanity in the modern world, a world which has experienced marvellous achievements but which seems to have lost its sense of ultimate realities and of existence itself” (Encyclical Letter Redemptoris Missio, 7 December 1990, 2).

    [14] Cf. Address to Participants at the International Pastoral Congress on the World’s Big Cities, Consistory Hall, 27 November 2014.

    [15] Motu Proprio Porta Fidei, 2.

    [16] Benedict XVI, Homily, 28 June 2010; cf. Motu Proprio Ubicumque et Semper, 17 October 2010.

    [17] An epochal change was noted in France by Cardinal Suhard (we can think of his pastoral letter Essor ou déclin de l’Église, 1947) and by the then-Archbishop of Milan, Giovanni Battista Montini.  The latter also questioned whether Italy was still a Catholic country (cf. Opening Address at the VIII National Week of Pastoral Updating, 22 September 1958, in Discorsi e Scritti milanesi 1954-1963, vol. II, Brescia-Roma 1997, 2328).

    [18] Saint Paul VI, some fifty years ago, when presenting the new Roman Missal to the faithful, recalled the correspondence between the law of prayer (lex orandi) and the law of faith (lex credendi), and described the Missal as “a demonstration of fidelity and vitality”.  He concluded by saying: “So let us not speak of a ‘new Mass’, but rather of ‘a new age in the life of the Church’” (General Audience, 19 November 1969).  Analogously, we might also say in this case: not a new Roman Curia, but rather a new age.

    [20] Interview with Georg Sporschill, S.J. and Federica Radice Fossati Confalonieri: Corriere della Sera, 1 September 2012.

     

     

     

 

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - ĐÓN MỪNG GIÁNG SINH

  •  
    Tinh Cao - Dec 18 at 4:34 PM
     
     

    ĐTC Phanxicô

     

    Đón Mừng Giáng Sinh bằng việc Trưng Bày Máng Cỏ

     

     

    1576661659437.JPG

     

    "Tôi đang dọn mình cho việc hạ giáng của Đấng đang được mừng kỷ niệm này ra sao?"

    Một cách thức giản dị nhưng hiệu nghiệm để dọn mình đó là trưng bày Máng Cỏ

     

    Pope Francis incenses the nativity scene in St. Peter's Basilica Dec. 24, 2017. Credit: Vatican Media.

     

    Cảnh Tượng ấy nhắc nhở chúng ta về một điều thiết yếu, đó là Thiên Chúa đã không ẩn thân vô hình ở Trên Trời,

    mà là Ngài đã xuống trần gian này, đã làm ngưòi, là một hài nhi.

    Việc trưng bày Máng Cỏ là việc cử hành sự kiện cận kề của Thiên Chúa

     

     

    Máng Cỏ nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Giêsu đi vào cuộc sống cụ thể của chúng ta. Và đó là điều quan trọng.

    Hãy luôn trưng bày một Máng Cỏ ở nhà,

    vì nó nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Chúa đã đến với chúng ta, đã được sinh ra từ chúng ta,

    đang đồng hành với chúng ta trong đời, là một con người như chúng ta, Đấng biến Mình thành người như chúng ta.

     

     

     

     

    Xin chào anh chị em thân mến,

     

    Một tuần nữa sẽ đến lễ Giáng Sinh. Trong những ngày này, trong khi chúng ta mau lẹ thực hiện việc sửa soạn đón mừng lễ này, chúng ta có thể tự vấn xem: "Tôi đang dọn mình cho việc hạ giáng của Đấng đang được mừng kỷ niệm này ra sao?" Một cách thức giản dị nhưng hiệu nghiệm để dọn mình đó là trưng bày Máng Cỏ. Năm nay tôi cũng đã theo cách thức ấy: tôi đã đến Grecco, nơi Thánh Phanxicô đã thực hiện một Cảnh Tượng Giáng Sinh (the Nativity Scene) đầu tiên với dân chúng ở đó. Và tôi đã viết một Bức Thư nhắc lại ý nghĩa của truyền thống này, về ý nghĩa của Cảnh Tượng Giáng Sinh trong Mùa Giáng Sinh.

     

    Thật vậy, "Cảnh Tượng Giáng Sinh giống như là một Phúc Âm sống động" (Apostolic Letter Admirabile Signum, 1). Cảnh Tượng này đưa Phúc Âm vào những nơi chốn chúng ta sống: ở nhà, trong trường học, nơi sở làm, ở các chốn hội họp, trong các bệnh viện và các nhà điều dưỡng, trong nhà tù và ở các Công Trường. Ở đó, nơi chúng ta đang sống, Cảnh Tượng ấy nhắc nhở chúng ta về một điều thiết yếu, đó là Thiên Chúa đã không ẩn thân vô hình ở Trên Trờimà là Ngài đã xuống trần gian này, đã làm ngưòi, là một hài nhi. Việc trưng bày Máng Cỏ là việc cử hành sự kiện cận kề của Thiên Chúa. Thiên Chúa bao giờ cũng gần gũi với dân của Ngài, thế nhưng khi Ngài nhập thể và được hạ sinh thì Ngài đã trở nên rất gần gũi, quá ư là cận kề. Việc trưng bày Máng Cỏ là việc cử hành sự kiện gần gũi của Thiên Chúa; đó là tái nhận thức rằng Thiên Chúa là Đấng thực hữu, cụ thể, sống động và rung động. Ngài không phải là vị chúa xa cách hay là một vị quan tòa tách biệt, mà là Tình Yêu khiêm hạ, Đấng đã xuống với chúng ta. Con Trẻ trong Máng Cỏ truyền đạt cho chúng ta nỗi êm ái dịu hiền của Ngài. Một số bức tượng nhỏ cho thấy Hài Nhi Giêsu hai cánh tay của Người ra, để nói với chúng ta rằng Thiên Chúa đã đến để ôm lấy nhân loại chúng ta. Bởi vậy, thật là tuyệt vời khi ở trước Máng Cỏ, và ký thác cuộc đời của chúng ta cho Vị Chúa ở đó, để nói với Người về những con người và những hoàn cảnh chúng ta đang ấp ủ trong lòng, cùng Người thẩm định một năm đang kết thúc, chia sẻ với Người về những niềm mong đợi cùng các mối quan tâm của chúng ta.

    Bên cạnh Chúa Giêsu chúng ta còn thấy cả Đức Mẹ và Thánh Giuse nữa. Chúng ta có thể tượng tượng thấy những ý nghĩ và tình cảm các vị có được khi Hài Nhi này được hạ sinh trong bần cùng khốn khó: chẳng những là niềm hân hoan mà còn với cả nỗi cám cảnh nữa. Chúng ta cũng có thể mời Thánh Gia đến nhà của chúng ta, nơi có cả niềm vui mừng lẫn nỗi lo toan, nơi chúng ta thức giấc hằng ngày, ăn uống và gần gũi với những người thân yêu nhất của chúng ta. Máng Cỏ là một thứ Phúc Âm tại gia. Chữ Crib theo nghĩa đen là "Máng Cỏ", trong khi thành phố của Máng Cỏ này là Bêlem, nghĩa là "ngôi nhà bánh". Máng Cỏ và ngôi nhà bánh: Máng Cỏ chúng ta trưng bày ở nhà, nơi chúng ta chia sẻ lương thực và cảm tình, nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Giêsu là một thứ lương thực thiết yếu, là bánh sự sống (cf Gioan 6:34). Chính Người là Đấng nuôi dưỡng tình yêu của chúng ta; chính Người là Đấng ban cho gia đình của chúng ta sức mạnh để tiến lên và để tha thứ cho nhau.

    Máng Cỏ cống hiến cho chúng ta một giáo huấn sự sống khác. Có những lúc theo nhịp điệu cuồng loạn ngày nay thì nó là một lời mời gọi chiêm niệm. Nó nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng cần phải dừng nghỉ, vì chỉ khi nào chúng ta có thể phản tỉnh về bản thân mình chúng ta mới có thể lãnh nhận những gì đáng kể trong cuộc sống. Chỉ khi nào chúng ta loại ra khỏi nhà của chúng ta cái ồn ào huyên náo của thế giới này chúng ta mới có thể mở lòng mình ra lắng nghe Thiên Chúa, Đấng nói năng trong thinh lặng. Máng Cỏ là những gì thích hợp; nó là những gì hiện thực của hết mọi gia đình. Hôm qua tôi được tặng cho một tấm ảnh nhỏ về một Máng Cỏ be bé đặc biệt, được gọi là: "Hãy để cho mẹ nghỉ ngơi". Đức Mẹ ở đó thiếp ngủ, và Thánh Giuse ở đó với Hài Nhi Giêsu, ru Người ngủ. Biết bao nhiêu người trong anh chị em cần phải chia nhau ban đêm, giữa vợ chồng, để giỗ bé thơ nhi trai hay thơ nhi gái cứ khóc với khóc. "Hãy để cho mẹ nghỉ ngơi" là niềm êm ái dịu dàng của gia đình, là niềm êm ái dịu dàng của hôn nhân.

    Máng Cỏ lại càng thích hợp hơn bao giờ hết, khi mà hằng ngày có quá nhiều loại vũ khí được sản xuất ra trên thế giới này, và có thật nhiều hình ảnh bạo động, những hình ảnh lọt vào mắt và vào tâm canTrái lại, Máng Cỏ là một hình ảnh tiểu công nghệ về hòa bình. Bởi thế nên nó là một cuốn Phúc Âm sống động.

    Anh chị em thân mến, chúng ta có thể rút tỉa từ Máng Cỏ một bài học tốt đẹp về ý nghĩa của chính đời sống. Chúng ta thấy các cảnh tượng hằng ngày, như những người mục tử chăn chiên, các người thợ rèn nện sắt, những nhân viên cối xay làm bánh; đôi khi các phong cảnh và tình trạng của lãnh địa chúng ta được xen vào. Đúng thế, vì Máng Cỏ nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Giêsu đi vào cuộc sống cụ thể của chúng ta. Và đó là điều quan trọng. Hãy luôn trưng bày một Máng Cỏ ở nhà, vì nó nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Chúa đã đến với chúng ta, đã được sinh ra từ chúng ta, đang đồng hành với chúng ta trong đời, là một con người như chúng ta, Đấng biến Mình thành người như chúng ta.

    Chúng ta không còn lẻ loi một mình trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta nữa. Người ở với chúng ta. Người không thay đổi các sự việc một cách ma thuật, thế nhưng, nếu chúng ta lãnh nhận Người thì hết mọi sự đều có thể đổi thay. Thế nên tôi hy vọng rằng, khi trưng bày Máng Cỏ, là một cơ hội để anh chị em mời Chúa Giêsu vào đời sống của anh chị emKhi chúng ta trưng bày Máng Cỏ ở nhà của mình, thì chúng ta như thể mở cửa ra mà nói rằng: "Giêsu ơi, xin mời Chúa vào!" để làm nên sự gần gũi này, lời mời mọc Chúa Giêsu này là những gì cụ thể, nhờ đó Người sẽ đi vào đời sống của chúng ta, vì nếu Người cư ngụ trong cuộc sống của chúng ta thì cuộc sống của chúng ta được tái sinh. Và nếu đời sống của chúng ta được tái sinh thì mới thực sự là Giáng Sinh. Chúc mừng Giáng Sinh cho tất cả anh chị em!

     

    https://zenit.org/articles/general-audience-in-a-week-it-will-be-christmas-ask-how-have-i-prepared-for-his-birth/

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu