7. Đời Sống Mới Trong Thần Khí

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - LINH MỤC ĐẶC BIỆT

 

  •  
    San Nguyen
    Nov 27 at 8:53 PM
     
     

     

    VỊ LINH MỤC VIỆT NAM RẤT ĐẶC BIỆT VÌ 

    CÓ CHA THUỘC ĐẠO CAO ĐÀI VÀ 

    CÓ MẸ THUỘC ĐẠO PHẬT

     
    Image may contain: 1 person, smiling, text

    Lm Jos Trần Chính Trực

    Nhất gia tam Đạo. Tam nhân tam Tôn. Một gia đình ba Tôn giáo. Ba con người ba Tôn giáo.
     

    Chuyện lạ không tưởng này đã xảy ra trong gia đình cha Phêrô Giuse Maria HÀ THIÊN TRÚC, đương kim Chánh xứ Martinô thuộc Tổng Giáo phận Sài Gòn.

    Quả vậy, cha Trúc đã xuất thân trong một gia đình có thân phụ là một tín đồ thuộc Đạo Cao Đài và thân mẫu thuộc Đạo Phật.

    Ngài nguyên là một bác sĩ y khoa có tâm và kiêm là một ca sĩ hát rất tâm tình.

    Cha ngài vì muốn ngài trưởng thành về tâm linh và vững mạnh về kiến thức nên đã đặt tên ngài là Thiên Trúc, tên cũ của Ấn Độ, một quốc gia Phật Giáo.

    Cả ông cố và bà cố đều tôn trọng niềm tin của nhau, cùng sùng Đạo của riêng mình và đã tôn trọng sự chọn lựa tâm linh của các con, và đã chấp nhận cho con trai mình là Hà Thiên Trúc được lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội để gia nhập Giáo Hội Công Giáo.

    Cha Trúc đã từng sống bên những người Công giáo đạo đức thánh thiện, đã được nghe biết về Chúa Giêsu cách sâu xa ấn tượng thuyết phục.

    Chính vì thế mà cha Trúc đã gia nhập Đạo Công giáo vào năm 19 tuổi với sự chấp thuận, tôn trọng và ủng hộ rất vô tư của cả cha lẫn mẹ.

    Ngài được Rửa tội ở Giáo xứ Tân Định, Sài Gòn năm 1989 và được gia nhập vào Giáo xứ này.

    Không dừng lại ở đó, cha còn say mê Đạo Công Công giáo đến nỗi đã muốn trở thành một Linh mục để đem ơn cứu độ cho nhân thế.

    Cha đã được cha sở Gioan Baotixita Võ Văn Ánh giới thiệu vào Đại Chủng viện dưới sự dìu dắt tận tình vô tư trước đó của cha nghĩa phụ Giuse Maria Đỗ Duy Lạn.

    Chính cha Lạn đã khuyến khích, đã nâng đỡ, đã hướng dẫn bác sĩ Hà Thiên Trúc trong những bước đầu của ơn gọi linh mục.

    Và cuối cùng cha đã được truyền chức Linh mục.

    Vậy là cha Trúc tuy đang có một tương lai sán lạn cho mình, và cũng đang phục vụ, mang lại an ủi cho nhiều bệnh nhân, nhưng đã chọn đi tu trở thành linh mục, và có lẽ đã làm nhiều người thắc mắc, khó hiểu.

    Vậy là bác sĩ Trúc từ việc chữa lành thể xác con người cách chóng qua lại trở nên “bác sĩ” chữa lành tâm linh con người cách Vĩnh cửu.

    Khẩu hiệu đời linh mục mà cha đã chọn chính là những câu ca ngợi Thiên Chúa của Đức Mẹ là: “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa » (Lc 1,46).

    Sở dĩ cha Trúc có đến 3 tên Thánh vì cha rất yêu thích Thánh Phêrô, rất sùng kính Đức Mẹ và tri ân cha nghĩa phụ Giuse Maria Đỗ Duy Lạn nên đã chọn tên Thánh Giuse để tưởng nhớ cha cố.

    Cha đã thành tâm tìm hiểu Đạo Công giáo và đã khiến cha hết sức thán phục và quyết định gia nhập Đạo.

    Cha Trúc khi còn là một Chủng sinh đã từng tâm sự như sau:

    “Ba con rất sùng đạo Cao Đài, ăn chay trường, đạo đức, có ước muốn con cái giúp ích cho đời (như: đặt tên chị con là “Thanh Tuyền” với ước mong phục vụ vô vị lợi cho đời như “giòng suối trong” chảy hoài không ngưng nghỉ, và hiện chị con là bác sĩ đang giúp ích rất nhiều cho các bệnh nhân và cho xã hội trong lãnh vực ngoại thần kinh và chẩn đoán hình ảnh).

    “Và ba con cũng đã giác ngộ trên đường Đạo nên có ước mong các con cái sẽ được thăng tiến trong đời sống tâm linh (như đặt tên con là “Thiên Trúc”, tên cũ của Nước Ấn Độ – cái nôi của Phật giáo).

    “Má con cũng là người sùng đạo Phật, đã dẫn các con cái quy y Phật. Má cũng thường đi học và nghe thuyết pháp về Phật giáo vào các chiều chủ nhật hàng tuần ở chùa Xá Lợi. Bản thân con cũng được má con dẫn quy y Phật vào năm học lớp 6, pháp danh “Thiện Tuấn”.
    “Ba má con rất quan tâm, chăm sóc, giáo dục nhiều cho các con cái về tri thức và đạo đức.”

    Cha Trúc chính là chứng nhân cho câu Kinh Thánh: “”Quả thật, tôi nghiệm biết rằng Thiên Chúa không thiên tư tây vị, nhưng ở bất cứ xứ nào, ai kính sợ Người và thực hành sự công chính, đều được Người đón nhận!” (Cv 10, 34-35).

    Hồng ân Chúa vẫn ngày ngày tuôn đổ như nắng như mưa xuống trần gian không phân biệt.

    Bất cứ ai thành tâm thiện chí mở rộng tâm hồn, thì sẽ được đón nhận dồi dào ơn Chúa.

    Chúng ta cùng nhau cúi đầu tạ ơn Chúa, chúc mừng cha, cầu cho cha Thiên Trúc và chúng ta ngày càng gần trái tim Chúa hơn. Amen.

    Nguồn: Giuse Kích

     

 

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ -BÀI NÓI CHUYỆN CỦA ĐTC

Video: Bài giảng của ĐTC tại Tokyo Dome – Vẻ vang dân ta, Thánh Ca Việt được hát trong thánh lễ
 
Thế Giới Nhìn Từ Vatican
25/Nov/2019
 
Đức Thánh Cha đã dâng thánh lễ tại sân vận động Tokyo Dome vào lúc 16g chiều thứ Hai 25 tháng 11 tại Tokyo Dome.

Sân vận động Tokyo Dome được xây dựng tại quận Bunkyo của Tokyo. Việc xây dựng sân vận động bắt đầu vào ngày 16 tháng 5 năm 1985 và được khánh thành vào ngày 17 tháng 3 năm 1988. Sân vận động này có sức chứa tối đa là 57,000 người, với 42,000 chỗ ngồi.

Tokyo Dome có biệt danh là “The Big Egg” vì nhìn xa nó giống một quả trứng khổng lồ.

Như chúng tôi đã có lần thưa với quý vị và anh chị em, Giáo Hội Nhật có 3 tổng giáo phận và 13 giáo phận. Tổng giáo phận Tokyo được kể là lớn nhất với 96,811 người Công Giáo trong tổng số 37 triệu dân. Tức là chiếm 0.25% dân số. Tổng giáo phận có 334 linh mục, 340 nam tu sĩ không có chức linh mục và 1,320 nữ tu. Anh chị em giáo dân sinh hoạt trong 75 giáo xứ. Hiện nay, tổng giáo phận được lãnh đạo bởi Đức Tổng Giám Mục Tarcisius Isao Kikuchi, 61 tuổi.

Trước chuyến tông du của Đức Thánh Cha, Đức Tổng Giám Mục Tarcisius Isao Kikuchi đưa ra một nhận xét khá bi quan rằng việc truyền giáo tại Nhật khó lòng có thể có những kết quả tỏ tường. Trước đây, việc dạy tiếng Anh là một trong những thế mạnh của các nhà truyền giáo và có khả năng tạo ra các điều kiện truyền giáo thuận lợi. Ngày nay, lợi thế đó không còn nữa vì tiếng Anh được dạy rộng rãi trong các trường học, ngay từ bậc tiểu học.

Thánh lễ này có thể coi là một dấu chỉ tỏ tường cho thấy sự lớn mạnh của cộng đoàn Công Giáo Việt Nam tại Nhật Bản. Người Công Giáo Việt Nam hiện diện rất đông trong thánh lễ. Một trong những ý nguyện được đọc bằng tiếng Việt và trong phần hiệp lễ một bài thánh ca Việt Nam đã được hát lên.

Trong bài giảng, Đức Thánh Cha nói:

Phúc Âm chúng ta vừa nghe là một phần trong bài giảng quan trọng đầu tiên của Chúa Giêsu. Chúng ta thường gọi đó là Bài giảng trên Núi, và bài giảng ấy mô tả cho chúng ta vẻ đẹp của con đường chúng ta được mời gọi dõi theo. Trong Kinh thánh, ngọn núi thường là nơi Thiên Chúa hiện ra và mạc khải về Ngài. “Hãy đến đây với Ta”, Chúa nói với ông Môisê (x. Xh 24: 1). Đó là một ngọn núi mà ta không thể đạt đến đỉnh bằng sức mạnh ý chí hay bậc thang công danh trong xã hội, nhưng phải bằng cách chăm chú, kiên nhẫn và nhạy cảm lắng nghe Thầy ở mỗi ngã rẽ của cuộc đời. Đỉnh núi trình bày với tất cả chúng ta một viễn cảnh mới mẻ hơn bao giờ với trọng tâm là lòng thương xót của Chúa Cha. Trong Chúa Giêsu, chúng ta bắt gặp đỉnh cao của ý nghĩa con người; Ngài chỉ cho chúng ta con đường dẫn đến sự viên mãn vượt quá mọi hy vọng và kỳ vọng của chúng ta. Nơi Ngài, chúng ta gặp gỡ một cuộc sống mới, trong đó chúng ta nhận ra rằng chúng ta là con cái yêu dấu của Chúa.

Tuy nhiên, tất cả chúng ta đều biết rằng trên đường đi, tự do trở thành con cái của Chúa có thể bị đè nén và suy yếu nếu chúng ta bị bao vây trong một vòng luẩn quẩn những lo lắng và cạnh tranh. Hoặc nếu chúng ta tập trung tất cả sự chú ý và năng lượng của mình vào việc điên cuồng theo đuổi năng suất và chủ nghĩa tiêu dùng như là tiêu chí duy nhất để đo lường và xác nhận những lựa chọn của chúng ta, hoặc định nghĩa chúng ta là ai hoặc chúng ta có giá trị gì. Cách đo lường mọi thứ như thế từ từ làm cho chúng ta trở nên cứng nhắc và thiếu nhạy cảm trước những điều thực sự quan trọng, thay vào đó nó khiến chúng ta hổn hển chạy theo những thứ thừa thãi hoặc phù du. Háo hức để tin rằng tất cả mọi thứ đều có thể được sản xuất, đều có thể có được, hoặc kiểm soát được bóp nghẹt và xiềng xích linh hồn chúng ta biết chừng nào!

Ở Nhật Bản này, trong một xã hội có nền kinh tế phát triển cao, những người trẻ tôi gặp sáng nay đã nói chuyện với tôi về tình trạng nhiều người bị cô lập về mặt xã hội. Họ vẫn mãi đứng bên lề xã hội, không thể nắm bắt được ý nghĩa của cuộc sống và sự tồn tại của chính mình. Càng ngày, gia đình, trường học và cộng đồng, vốn là những nơi chúng ta hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau, càng bị xói mòn bởi sự cạnh tranh quá mức trong việc theo đuổi lợi nhuận và hiệu quả. Nhiều người cảm thấy bối rối và lo lắng; họ bị choáng ngợp bởi quá nhiều yêu cầu và những lo lắng cướp đi sự bình yên và ổn định của họ.

Những lời của Chúa tác động lên chúng ta như một thứ dầu thơm làm tỉnh táo, khi Ngài bảo chúng ta đừng bối rối nhưng hãy tin tưởng. Ba lần Ngài khẳng định với chúng ta: “Anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo.” (x Mt 6: 25.31.34). Đây không phải là một sự khuyến khích bỏ mặc những gì xảy ra xung quanh chúng ta hoặc vô trách nhiệm về nhiệm vụ và trách nhiệm hàng ngày của mình. Ngược lại, đó là một lời mời gọi thiết lập lại các ưu tiên của chúng ta trên một chân trời rộng lớn hơn về ý nghĩa và do đó tìm được tự do để nhìn mọi sự theo cách của mình: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.” (Mt 6:33).

Chúa không nói với chúng ta rằng những nhu yếu phẩm cơ bản như thực phẩm và quần áo là không quan trọng. Thay vào đó, Ngài mời gọi chúng ta đánh giá lại các quyết định hàng ngày của mình và không bị kẹt hoặc cô lập trong việc theo đuổi thành công bằng bất cứ giá nào, bao gồm cả cái giá phải trả là chính cuộc sống của chúng ta. Não trạng thế gian chỉ đánh giá cao lợi nhuận hoặc những gì một người giành được trong thế giới này, với một thái độ ích kỷ chỉ theo đuổi hạnh phúc cá nhân, mà trong thực tế khiến chúng ta vô cùng bất hạnh và trở thành nô lệ, cũng như cản trở sự phát triển đích thực của một xã hội thực sự hài hòa và nhân bản.

Trái ngược với cái “Tôi” cô lập, khép kín và thậm chí là ngột ngạt chỉ có thể là tiếng “chúng ta” được chia sẻ, cử mừng và thông truyền (x. Buổi Tiếp Kiến Chung, ngày 13 tháng 2 năm 2019). Tiếng gọi của Chúa nhắc nhở chúng ta rằng “chúng ta cần phải thừa nhận một cách hân hoan rằng cuộc sống của chúng ta về cơ bản là một ân sủng, và tự do của chúng ta là một hồng ân. Ngày nay, đó không phải là điều dễ dàng, trong một thế giới nghĩ rằng nó có thể tự mình tạo ra những điều nhất định như là hoa trái của óc sáng tạo hoặc sự tự do” (Tông huấn Mừng rỡ Hân hoan - Gaudete et Exsultate, 55). Trong bài đọc thứ nhất hôm nay, Kinh Thánh cho chúng ta biết thế giới của chúng ta, đầy ắp cuộc sống và vẻ đẹp, trước hết là một ân sủng quý giá của Đấng Tạo Hóa: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp!” (St 1: 31). Thiên Chúa ban cho chúng ta vẻ đẹp và sự tốt lành này để chúng ta có thể chia sẻ nó và trao ban nó cho những người khác, không phải với tư cách là chủ nhân ông, nhưng là những người chia sẻ trong cùng một giấc mơ sáng tạo của Chúa. “Sự chăm sóc đích thực cho chính cuộc sống của chúng ta và mối quan hệ của chúng ta với thiên nhiên là không thể tách rời khỏi tình huynh đệ, công lý và lòng trung tín đối với người khác” (Laudato Si', 70).

Trước thực tại này, chúng ta được mời gọi, trong tư cách là một cộng đồng Kitô giáo, hãy bảo vệ tất cả sự sống và làm chứng với sự khôn ngoan và can đảm cho một lối sống được ghi dấu bởi lòng biết ơn và lòng trắc ẩn, sự rộng lượng và lắng nghe đơn sơ. Một khả năng nắm bắt và chấp nhận cuộc sống như nó là, “với tất cả sự mong manh của nó, đơn sơ của nó, và quá thường, là những mâu thuẫn và phiền toái của nó “ (Diễn từ tại Đêm Canh hức Ngày Giới Trẻ Thế Giới tại Panama, 26 tháng 1 năm 2019). Chúng ta được kêu gọi để trở thành một cộng đồng có thể học tập và giảng dạy về tầm quan trọng của việc chấp nhận “những điều không hoàn hảo, không tinh khiết hoặc không 'vô trùng', nhưng không kém phần xứng đáng với tình yêu. Là một người tàn tật hoặc yếu đuối thì không xứng đáng với tình yêu sao? Một người là người nước ngoài, một người phạm lỗi, một người đau ốm hay tù đầy: người đó không xứng đáng với tình yêu sao? Chúng ta biết những gì Chúa Giêsu đã làm: Ngài ôm lấy người phong hủi, người mù, người bại liệt, người Pharisêu và những người tội lỗi. Ngài chấp nhận người trộm lành trên thập tự giá và thậm chí chấp nhận và tha thứ cho những người đóng đinh Ngài” (ibid.).

Việc loan báo Tin Mừng Sự Sống khẩn thiết đòi hỏi chúng ta, như một cộng đồng, phải trở thành một bệnh viện dã chiến, sẵn sàng chữa lành những vết thương và luôn luôn đưa ra một con đường hòa giải và tha thứ. Đối với người Kitô hữu, tiêu chí khả thi duy nhất mà qua đó chúng ta có thể đánh giá mỗi người và mỗi hoàn cảnh là tiêu chí của lòng thương xót Chúa Cha dành cho tất cả con cái Người.

Hợp nhất với Chúa, trong sự hợp tác và đối thoại không ngừng với những người nam nữ có thiện chí, kể cả những người có niềm tin tôn giáo khác, chúng ta có thể trở thành men có tính tiên tri cho một xã hội ngày càng bảo vệ và quan tâm đến mọi sự sống.


Source:Libreria Editrice Vaticana
 
 

© 2019 - VietCatholic Network - Designed by J.B. Đặng Minh An

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - ĐTC GỞI GIỚI TRẺ VN

Video: Sứ điệp video của Đức Thánh Cha gởi cho giới trẻ Việt Nam
 
Giáo Hội Năm Châu
20/Nov/2019
 


Hôm nay thứ Tư 20 tháng 11, Phòng Báo Chí Tòa Thánh đã công bố một sứ điệp video của Đức Thánh Cha gởi cho giới trẻ Việt Nam nhân dịp Đại Hội Giới Trẻ ở Miền Bắc.

Đức Thánh Cha nói:

Các bạn trẻ Việt Nam yêu quý,

Cha tin rằng các con đang sống trong khoảnh khắc đầy niềm vui và ý nghĩa trong kỳ Đại Hội Giới Trẻ Giáo Tỉnh Miền Bắc. Các con quy tụ đông đảo về một nơi, với tư cách là người Công Giáo: chúng ta cảm ơn Chúa về cơ hội này. Cha hiện diện bằng tất cả trái tim với các con. Cha cũng có một thông điệp gởi đến các con. Thông điệp này xoay quanh một chữ “nhà”, là chữ hàm ý trong câu chủ đề được chọn cho kỳ Đại Hội Giới Trẻ lần này: “Hãy về [nhà] với thân nhân” (Mc 5,19).

Trong văn hoá Việt Nam, cũng như trong những nền văn hoá Châu Á, có lẽ không có từ ngữ nào đẹp cho bằng chữ “nhà”. Chữ ấy gói ghém tất cả những gì là thân thương và quý giá nhất trong trái tim của một con người, bao gồm không chỉ gia đình, họ hàng thân thuộc, mà cả nơi chôn nhau cắt rốn, quê hương xứ sở. Dù đi bất cứ đâu, người ta cũng mang theo bên mình chữ “nhà”. Từ chữ “nhà” này đã sản sinh ra văn hoá của các con, vốn diễn tả truyền thống gia đình, cổ võ tình yêu thương dành cho những người thân cận, khuôn đúc nên nhân đức thảo kính cha mẹ, và nuôi dưỡng một sự kính trọng đặc biệt dành cho những bậc cao niên. Do vậy, “Hãy về nhà” nghĩa là một hành trình thúc đẩy các con trở về với cội nguồn của các con và đào sâu di sản văn hoá và truyền thống của các con. Những di sản ấy là những kho tàng quý giá của các con. Đừng bao giờ để mất kho tàng ấy.

Hơn nữa, là những người đã chịu Phép Rửa, các con được thừa hưởng một căn nhà khác lớn hơn, đó là Giáo Hội. Giáo Hội là một ngôi nhà. Là ngôi nhà của các con. Các con thật may mắn khi được sinh ra trong cung lòng của một Giáo Hội anh dũng với nhiều mẫu gương nhân chứng sáng ngời. Cha nghĩ đến Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Cha nghĩ đến thế hệ ông bà và bố mẹ của các con. Họ là đã chịu đau khổ vì chiến tranh loạn lạc, hầu như đã mất tất cả trừ đức tin, mà họ đã truyền lại cho các con như là di sản quý giá nhất. Vậy nên nơi chính căn nhà Giáo Hội này, các con luôn có thể trở về, để kín múc nguồn sức mạnh và cảm hứng cho đức tin các con. Nơi đây các con luôn có thể đào luyện lương tâm và nhân phẩm của các con. Nơi đây các con luôn tìm thấy con đường sự sống theo ơn gọi của Thiên Chúa.

Chúng ta không được quên rằng Giáo Hội của các con là một Giáo Hội đã được sinh ra từ những nhà truyền giáo quảng đại, từ những nhà truyền giáo nhiệt tâm. Trong Thư phúc trình gởi về Roma, nhà truyền giáo Dòng Tên Alexandre de Rhodes [Đắc Lộ], đã kể lại câu định nghĩa được những người Việt nói với nhau: “Những người Công Giáo là những người yêu thương nhau. Và Đạo Công Giáo là Đạo của Tình Yêu”. Ước gì những mẫu gương này của các Ki-tô hữu đầu tiên trên quê hương các con có thể dẫn bước các con. Ước gì lòng biết ơn đối với họ luôn là nguồn của lòng nhiệt thành truyền giáo đối với các con.

Do vậy, điều quan trọng là đừng nghĩ về câu chủ đề của các con, “hãy về nhà”, chỉ như một cuộc trở về. Đừng nghĩ về chữ “nhà” như một điều gì đó khép kín và giới hạn. Đúng hơn, mỗi hành trình mà Chúa chúng ta ban cho luôn là một bước đi truyền giáo “để loan báo cho họ biết những điều tốt đẹp mà Thiên Chúa đã làm cho anh, và Người đã thương anh như thế nào!” (Mc 5,19). Các con đừng quên rằng, các con vẫn là thiểu số giữa lòng dân tộc mình. Vẫn còn đa số có quyền và đang chờ đợi được nghe Lời Tin Mừng. Vì thế, lệnh truyền của Đức Ki-tô vẫn còn là một lệnh truyền khẩn thiết dành cho chính các con hôm nay. Bây giờ, chính các con phải đảm nhận nhiệm vụ xây dựng một Giáo Hội – Ngôi Nhà trẻ trung và vui tươi, đầy sức sống và đượm tình huynh đệ. Ước gì nhờ đời sống chứng tá của các con, những sứ điệp cứu độ của Thiên Chúa có thể chạm đến trái tim của những người thân cận và đồng bào của các con. Luôn phải là chứng tá chứ không bao giờ là lôi kéo.

Có thể các con sẽ hỏi Cha câu hỏi này: Làm cách nào để thực hiện nhiệm vụ ấy? Cha đề nghị với các con ba đức tính cho việc làm chứng của các con trong giai đoạn này, đó là (1) trung thực, (2) tinh thần trách nhiệm và (3) lạc quan. Cả ba đức tính này cần được hướng dẫn bởi tinh thần phân định.

Trong một xã hội tục hoá bị lèo lái bởi chủ nghĩa duy vật, rất khó để trung thành với căn tính và niềm tin tôn giáo của mình nếu không có khả năng phân định. Đây là điều xảy ra tại tất cả mọi thành thị và mọi đất nước trên thế giới. Việc sống trung thực có thể thường mang đến những thiệt thòi. Tinh thần trách nhiệm có thể khiến các con vất vả và đòi các con phải hy sinh. Tính lạc quan có thể trở nên kỳ dị trước thực tế lũng đoạn của xã hội tục hoá này. Nhưng đó chính là những giá trị mà xã hội và Giáo Hội của các con đang cần nơi các con. “Giữa một thế giới như vậy, các con hãy chiếu sáng như những vì sao” (x. Phil 2,15). Các con đừng sợ chiếu toả căn tính Công Giáo thật đẹp của các con. Điều này cũng sẽ làm cho các con trở thành người yêu nước hơn, thành người Việt Nam hơn: một tình yêu lớn dành cho đất nước của các con, một lòng trung thành tuyệt vời của một người yêu nước.

Cha khuyến khích các con đáp lại bằng sự sáng tạo và phát triển những chương trình mà Hội đồng Giám mục của các con dành ba năm này ưu tiên mục vụ giới trẻ. Mẫu gương của Tôi tớ Chúa, Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, chứng nhân vĩ đại của hy vọng, sẽ nâng đỡ các con.

Các bạn thân mến! Cha cầu chúc cho kỳ Đại hội Giới trẻ lần này trở nên như một cuộc hành hương giúp các con tìm về cội nguồn văn hoá và tôn giáo, giúp cho kinh nghiệm đức tin của các con nên vững mạnh, và giúp cho nhiệt huyết truyền giáo của các con được canh tân. Các con hãy yêu nhà của các con! Ngôi nhà gia đình và ngôi nhà tổ quốc. Các con hãy yêu dân tộc Việt Nam, yêu đất nước của các con! Các con hãy là những người Việt Nam đích thực, với tình yêu Tổ quốc.

Trước khi kết thúc, cha muốn cùng với các con, dâng lên Chúa, Cha giàu lòng thương xót, 39 nạn nhân Việt Nam di cư đã qua đời tại Anh trong tháng vừa qua. Thật rất đau lòng. Tất cả chúng ta cầu nguyện cho họ.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả chúng con!

Chúc chúng con Ngày Đại Hội tốt đẹp.

Và chúng con đừng quên cầu nguyện cho cha.

Cha chào chúng con[Vi saluto]


Source:Holy See Press Office
 
 

© 2019 - VietCatholic Network - Designed by J.B. Đặng Minh An

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - TƯ TẾ-NGÔN SỨ-VƯƠNG ĐẾ

Ngôn Sứ – Tư Tế – Vương Đế

Thưa quý vị, thưa các bạn thoạt tiên khi đọc Đoạn Lời Chúa ( Lc 23, 35 -43) hôm nay, Lễ Chúa Kitô, Vua Vũ Trụ, chúng ta không tìm thấy “Vương Quyền” của Người ở đâu? Dường như, Người là một “tên tội phạm”, đang bị lùng bắt. Rõ ràng, phần đầu của Đoạn Lời Chúa hôm nay từ câu 35- 38 diễn tả điều ấy, không thấy dấu hiệu gì, Người là VUA, mà lại VUA DÂN DOTHAI và là VUA VŨ TRỤ nữa. Vâng, nhưng suy niệm kỹ, chúng ta thấy, thật tuyệt vời, cũng phần Lời Chúa ấy nói lên “Ngôn sứ tính” tức đặc tính ngôn sứ của Người.

Theo đó, Vương quyền của Chúa Giêsu chính là Kitô, có nghĩa là Đấng được Thiên Chúa xức dầu tấn phong, đồng thời, Đấng Kitô ở đây là GIÊSU , có nghĩa là Đấng Cứu Thế. Như vậy, Đấng Cứu Thế chính là một Vị Vua đích thực, nhưng Vị Vua ấy phải được “ giương lên”, treo lên cao để muôn dân, muôn Nước tôn thờ. Chúng ta thấy, thời gian minh chứng điều ấy, có vị vua nào , từ khi đâng quang lên ngôi trị vì lâu như Vua Giêsu không ? Vì , ngoài Vị Vua Giêsu ra không có ai “Cứu Độ” nhân loại được. Ý nghĩa “VUA” của Chúa Giêsu thật tuyệt vời và đúng nghĩa, bởi vì, Người không làm vua nhân thế, vua trần gian, mà là VUA Vĩnh Cửu, Vua siêu nhiên. Ngai vàng của Người không ai có thể cướp được, vì nơi ấy tình yêu Thiên Chúa đã biểu lộ cách vinh quang nhất, vì thập giá là nơi biểu lộ tình yêu của thiên Chúa, chứ không phải nơi biểu lộ quyền năng của Ngài. Vì thế, Ngài vàng của Vua GIÊSU không ai có thể “cướp” được, vì sự cướp bóc, gian tà, bất chính không thể đến gần Thánh giá vinh quang của Người, dù là nới ấy được cho là thất bại, là thua trận, nhưng chính tình yêu đã lên ngôi, tình yêu của Thiên Chúa qua Đức Giêsu- Kitô đã “đăng quang” vĩnh cửu.

Như vậy, tính ngôn sứ của phần đầu Đoạn Tin Mừng hôm nay là  gì? Thưa , đó là sự rao giảng của Chúa Giêsu, tính ngôn sứ của Người đã “đưa” Người đến Thập giá. Sự ô nhục của Thập giá là sự vinh quang cho Lời Người rao giảng, tính ngôn sứ của Người là biểu lộ, hay là giương cao một tình yêu, bởi vì, vai trò, hay sứ vụ trước tiên của Chúa Giêsu chính là tính ngôn sứ của Người. Toàn bộ Thánh Kinh Cựu và Tân Ứơc chính là tính ngôn sứ của Đấng Cứu Thế, mà Đấng Cứu Thế đến để làm gì ? Há, chẳng phải là để “giương cao” tình yêu của Thiên Chúa hay sao!

Chúng ta thấy, thế gian mới chính là sự ô nhục, vì rõ ràng, nếu thế gian thánh thiện thì làm gì có sự chết. Lúc ấy, cũng không có Thập giá làm gì, vì sự ô nhục của thế gian, mà Chúa Giêsu gánh lấy cả tội lội thế gian giá trị của thập giá chính là như vậy. Mọi sự ô nhục của thế gian được Thập giá gánh lấy, nhưng thế nhân không nhìn ra sự ấy, họ chỉ nhìn thấy một “ Con Người” mang Danh là GIÊSU bị treo lên cách nhục nhã, nhưng, rõ ràng như Lời Chúa Giêsu nói :” Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ lầm không biết!”.

Vâng, đây chính là sứ mạng ngôn sứ của Đức Kitô, sau khi Người rao giảng bằng Lời, tức nói Lời Ngôn sứ, thì Người đã nói bằng hành động “chịu “ treo lên Thập giá.

Sứ mạng ngôn sứ của Chúa Giêsu trên Thập giá là một minh chứng rõ ràng nhất, vì Lời của tình yêu không gì bằng sự chứng minh cụ thể trên sự cam go nhất. Từ đó, như lời Chúa nói :” Khi Ta được treo lên, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta” là như vậy.

Như vậy, ngôn sứ tức người được sai đi nói Lời của Thiên Chúa, Chúa Giêsu không những nói lời của Thiên Chúa, mà Người còn nói lên bằng “ hành động” của Thiên Chúa.

Phần thứ hai : Tính Tư Tế

Sự bị mạ lỵ, sự khinh chê, sự lăng nhục Người trên Thập giá, sự đau đớn và tủi nhục tột đỉnh của Chúa Giêsu trên Thập giá, mão gai đâm thấu vào óc, Thánh Thể kiệt sức, suy tàn, giữa hai tên gian phi, một Thánh Thể rũ rượi không còn hình người. nhưng , lại bị một tên gian phi mạ lỵ.

Rõ ràng, một Hy Tế vĩ đại của một Vị Ngôn sứ của Thiên Chúa, vì không có lễ vật nào lớn hơn chính Vị Tư Tế ấy hiến dâng, “… Máu chiên bò Chúa không ưng, của lễ toàn thiêu, Người không nhận, thì nầy Con xin đến để thi hành Thánh Ý Cha”.

Như vậy, Vị Tư Tế Giêsu vừa là của lễ, là bàn thờ để tiến dâng lên cho Thiên Chúa trên Thập giá là Núi Thánh. Như vậy, Thập giá  là phương tiện Cứu Độ  để biểu lộ một tình yêu của Thiên Chúa, nhưng trên hết “ lễ Vật” trên Thập giá là “ kết quả” của một sự giày xéo một  nhân mạng vô tội, nơi ấy người Dothai đã xúc phạm, đã rẻ rúng một “ Con Người “, một Nhân Tính của một Nhân Vị Đấng Cứu Thế, họ mạnh dạn bất chấp tất cả để lên án và “giày xéo” một nhân mạng vô tội. Như vậy, bản án Thập giá tố cáo sự bất công nhãn tiền của nhân loại, nếu muốn hỏi tội lỗi của nhân loại ở đâu, thì hãy nhìn lên Thập giá. Nơi đó, có tội của tôi, tội của bạn, tội của mọi người.

Nhưng, Lễ Vật Giêsu không trở nên hư vô, vì Thập giá biểu thị tình yêu, chứ không biểu thị quyền năng. Nhưng, chính tình yêu  duy nhất và hằng hữu nơi Thiên Chúa được biểu lộ trên Thập giá , sự công chính và tình thương của Thiên Chúa trở nên “ QUYỀN NĂNG” nơi Đức Giêsu – Kitô. Tức khắc Thập giá trở nên THÁNH GIÁ nơi treo Đấng Cứu Độ trần gian.

Phần thứ ba: Vương quyền của Đức Kitô chính là quyền năng Thánh giá.

Kết quả của công lý và tình thương của Thiên Chúa được thể hiện qua Chúa Giêsu trên Thánh giá , mặc nhiên phải hoàn tất bằng một “VƯƠNG QUYỀN “ của Người, đó là sự Phục Sinh.

Như vậy, ba giai đoạn hay tiến trình của một Ngôi Vị Thiên Chúa làm Người cho chúng ta một chân lý Kitô hữu có cùng một sứ mạng đồng nhất là: Ngôn Sứ – Tư Tế – Vương Đế. Amen

Amen  :  có nghĩa là xác tín trong Đức Giêsu –Kitô. Vì tiếng Amen cũng có nghĩa là Chúa Giêsu- Kitô (Kh 3, 14).

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con trung thành bước theo Người để thực thi ba sứ vụ của Người, mà Chúa Cha đã ủy thác cho Người. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời ./. Amen

 Phêrô Trần Đình Phan Tiến

Chia sẻ Bài này:
 

Related posts

 
 

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - CAC THÁNH TỬ ĐẠO VN

Cành sống chỉ có thể nhờ cây

Có thể khát vọng, có thể niềm tin bị chao đảo bởi lý do này lý do khác của cuộc đời. Nhưng sẽ không có bất cứ lý do nào làm chao đảo nếu chúng ta tìm thấy chỗ nương tựa vững vàng. Nơi nương tựa bất biến, có một không hai ấy chính là gắn chặt đời mình trong Chúa.

Đừng tưởng khi cố gắng gắn chặt đời mình trong Chúa thì chỉ có nỗ lực của ta. Ngược lại, sự liên kết không gì có thể tách rời giữa Chúa và chúng ta, trước khi là nỗ lực của chúng ta, nó đã là mơ ước, là nỗ lực không ngơi của chính Chúa.

Lời Kinh Thánh: “Thầy là cây nho, chúng con là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, chúng con chẳng làm được gì” (Ga 15,5), trước khi là lời dạy, là đòi buộc Chúa dành cho mỗi người, đã là lời cho thấy một cách lớn lao, một cách mãnh liệt nỗi lòng của Chúa.

Ý thức tình mình trong Chúa và tình Chúa trong mình, dù đứng trước chọn lựa hoặc thoái thác đức tin để được sống, hoặc mất mạng sống để bảo toàn đức tin, các thánh Tử Đạo Việt Nam đã chấp nhận bước đến đỉnh cao cuối cùng của đức tin, không còn gì lớn bằng, không còn gì đẹp bằng: Hiến dâng đời mình thành hy tế tình yêu cho Đấng mà các ngài trung thành tôn thờ.

Ý thức luôn có tình yêu Chúa hiện diện nơi bản thân và luôn được Chúa phủ đầy trong cả một thế giới tình yêu bền chặt, xiết chặt mà Chúa dành cho mình, các thánh Tử Đạo Việt Nam, dù vượt qua trăm ngàn thách thức từ thể xác đến tinh thần, vẫn kiên trung, vẫn vững chí, không chút nao núng, hiên ngang bước lên đoạn đầu đài tử nạn để tế lễ đời mình.

Bằng một xác tín cách hết sức mạnh mẽ: Chỉ một tình yêu duy nhất từ Chúa mới làm cho kẻ tin được sống như dòng nhựa lưu chuyển từ thân nho đến cành nho, các thánh Tử Đạo Việt Nam, dù trước sau gì vẫn chỉ là những kẻ mang phận người yếu đuối, vững tin rằng, chỉ một mình Chúa mới chính là Đấng Giải thoát đích thực.

Mỗi người đều có khát vọng sống. Khát vọng sống không bao giờ là sai. Nhưng đứng trước đức tin vào sự sống mà Chúa Kitô, Đấng Hằng sống luôn mời gọi tiến về, thì khi cần dủ bỏ mọi sự, dẫu phải dủ bỏ cả một đời trần thế, các thánh Tử Đạo Việt Nam chấp nhận để cho khát vọng sống hôm nay nhường bước cho khát vọng sống đích thực trong Chúa đời dời. 

Quyết chiến đấu đến cùng trong một lòng tin bất khuất là chọn lựa duy nhất, không có bất kỳ điều gì khác có thể khiến các ngài nghĩ lại. Đồng thời, biết mình chỉ là cành, sẽ không thể sống mà không gắn vào cây, các ngài quyết định: dù thân xác có phải đớn đau đến đâu, thì tâm hồn vẫn chỉ gắn chặt vào Chúa đi đến cùng con đường của tình yêu dâng hiến.

Biết rằng sức người chỉ là sợi chỉ mong manh, chỉ là ngọn bấc trước gió, các thánh Tử Đạo Việt Nam không ngần ngại để Chúa hướng dẫn, tác động trong từng hành vi, từng nếp nghĩ, nếp sống của mình. 

Chắc chắn, qua tất cả những chịu đựng và chấp nhận mọi hình khổ, hơn ai hết, các thánh Tử Đạo Việt Nam đã thấu hiểu sâu xa lời Chúa Giêsu: “Không có Thầy, chúng con chẳng làm được gì”

Bởi nếu không có ơn Chúa, chỉ cần nghe đến hai tiếng ngục tù, bất cứ ai, dù can đảm cách mấy, vẫn rùng mình khiếp sợ, đừng nói chi đến việc đối diện với lòng độc ác không thể tưởng tượng của những kẻ nhân danh quyền lực cai trị và hành hạ mình bằng không biết bao nhiêu chiếc nanh của thú dữ chứ không phải của bàn tay con người. 

Chỉ ơn Chúa, chỉ nhờ Chúa Kitô hiện diện nơi mình, nhờ gắn chặt mình vào Chúa Kitô như cành nho với cây nho, trước sau như một, lòng trung kiên của các thánh Tử ĐạoViệt Nam không hề lay chuyển. Đó là lòng trung kiên của những con người vượt quá sức người. 

Cùng các thánh Tử đạo Việt Nam, ta xác tín mạnh mẽ: Có Chúa trong ta, và ta biết để mình tháp nhập vào Chúa, sẽ không sức mạnh nào nơi trần thế, dù bạo tàn đến mấy, dù mất tính người hay lang sói đến cấp độ nào, sẽ không có cách thắng được ta. 

Ta sẽ làm nên mọi sự trong Chúa như các thánh Tử Đạo Việt Nam đã làm, đã sống, đã chết, đã vinh quang và vinh quang đến đời đời. 

Chúng ta biết ơn các thánh Tử Đạo Việt Nam. Bởi không chỉ trao dòng máu Việt để ta hãnh diện trong chức bậc con cháu, các ngài còn trao cho ta cả một gia sản đức tin quý giá trả bằng máu của các ngài. 

Chúng ta yêu mến các thánh Tử Đạo Việt Nam, vì không chỉ là bậc cha ông mình, các ngài còn là bài học sống giúp ta học lấy, noi theo để sống như các ngài. Nhờ đó, ta hoàn toàn sống trong Chúa và Chúa sống trong ta, để mãi mãi ta là cành nho, tháp nhập bền chặt nơi thân nho là chính Chúa. 

Mừng lễ các thánh tử đạo, một lần nữa, chúng ta được củng cố lòng tin vào Thiên Chúa: Có thể vì Tin Mừng, vì Chúa Giêsu mà ở đời này ta thua thiệt hay bị chà đạp. Nhưng ta tin, Chúa không để ta chiến đấu một mình, đồng thời Người ban cho ta gia nghiệp đời sau, ta sẽ can đảm và hạnh phúc đi tới cùng đỉnh cao thánh giá.

Xin Chúa, qua lời chuyển cầu của các bậc cha ông Việt Nam yêu kính, ban cho từng người đức tin mạnh mẽ, kiên trung, bền chặt, để ngày qua ngày, chúng ta bước đi trong lòng mến Chúa, Đấng Cứu Độ duy nhất của cuộc đời chúng ta, cách cương quyết, dứt khoát, và bạo dạn, bất chấp mọi thách thức của đời này.

Lm. JB NGUYỄN MINH HÙNG

Chia sẻ Bài này:
 

Related posts