2. Cảm Nghiệm Sống Lời Chúa

MÙA CHAY, THỜI GIAN CHO SỰ TRỞ VỀ

Theo Lịch Phụng Vụ, Mùa Chay bắt đầu  từ Lễ Tro, giáo hội có ý nhắc nhở cho ta  về lẽ vô thường, sinh diệt của đời sống con người. Hễ có  sinh thì ắt có tử, không  ai thoát khỏi ! Tuy nhiên, có sự thật cần phải suy gẫm đó là chết không phải là hết; nhưng nếu chết không phải là hết  thì rồi ta sẽ đi đâu ? Về đâu?

Chết rồi đi đâu ? Đây là câu hỏi đã được đặt ra trong suốt dòng lịch sử triết học  đông tây, kim cổ mà cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng ! Đức Khổng Tử, mặc dù quan niệm Sống Gửi Thác Về ( Sinh ký dã, tử  quy dã ). Thế nhưng, khi được hỏi: Người chết có còn biết gì nữa không thì ngài trả lời cách…lấp lửng: Cho người chết là mất hẳn, không biết gì nữa là bất nhân, không nên theo. Trái lại cho người chết là vẫn còn biết như lúc hãy còn sống là bất trí, cũng không nên theo” ( T.T. Kim – Nho Giáo – Q. Thượng ).

Với đức Lão Tử thì tuy minh triết nhưng  lại  mông lung, khó hiểu khi bàn về Đạo: “ Ta không biết tên gọi là Đạo. Gượng cho là Lớn. Lớn là tràn khắp. Tràn khắp là đi xa. Đi xa là trở về” ( Đạo Đức Kinh – Chương 25 ). Càng đi xa tức càng khổ bao  nhiêu thì càng cần phải gấp trở về bấy nhiêu. Có trở về thì mới hết khổ…Như vậy, việc trở về với minh triết Đông Phương kể như vẫn còn…bỏ ngỏ ! Nhưng dù sao, vẫn còn đó nỗi thao thức khôn nguôi đã được diễn tả qua những vần thơ trác tuyệt của thi sĩ Tản Đà ( 1889 – 1939 ):

“ Nước non nặng một nhời thề

Nước đi, đi mãi không về cùng non

Nhớ nhời nguyện ước, thề non

Nước đi chưa lại, non còn đứng không

Non cao những ngóng cùng trông

Suối tuôn dòng lệ, chờ mong tháng ngày”

( Tản Đà Tùng Văn )

Nếu trong triết lý, văn chương đã không thể có câu trả lời cho câu hỏi: Con người ta chết rồi đi dâu thì chúng ta có thể tìm câu trả lời ấy ở đâu nếu không phải trong Lời Chúa ?:

“ Bấy giờ Chúa phán: Các ngươi hãy thật lòng trở về với Ta trong chay tịnh, nước mắt và than van. Hãy xé tâm hồn chứ đừng xé áo các ngươi. Hãy trở về với Chúa là Thiên Chúa các ngươi vì Người nhân lành và từ bi, nhẫn nại, giàu lòng thương xót và biết  hối tiếc về tai họa” ( Ge 2, 12 -13 ).

“ Hãy xé tâm hồn chứ đừng xé áo các ngươi” Chính với mệnh lệnh này mà ta thấy có sự khác biệt sâu xa giữa Cựu Ước và Tân Ước về việc Ăn Chay. Sự khác biệt ấy  đã được Chúa Giê Su giảng giải khi có người Pharisi đưa ra câu chất vấn: “ Tại sao các môn đệ  của ông Gioan ( Tẩy Giả ) và  những người phái Pharisi ăn chay, còn các môn đệ của Thầy lại không ăn chay ? Chúa Giê Su đáp: Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới  lại có thể ăn chay khi chàng rể còn ở với họ ? Bao lâu chàng rể còn ở với họ thì họ không thể ăn chay. Nhưng khi tới ngày  chàng rể bị đem đi  rồi, bấy giờ họ mới ăn chay. Chẳng ai lấy vải mới mà vá vào áo cũ vì như vậy, miếng vá mới vá vào sẽ kéo vải cũ khiến chỗ rách lại càng rách  thêm. Cũng không ai đổ rượu mới  vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu sẽ làm nứt bầu, thế là rượu cũng mất mà bầu cũng hư. Nhưng rượu  mới thì bầu cũng phải mới” ( Mc 2, 18 -22 ).

Qua câu trả lời này, Chúa Giê Su  cho thấy  có sự phân biệt  giữa Cựu và Tân Ước  giống như vải mới và áo cũ, giữa rượu mới và bình cũ. Trong việc Ăn Chay, tuy về phần hình thức vẫn giống nhau nhưng tinh thần thì phải khác. Như vậy, sự khác biệt giữa Cựu Ước và Tân Ước chính là ở phần tinh thần  và cũng chính vể sự khác biệt ấy  thế nên Chúa Giê Su đã nặng lời phê phán  người Pharisi là  hạng giả hình đạo đức chỉ xét đoán theo bề ngoài: “ Người Pharisi thấy Ngài không rửa tay trước khi ngồi vào bàn ăn thì thắc mắc. Chúa Giê Su phán cùng người ấy rằng: Này các ngươi là người Pharisi, rửa sạch sẽ  bên ngoài chén bát và mâm. Song bề trong các ngươi  đầy dẫy sự bức sách và gian ác. Ớ kẻ ngu dại kia. Đấng  đã làm nên bề ngoài  há không làm nên bề trong nữa sao ? Nhưng các ngươi hãy lấy cái ở trong mà bố thí, mọi vật  đều nên sạch cho các ngươi” ( Lc 11, 37 -41 ).

Người Pharisi chỉ thấy cái bên ngoài để rồi phán đoán này nọ. Đang khi đó, Chúa Giê Su cho thấy tất cả những cái gọi là…bên ngoài ấy đều được quyết định bởi cái bên trong tức là từ nơi tư tưởng. Ta có tư tưởng ăn thì mới ăn. Ta có tư tưởng đi, đứng, nằm ngồi, rẽ phải, rẽ trái. đi lên, đi xuống… thì mới đi, đứng, nằm, ngồi ….Đối với việc thiện, ác cũng vậy, ta có tư tưởng thiện thì mới có thể làm điều thiện, trái lại có tư tưởng ác sẽ làm điều ác…

Con người thường chứa chấp nơi mình những tư tưởng ích kỷ, tham lam, giận ghét ( Ác Tưởng ) để rồi phải chịu nhiều nỗi bất hạnh, khổ đau mà không hề hay biết ! Bởi đó cho nên trong việc ăn chay, Chúa Giê Su  khuyên nhủ chúng ta không nên bắt chước bọn giả hình  đạo đức: “ Khi các ngươi ăn chay, chớ làm bộ buồn rầu như bọn giả hình vì họ nhăn nhó để tỏ vẻ ăn chay với người ta. Họ đã được phần thưởng ( Tiếng Khen ) của họ rồi. Còn ngươi khi ăn chay, hãy xức dầu thơm trên đầu và rửa mặt sạch sẽ hầu tỏ ra là mình đang ăn chay với người ta nhưng chỉ tỏ cho Cha ngươi là Đấng ở nơi ẩn mật và Cha ngươi là Đấng thấy trong chỗ ẩn mật sẽ báo đáp cho ngươi” ( Mt 6, 16 -18 ).

Ở đây, Chúa Giê Su nói việc ăn chay không nên cố ý tỏ cho người khác biết, chỉ Cha biết và Ngài sẽ báo đáp cho. Lời Chúa  Giê Su, một lần nữa  cho thấy  sự khác biệt giữa Cựu và Tân Ước  về mục đích việc ăn chay. Trong Do Thái giáo việc ăn chay có thể để tránh một tai họa lớn như dân thành Ninive ( Gn 3, 5 ). Hoặc để cầu khẩn, xin ơn tha thứ  sau một trận chiến thất bại: “ Hôm ấy, họ ăn chay cho đến chiều, rồi họ dâng lễ toàn thiêu và lễ kỳ an lên trước Nhan Đức Chúa” ( Tl 20, 26 ).

Sự khác biệt trong việc ăn chay giữa Cựu và Tân Ước là ở nơi đối tượng của việc cầu nguyện. Với  Cựu Ước, đối tượng ấy  là một Đấng cao cả, siêu việt bên ngoài con người. Còn trong Tân Ước thì Đấng ấy là Đấng Cha nội tại  giàu lòng xót thương. Một khi đối tượng  của việc cầu nguyện đã khác  thì việc ăn chay dĩ nhiên cũng phải khác và chỉ khi nào nhận ra điều này, chúng ta mới hiểu tại sao Chúa Giê Su lại ví mình như…chàng rể trong một tiệc cưới: “ Bao lâu chàng rể còn ở với họ  thì họ không thể ăn chay nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi, bấy giờ họ mới ăn chay…”

“ Chàng rể bị đem đi”. Lời này để ám chỉ cho cái chết như một Hiến Lễ vì Tình Yêu của Chúa Giê Su. Sở dĩ Chúa Giê Su khi còn ở với các môn đệ, họ không ăn chay  giống như những luật sĩ và người Pharisi là bởi sự khác biệt về đối tượng  của việc cầu nguyện. Khi Chúa Giê Su còn ở với các môn đệ thì họ không ăn chay nhưng khi Ngài đã về cùng Cha cũng là Đấng Cha của mỗi  người ( Ga 20, 17 ) thì cần phải ăn chay  như một điều thiết yếu để vào được Nước Trời.

Chúa Giê Su  đã phục sinh về trời; người Công Giáo  tin chắc  như vậy. Thế nhưng niềm tin ấy nào có ích chi đâu nếu  chúng ta không tin rằng mình cũng sẽ được về  trời với Ngài ? Trước khi đi nộp mình chịu chết, Chúa Giê Su dâng lên Cha lời khẩn nguyện: “ Cha ơi ! Con muốn Con ở đâu  thì những kẻ Cha đã ban cho Con cũng  được ở đó với Con để họ ngắm xem sự vinh hiển  Cha đã ban cho Con vì từ trước buổi sáng thế, Cha đã thương yêu Con” ( Ga 17, 21 -24 ).

Đức Giê Su sinh xuống thế gian để cứu vớt kẻ tội lỗi biết ăn năn, sám hối trở  về: “ Hãy đi học cho biết  lời này: Ta muốn sự thương xót chứ không muốn sinh tế. Vì Ta đến không phải để kêu gọi kẻ công chính, bèn là kẻ có tội” ( Mt 9, 13 ).

Chúa thương xót kẻ có tội nhưng với điều kiện là phải thực tâm sám hối tội lỗi mình. Mùa Chay chính là dịp vô cùng quý báu  để cho ta có thể  nhận biết tội mình và quyết tâm trở về giống như người con trong Dụ Ngôn Người Con Hoang Đàng: “ Ta sẽ đứng dậy trở về cùng  cha mà thưa rằng: Cha ôi, tôi đã phạm tội với trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin đãi con như đứa làm thuê vậy” ( Lc 15, 18 -19 ).

Mùa Chay như đã biết, bắt đầu từ Lễ Tro cho đến Lễ Phục Sinh. Trong thời gian 40 đêm ngày này, người Công Giáo sống trong một không gian đượm vẻ bi ai nhưng tràn trề hy vọng: Trên các bàn thờ không có trang trí hoa, đèn rực rỡ. Có những buổi Tĩnh Tâm gẫm suy về 04 Sự Sau Hết: Chết, Phán Xét, Thiên Đàng, Hỏa Ngục. Ngắm Đàng Thánh Giá trọng thể  tưởng nhớ cuộc  khổ nạn của Chúa Giê Su v.v…

Cùng với tất cả những sinh hoạt của Mùa Chay ấy là việc ăn chay, kiêng thịt vào ngày Thứ Tư Lễ Tro và ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Việc ăn chay, kiêng thịt theo luật buộc này có mục đích sâu xa là để nhắc nhở cho ta về Bản Tính Con Thiên Chúa đã được Thiên Chúa  tác tạo ở nơi mình ( St 1, 26 ). Chúa Giê Su sau khi chịu Phép Rửa tại sông Gióc Đan đã đầy Ơn Thánh Linh, được dẫn vào trong hoang địa, sống ở đó suốt 40 đêm ngày, không ăn, không uống. Sau thời gian đó Ngài đói và quỷ Sa Tan nói với Ngài: “ Nếu ông là Con Thiên Chúa  thì hãy truyền cho hòn đá này biến thành bánh mà ăn đi. Chúa Giê Su đáp lại rằng: Có lời chép rằng: Người ta không nguyên sống bởi bánh mà còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” ( Lc 4, 1 -4 ).

Quỷ Sa Tan dùng Kinh Thánh để cám dỗ  và  Chúa Giê Su cũng lấy Kinh Thánh ( Sách Đệ Nhị Luật 8, 3 ) để đáp lại. Con người có hai phần: Vật chất và tâm linh, phần vật chất là cấu hợp bởi 04 nguyên tố Đất, Nước, Gió, Lửa ( Tứ Đại ). Cái gì do cấu hợp, duyên sinh  thì sẽ có ngày tan rã, mất đi nhưng cái còn lại tức phần tâm linh thì  không mất, có nghĩa sẽ được sống lại: “ Sự sống lại của kẻ chết cũng như vậy. Đã gieo ra là hay hư nát mà được sống lại là không bị hư nát. Đã gieo ra là nhục mà được sống lại là vinh. Đã gieo ra là yếu mà được sống lại là mạnh. Đã gieo ra là thể thuộc huyết khí mà được sống lại là thể thuộc linh” ( 1C 15, 42 -44 ).

Đạo Công Giáo tin có sự sống lại và sự sống lại ấy là phần linh hồn chứ không phải  thể xác bởi như trích đoạn vừa rồi cho thấy nó chỉ là thể huyết khí không thể thừa hưởng được Nước Trời là chốn vinh hiển đời đời ! Với đức tin vào sự sống lại như thế, nên Luật Ăn Chay của Đạo Công Giáo xem ra có vẻ…lỏng lẻo so với một số tôn giáo khác như Phật Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo v.v…Thế nhưng nó lại mang tính chất vượt trội không đạo giáo nào có được ?

Lý do khiến Việc Ăn Chay của Đạo Công Giáo mang tính vượt trội như thế là nhờ ở nơi Bí Tích Thánh Thể đem lại Sự Sống Đời Đời cho những kẻ có lòng tin. Chúa Giê Su phán cùng  người Do Thái: “ Ta là bánh của sự sống. Ai đến cùng Ta hẳn chẳng hề đói. Ai tin Ta thì chẳng hề khát” ( Ga 6, 35 ). Sự đói và khát, Chúa nói ở đây là đói, khát về phần tâm linh. Con người ta theo bản năng,  ai cũng có nỗi sợ đói và khát. Thế nhưng  có một sự đói, khát còn thê thảm hơn nhiều đó là đói, khát về phần tâm linh. Chính cái sự đói, khát  ấy  mới khiến con người phải sống triền miên trong tăm tối, khổ đau  chứ không phải cái đói, khát  thể  xác !!!

Bí Tích Thánh Thể là một mầu nhiệm và mầu nhiệm ấy đã chứng thực  cho chân lý ngàn đời: “ Con người ta sống không nguyên bởi bánh nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” ( Đnl 8, 3 ). Có một chứng cớ ngay trong thời đại hôm nay về Bánh Hằng Sống không chỉ nuôi dưỡng phần linh hồn  nhưng  còn cả về phần xác. Đó là trường hợp của chị Marthe Robin ( 1902 – 1981 ), đấng sáng lập Tổ Ấm Bác Ái ( Foyers de Charite’ ). Nhà thần bí người Pháp này vào năm 28 tuổi ( ? ) bị liệt cả tứ chi, được Chúa Giê Su và Đức Mẹ hiện ra nhiều lần, cho in 05 Dấu Thánh và Mão Gai, không ăn, không uống suốt 50 năm, chỉ được cha xứ  đến nhà cho Rước Lễ hàng tuần. Đám tang của chị có 06 giám mục và hàng trăm linh mục và giáo dân khắp nơi đổ về tham dự…

Bí Tích Thánh Thể  còn được gọi là Bí Tích Tình Yêu nhưng đó lại là mầu nhiệm đức tin, có tin Chúa Giê Su ngự thật trong  Hình  Bánh nhỏ mọn ấy thì mới sinh được ơn ích ! Đang khi đó, vào thời cuối của Ơn Cứu Độ này, đức tin như lời Chúa Giê Su tiên báo hầu như chẳng còn: “ Dẫu vậy, khi Con Người đến, há sẽ tìm được đức tin trên mặt đất này chăng ? ( Lc 18, 8 ).

Đức tin không còn, nhân loại giờ đây  dường như đang sống  trong tình trạng vô vọng, chẳng còn biết nương tựa vào đâu ? Phải chăng Mùa Chay năm Bính Ngọ này  là cơ hội cuối cùng  hầu cho con người có thể trở về ? Tuy nhiên, dẫu nhân loại hiện sống trong tình trạng như thế nào thì Lòng Thương Xót Chúa vẫn không bao giờ nguôi. Mùa Chay rồi sẽ kết thúc để Mùa Phục Sinh tiếp nối. Chúa Giê Su đã hứa với thánh Faustina về một ơn sủng  vô cùng  lớn lao sẽ được ban xuống trong đại lễ Kinh Lòng Thương Xót:

“ Ái nữ của Cha, con hãy nói cho cả thế giới biết về lòng thương xót khôn lường của Cha. Cha ước mong đại lễ kính lòng thương xót Cha trở thành  chỗ nương náu và trú ẩn cho mọi linh hồn, nhất là các tội nhân đáng thương. Trong ngày hôm ấy, lượng thương xót dịu hiền thẳm sâu của Cha sẽ được khai mở. Cha trào đổ cả một đại dương  ân sủng xuống cho các linh hồn tìm đến với nguồn mạch  xót thương của Cha. Người nào xưng tội và chịu lễ sẽ được lãnh nhận hồng ân thứ tha mọi tội lỗi  và mọi hình phạt. Ngày hôm ấy, mọi chốt chặn những nguồn thác ân sủng  đều được tháo mở. Đừng linh hồn nào  sợ đến bên Cha, cho dù tội lỗi họ có đỏ thắm như điều. Lòng nhân ái của Cha bao la đến nỗi không một trí  năng nào, dù nhân loại hay thiên thần có thể hiểu được” ( NK  số 699 )./.

Phùng  Văn  Hóa 

Trà Cổ – Mùa Chay Thánh 2026 ).

MỘT MÌNH

“Một Mình” là một trong những ít nhạc phẩm của người nhạc sĩ tài ba Lam Phương viết riêng cho mình.  Lúc sáng tác, ông chỉ đơn giản trút nỗi niềm u uẩn qua những vần thơ nốt nhạc, có điều ông không ngờ bài hát “Một Mình” được nhiều người ưa thích và trở thành một lời tiên tri buồn cho chính bản thân mình.  Sớm mai thức giấc, nhìn quanh một mìnhngoài hiên nắng lóe, đàn chim giật mình… đây có thể là nỗi sợ không chỉ một mình Lam Phương.  Ai cũng sợ một mình, dù giàu hay nghèo, già hay trẻ, đàn ông hay đàn bà, khỏe mạnh hay bịnh tật…  Dù là bất chợt một khoảng khắc một mình, một quãng đời tạm một mình, hay cả đời một mình…. thì cái một mình nào cũng đáng sợ.  Với người Á Đông, từ nhỏ đã quen sống chung đụng với anh chị em, cha mẹ, ông bà… thì cái một mình cô đơn mới đáng sợ hơn.  Vậy một mình có thật sự đáng sợ không?

Từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã mời gọi con người một mình đi vào sa mạc để trong cõi hoang tịch cô liêu đó con người có thể nghe được tiếng tỏ tình từ trời cao “Này ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình.” (Hs 2,16).  Trong cõi một mình của Lam Phương phủ đầy những nỗi niềm u uất, những trằn trọc giãy giụa muốn thoát ra khỏi cái một mình cô đơn đang bủa vây xung quanh, đang một mình nhưng không muốn một mình, muốn bay vút ra khỏi “ngoài hiên nắng lóe” rực rỡ ngoài kia, muốn có ai đó ở bên kia hàng hiên nghe được tiếng lòng của mình“biết lời tỏ tình, đã có người nghe….?”  Còn trong sa mạc của Kinh Thánh là một sa mạc tĩnh lặng, ngọt ngào, ngập tràn những tiếng lòng thổn thức lãng mạn mà chỉ khi một mình bước chân vào đó mới nghe được “Vào ngày đó…. ngươi sẽ gọi Ta: “Mình ơi,” chứ không còn gọi “Ông chủ ơi” nữa.” (Hs 2,18).  Một sa mạc mở rộng vòng tay mời gọi con người một mình tự do tự tại bước vào để sống chậm lại, để cảm nhận “lời Ngài đã hứa, ngọt ngào hơn mật ong trong miệng” (TV 119, 103), để “nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy, hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người!” (TV 34, 9).  Hàn Mạc Tử khi một mình cô đơn đau đớn vì bịnh tật thay vì oán hận số phận hẩm hiu lại tha thiết mời gọi thế nhân “Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều, để nghe dưới đáy nước hồ reo; để nghe tơ liễu run trong gió, và để xem trời giải nghĩa yêu… (Đà Lạt trăng mờ).  Vì chỉ khi một mình trong thanh vắng tôi mới nghe, mới xem, mới cảm và mới nếm được những điều kỳ diệu mà Thiên Chúa đang muốn mạc khải cho.

Nắng xuyên qua láhạt sương lìa cànhđời mong manh quá, kể chi chuyện mình, nắng buồn cuộc tình, bỗng tắt bình minh…  Cõi một mình của Lam Phương giăng đầy những nỗi buồn da diết kể về cuộc đời mong manh, là những giọt nước mắt khóc cho tình yêu dễ tan, là những tiếc nuối con người dễ quên, là cái nhìn ảm đạm cho một tương lai tăm tối sầu lo.  Lam Phương không hận, chỉ là những lời trách nhẹ nhàng bâng quơ “đường xưa quen lối, tình dối người mang,” buồn cho phận mình long đong lận đận tình duyên trăm mốimột kiếp đa đoan,” những nỗi buồn kế tiếp nỗi buồn.  Một nỗi buồn không chia sẻ được với ai, buồn lại càng thêm buồn, may mà có những nốt nhạc vần thơ nói lên được cõi lòng đơn côi của ông.  Ngược lại, cõi một mình trong sa mạc với Thiên Chúa là những hoan ca rộn ràng của hai tâm hồn có dịp gặp gỡ trò chuyện hàn huyên, là những nức nở buồn vui, cũng có những giọt nước mắt nuối tiếc cho những lầm lỡ sa ngã đã qua, sau đó là những vỗ về ủi an tha thứ, là những khích lệ nâng đỡ, là những lời tỏ tình mật ngọt… “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương” (Gr 31,3).  Và đoạn kết của một chuyện tình đẹp là một kết thúc có hậu với “một hôn ước vĩnh cửu.  Ta sẽ lập hôn ước với ngươi trong công minh và chính trực, trong ân tình và xót thương.” (Hs 2,21).

Nghe rồi mới hiểu tại sao phải đi vào sa mạc cô tịch, tại sao phải là một mình, phải lắng đọng, phải thinh lặng mới nghe được những lời tỏ tình mật ngọt rất nhỏ kia.  Nếu Lam Phương không buồn, không một mình, không cô đơn thì chắc chắn sẽ không có nhạc phẩm bất hủ “Một Mình.”  Nếu tôi không chọn một mình, không đi vào sa mạc, không rũ áo với những tiếng ồn tất bật xung quanh, biết tôi có nghe được gì chăng cho dù Chúa vẫn nói?  Một mình không phải để viết nhạc như Lam Phương,  làm thơ như Hàn Mạc Tử, nhưng một mình để mở lòng hướng về trời cao, trao ban cho Thiên Chúa cái tự do để Ngài muốn viết nên những vần thơ, điệu nhạc gì lên linh hồn tôi thì tùy ý Ngài.  Khi một mình là lúc trở về với chính mình, tôi mới nhận ra có một niềm khắc khoải trong hồn muốn tìm về cội nguồn Chân Thiện Mỹ, mới nghe được những khao khát sâu kín trong trái tim mình.

Trong Tân Ước, Chúa Giêsu trước khi bắt đầu cuộc đời công khai, Ngài đã lui vào sa mạc để ở một mình 40 ngày.  Trước khi chọn 12 tông đồ, Ngài cũng đi vào cõi một mình và “Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa” (Lc 6,12).  Sau những phép lạ, những lúc rao giảng mệt mỏi, Ngài lánh riêng ra một mình, khi thì “sáng sớm, lúc trời còn tối mịt,” hoặc “chiều đến.”  Trước khi bước vào cuộc tử nạn, Giêsu cũng đi vào cõi một mình trong vườn Cây Dầu cầu nguyện suốt đêm cho tới khi binh lính đến bắt Ngài.  Trong ba năm rao giảng và huấn luyện các tông đồ, Giêsu cũng buộc các ông sau những ngày bận rộn với đám đông, rao giảng, chữa lành… thì lánh riêng ra một chỗ nghỉ ngơi, cầu nguyện, tránh xa thế gian ồn ào… Đôi khi, Thầy Giêsu cũng phải dùng tới biện pháp mạnh là “đem các ông đi riêng với mình…” (Lc 9,10).

Như vậy một điều dễ nhận thấy là Giêsu thích ở một mình!  Khi tôi một mình ở với Giêsu Một Mình thì không còn là một mình nữa.  Hai cái một mình thì là hai rồi, không còn là một nữa.  Một mình ở với Giêsu không phải là cái một mình của cô đơn, lo lắng, tiếc nuối như cái một mình của Lam Phương, mà đó là cái một mình đáng yêu của Hàn Mạc Tử, trong đau đớn thể xác vẫn rung động với cảnh vật, vẫn nghe được Trời giải nghĩa yêu…

Một chiều thứ Sáu trên đồi Canvê năm xưa, có ba người tử tội bị hành hình trên ba cây thập tự giữa một đám đông ồn ào huyên náo, la hét, người cười kẻ khóc, người đau khổ tiếc thương, kẻ hả hê đắc chí….

Tử tội thứ nhất, tên cướp không ăn năn, khi sống hắn đã chọn con đường gian ác cô độc lẻ loi, ai ai cũng sợ hãi kinh khiếp tránh xa.  Đến gần với sự chết, hắn vẫn tiếp tục ngoan cố một mình giãy giụa trong sự dữ luôn miệng nguyền rủa và một mình đi vào cõi chết trong giận dữ, oán hận…  Cái một mình kinh hoàng của bóng đêm sự dữ, thiếu vắng bóng dáng tình yêu mặc dù Thiên Chúa Tình Yêu đang ở ngay cạnh bên.

Tử tội thứ hai, tên trộm lành, cũng như bạn mình đã sống cuộc đời của một tên cướp ác ôn.  Nhưng khi đối diện với thần chết, hắn lại mở lòng để nhìn ra những lầm lỡ sai trái của mình, mở mắt để nhìn thấy người tử tội bên cạnh là người vô tội bị án oan, dám mở miệng để mắng tên đồng bọn ngu ngốc, và khiêm nhường để xin sự tha thứ…  Và hắn đã được mãn nguyện!  Hắn không cô đơn một mình đi vào cõi chết!  Người bạn mới tử tù Giêsu đã nắm tay cùng đồng hành với hắn đi về một nơi mà hắn chỉ biết lơ mơ “Nước của ông,” với một lời hứa bao người mơ ước: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” (Lc 23, 43b).

Tử tội cuối cùng, Giêsu thành Nazaret, trong ba năm rao giảng làm bao nhiêu phép lạ cả thể, xung quanh lúc nào cũng có đám đông lớn nhỏ tung hô vạn tuế, với 12 tông đồ, 72 môn đệ, đến khi hấp hối chỉ còn một mẹ, một trò và vài người đàn bà khác dưới cây thập giá.  Lúc này đây có lẽ tử tội Giêsu mới thấm thía hai chữ một mình.  Một mình không nhất thiết là khi chỉ có một mình.  Một mình giữa đám đông với những tiếng la hét, nguyền rủa…  Một mình đang bị nhấn chìm từ từ với những cánh tay giơ lên “Đóng đinh nó vào thập giá!”  Một mình mới thấm thía cảm giác bị đệ tử thân tín phản bội, bị trò yêu chối bỏ, bị cả thế gian lên án.  Và cái đáng sợ nhất là cảm giác bị Người Cha yêu dấu bỏ rơi, để rồi trong hơi tàn sức kiệt trước khi chết, Giêsu đã phải thốt lên “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15:34b).  Cái một mình này mới thật đáng sợ!  Chúa Giêsu trên cây thập giá đã đi đến tận cùng của một mình cô đơn, bị kết án, bỏ rơi, nguyền rủa…  Có ai hiểu cảm giác một mình lẻ loi bị bỏ rơi cho bằng Giêsu?

Sống là chuẩn bị cho chuyến đi cuối cùng!  Trong chuyến đi đó dù muốn hay không ai rồi cũng phải một mình ra đi.  Cho dù có vạn người khóc, triệu người thương, nhà nhà tiễn đưa… nhưng không ai có thể cùng đồng hành với tôi trong chuyến đi đó.  Chỉ một mình tôi sẽ độc hành trong chuyến đi cuối cùng này.  Chỉ một mình tôi sẽ ra trước tòa phán xét của Đấng Tối Cao.  Chỉ một mình tôi thôi!  Một mình lúc đó mới thật đáng sợ!  Vậy sao ngay bây giờ tôi không tập sống một mình với Giêsu để Ngài sẽ cùng đồng hành với tôi trong chuyến đi cuối cùng như Ngài đã từng đồng hành với tên trộm lành trong chuyến đi cuối cùng của hắn.  Và tôi sẽ không bơ vơ một mình trước tòa phán xét vì đã có Giêsu bênh đỡ cho tôi.

Lạy Chúa Giêsu, xưa Chúa đã yêu thích một mình, xin cho con biết sắp xếp thời gian bận rộn của mình để bước vào cõi tĩnh lặng với Chúa mỗi ngày, để làm bạn với Ngài ngay từ bây giờ để rồi con không phải một mình cô đơn trong cuộc sống này, không một mình trong chuyến đi cuối cùng, và chắc chắn sẽ không một mình lạc lõng trước tòa phán xét Chúa trong ngày sau hết.  Amen!

Lang Thang Chiều Tím

MÙA CHAY – LÊN NÚI VỚI CHÚA KITÔ, VÀ XUỐNG NÚI VỚI NIỀM HY VỌNG

Mùa Chay là hành trình của sa mạc, của từ bỏ, của hoán cải; nhưng đồng thời cũng là hành trình của ánh sáng và hy vọng. Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mở ra một linh đạo Mùa Chay: ra đi, lên núi, lắng nghe – xuống núi, vác thập giá, tiến về vinh quang phục sinh.

  1. Khởi đầu hành trình đức tin

Trong sách Sáng Thế, Thiên Chúa phán với Ápram: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi” (Stk 12: 1). Kinh thánh mô tả sự vâng phục của Ápram thật đơn sơ nhưng đầy cương quyết: “Ông Ápram ra đi, như Chúa đã phán với ông” (St 12: 4a).

Mùa Chay bắt đầu bằng một tiếng gọi như thế: rời bỏ. Rời bỏ tội lỗi, thói quen xấu, những an toàn giả tạo, những “xứ sở” của ích kỷ và tự mãn. Rời bỏ để bước vào một tương quan mới với Thiên Chúa. Thánh Augustinô đã cầu nguyện: “Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa nên lòng chúng con khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Chúa” (Tự Thú 1,I,1). Sự khắc khoải ấy chính là động lực của Mùa Chay. Chúng ta không được dựng nên cho những điều tạm bợ, vốn dĩ không sớm thì muộn chúng ta cũng phải từ bỏ, nhưng chúng ta được dựng nên cho chính Thiên Chúa.

Lệnh truyền “Hãy rời bỏ xứ sở” không chỉ là một hành vi đổi hướng địa lý, nhưng là một cuộc xuất hành nội tâm trong đức tin. Thánh Phaolô khẳng định: “Nhờ đức tin, ông Abraham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu. Nhờ đức tin, ông đã tới cư ngụ tại Đất Hứa như tại một nơi đất khách, ông sống trong lều cũng như ông Ixaác và ông Giacóp là những người đồng thừa kế cũng một lời hứa, vì ông trông đợi một thành có nền móng do chính Thiên Chúa vẽ mẫu và xây dựng” (Hípri 11: 8-10). Điều vĩ đại của tổ phụ Abraham không phải là quãng đường ông đi, nhưng là sự vâng phục tức khắc và trọn vẹn của ông. Đức tin là bước đi trong bóng tối chỉ dựa vào lời hứa của Thiên Chúa.

Thiên Chúa hứa: “Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (Stk 12: 3). Lời hứa ấy đạt đến viên mãn nơi Chúa Kitô. Thánh Phaolô xác quyết rằng mọi dân tộc được chúc phúc trong Chúa Kitô, hậu duệ của Abraham: “Những lời hứa đã được ban cho ông Abraham và dòng dõi ông, Kinh Thánh không nói: cho những dòng dõi, như thể nói về nhiều dòng dõi, mà chỉ nói về một dòng dõi: cho dòng dõi người là Chúa Kitô” (Gl 3: 16). Như thế, hành trình của Abraham là hình bóng của hành trình Mùa Chay: từ lời hứa đến hoàn tất, từ đức tin đến chiêm ngắm tỏ tường.

  1. Ánh sáng giữa hành trình

Tin Mừng kể: “Chúa Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê đi theo mình. Ngài đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Ngài biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Ngài chói lọi như mặt trời, và y phục Ngài trở nên trắng tinh như ánh sáng” (Mt 17: 1-2).

Biến cố Hiển Dung là một mặc khải về căn tính thật của Chúa Giêsu, nhưng cũng là một chuẩn bị cho các môn đệ trước cuộc Thương Khó. Thánh Tôma Aquinô nói: “Chúa Giêsu đi trước để chỉ đường cho chúng ta, cả lên núi lẫn vào Thiên đàng.” Thánh Lêô Cả nói: “Ngài đã biến hình để chúng ta cũng được biến hình.” [1]

Từ đám mây sáng ngời có tiếng phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Ngài. Các ngươi hãy vâng nghe lời Ngài!” (Mt 17: 5). Mệnh lệnh này là trọng tâm của toàn bộ đời sống Kitô hữu. Mùa Chay không chỉ là ăn chay, bố thí, cầu nguyện một cách hình thức; nhưng chính là lắng nghe và tuân theo Lời Chúa.

Sự kiện này được Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI diễn giải: “Biến Hình là một sự kiện cầu nguyện: trong khi cầu nguyện, Chúa Giêsu được hòa mình vào Thiên Chúa, kết hợp mật thiết với Ngài, tuân theo ý muốn yêu thương của Cha bằng ý chí con người của chính Ngài, và do đó ánh sáng xâm chiếm Ngài và hiện ra hữu hình như chân lý về bản thể của Ngài: Ngài là Thiên Chúa, Ánh sáng của Ánh sáng…Điểm mấu chốt của sự Biến Hình là sự báo trước về sự Phục Sinh, nhưng điều này lại giả định sự chết. Chúa Giêsu bày tỏ vinh quang của Ngài cho các Tông đồ để họ có sức mạnh đối mặt với thử thách của Thập tự giá và hiểu rằng cần phải trải qua nhiều gian truân để đạt đến Nước Thiên Chúa. Để bước vào sự sống đời đời, chúng ta cần lắng nghe Chúa Giêsu, theo Ngài trên con đường Thập tự giá, giống như Ngài, mang trong lòng mình niềm hy vọng về sự Phục sinh.” [2]

Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI giúp chúng ta hiểu rằng vinh quang trên núi không tách khỏi con đường Thập giá, nhưng chính là ánh sáng soi dẫn các môn đệ bước qua thử thách trong niềm hy vọng Phục Sinh. Tuy nhiên, khi ánh sáng thần linh ấy bừng lên và tiếng Chúa Cha vang dội, phản ứng tự nhiên của con người vẫn là run sợ trước mầu nhiệm vượt quá sức mình: “Các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất” (Mt 17: 6). Chính khi ấy, Chúa Giêsu “lại gần, chạm vào các ông và bảo: Trỗi dậy đi, đừng sợ!” (Mt 17: 7). Cử chỉ và lời nói đầy dịu dàng của Chúa Giêsu đưa các môn đệ từ nỗi kinh hoàng đến lòng can đảm, từ ngã sấp xuống đất đến đứng lên tiếp tục hành trình đức tin.

Trước đó, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã mở đầu triều đại giáo hoàng của mình bằng lời kêu gọi: “Đừng sợ! Hãy mở rộng cửa cho Chúa Kitô!” (Bài giảng khai mạc triều đại, 22/10/1978). Như thế, Mùa Chay mời gọi chúng ta mạnh dạn lên “núi” cầu nguyện để được biến đổi mà không do dự, chần chừ, e dè, sợ sệt. Mùa Chay cũng là thời gian để nghe lại lời “đừng sợ” ấy: đừng sợ ánh sáng vạch trần tội lỗi; đừng sợ thập giá; đừng sợ thay đổi.

Trên núi, các môn đệ được nếm trước vinh quang ấy, được nhìn thấy Thiên Chúa trong dung nhan vinh quang của Chúa Kitô tỏ tường đến độ Phêrô thốt lên: “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay!” (Mt 17: 4). Đó là kinh nghiệm thiêng liêng của những giờ cầu nguyện sốt sắng, những khoảnh khắc tĩnh lặng sâu xa. Vì thế, Phêrô muốn dựng ba lều, muốn giữ lại giây phút ấy bình an hạnh phúc đó. Tuy nhiên, Mùa Chay dạy ta rằng không thể dừng lại trên núi; phải xuống núi, đi vào đời, chấp nhận thập giá.

  1. Xuống núi không sợ hãi

Biến hình không dừng ở đỉnh núi. Con đường tiếp theo là Giêrusalem, là Thương Khó, là Thập Giá, cần phải xuống núi bước vào con đường thập giá đó: “Thầy trò từ trên núi xuống…” (Mt 17: 9). Ánh sáng rạng ngời trên núi Tabor cần phải chiếu rọi vào bóng tối của đồi Canvê đời thường. Tabor đem lại sức mạnh cho Canvê, như Thánh Phaolô viết cho Timôthê: “Dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, anh hãy đồng lao cộng khổ với tôi để loan báo Tin Mừng” (2 Tm 1: 8). Kitô hữu không chỉ chiêm ngắm vinh quang cùa Chúa Giêsu, nhưng còn chia sẻ vinh quang ấy cho những người khác, ngay cả vì thế mà phải chịu đau khổ, như Thánh Phaolô khẳng định: “Chính vì lý do ấy mà tôi phải chịu những đau khổ này; nhưng tôi không hổ thẹn, vì tôi biết tôi tin vào ai” (2 Tm 1: 12). Đau khổ vì Chúa Kitô không phải là để “kể công” với Thiên Chúa, nhưng là để ý thức rằng mọi sự là ân sủng, vì: “Ngài đã cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Ngài, không phải vì công kia việc nọ chúng ta đã làm, nhưng là do kế hoạch và ân sủng của Ngài” (2 Tm 1: 9).

Ánh sáng Tabor không phải là ánh sáng thoáng qua; đó là ánh sáng của sự sống lại, ánh sáng chiến thắng sự chết: “Chính Chúa Kitô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử” (2 Tm 1:10). Việc Biến Hình cho thấy trước rằng con người sẽ được tham dự vào vinh quang Thiên Chúa: “Con Một Thiên Chúa, bởi muốn cho chúng ta được tham dự vào thần tính của Ngài, nên đã mang lấy bản tính của chúng ta, để Đấng đã làm người, làm cho người ta trở thành những vị thần” (GLHTCG, số 460). Mùa Chay là hành trình bước vào tiến trình ấy: từ con người cũ đến con người mới.

Nhưng sự biến đổi ấy không xảy ra tức khắc. Muốn biến hình như Chúa Giêsu, chúng ta cần phải cầu nguyện, chay tịnh, bác ái. Ba thực hành truyền thống của Mùa Chay không phải là mục đích tự thân, nhưng là phương thế để tâm hồn trở nên nhạy bén với ánh sáng. Cầu nguyện là lên núi với Chúa. Chay tịnh là rời bỏ “xứ sở” cũ của bản năng và dục vọng. Bác ái là xuống núi, mang ánh sáng đến cho anh chị em.

Kinh nghiệm thiêng liêng thật là đẹp, là hay, nhưng chưa phải là tất cả. Chúa Giêsu không cho các môn đệ ở lại trên núi. Vinh quang chỉ được hiểu trọn vẹn dưới ánh sáng Phục Sinh. Chỉ sau Phục Sinh, các môn đệ mới hiểu rằng thập giá không phủ nhận vinh quang, nhưng là con đường dẫn tới đó. Chính vì thế mà Chúa Giêsu truyền: “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy” (Mt 17: 9). Mùa Chay đặt chúng ta trong sự căng kéo ấy: giữa ánh sáng và bóng tối, giữa hy vọng và thử thách. Nhưng chính trong sự căng kéo ấy mà đức tin lớn lên.

  1. Chỉ còn một mình Chúa Giêsu

Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Chúa Giêsu mà thôi” (Mt 17: 8). Có thể nói đây là lời tóm kết cho linh đạo Mùa Chay. Sau khi đã rời bỏ “con người cũ”, đã lên núi, đã nghe tiếng Chúa Cha, đã xuống núi, đã chấp nhận đau khổ, điều còn lại là Chúa Giêsu. Sau mọi thị kiến, sau mọi cảm xúc, điều còn lại là chính Chúa Giêsu. Đức tin trưởng thành không dựa trên cảm giác lạ thường nhất thời, nhưng trên sự gắn bó bền bỉ với một mình Chúa Giêsu.

Mùa Chay mời gọi chúng ta tự hỏi: trong đời tôi, sau tất cả, còn lại điều gì? Câu trả lời là: còn Chúa Giêsu. Và khi còn Chúa Giêsu, một mình Chúa Giêsu. chúng ta sẽ còn tất cả.

Lạy Chúa Giêsu  Kitô, trong Mùa Chay này, xin cho chúng con can đảm bước đi như Abraham, chăm chú lắng nghe như các môn đệ trên núi, và quảng đại chịu đựng vì Tin Mừng như thánh Phaolô. Để rồi, sau hành trình vác thập giá, chịu chết cùng Chúa Giêsu, chúng con cũng được tham dự vào “sự sống đời đời” trong ánh sáng vinh quang của Chúa Kitô Phục Sinh.

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://westcoastcatholic.co/blogs/news/transfiguration-of-the-lord-meaning-biblical-significance-catholics?

[2] https://www.vatican.va/content/benedict-xvi/en/angelus/2008/documents/hf_ben-xvi_ang_20080217.html

[3] https://tgpsaigon.net/bai-viet/chan-phuoc-gioan-phaolo-ii-dung-so-%E2%80%93-hay-yeu-thuong-%E2%80%93-hay-hy-vong-40111

THÁNH GIUSE, NGƯỜI CỦA THÁNG BA, LÀ TẤM GƯƠNG MÙA CHAY CỦA CHÚNG TA

 Cũng như Mẹ Maria dạy chúng ta cách sống Mùa Vọng, Thánh Giuse là biểu tượng và người bạn đồng hành của chúng ta trong Mùa Chay.

Theo truyền thống Giáo hội, tháng Ba được dành riêng cho Thánh Giuse, và trong lịch Giáo hội, Mùa Chay chủ yếu rơi vào tháng Ba. Điều đó khiến Thánh Giuse trở thành người hướng dẫn chúng ta trong Mùa Chay mỗi năm. Điều này rất hợp lý. Ngài là người hướng dẫn chúng ta trong Mùa Chay theo như cung cách Mẹ Maria là “Người phụ nữ của Mùa Vọng”.

  1. Mẹ Maria chỉ cho chúng ta cách đón nhận Chúa Kitô trong Mùa Vọng.

Mùa Vọng là mùa đón nhận, và điều đó khiến Mẹ Maria trở thành “Đức Trinh Nữ của Mùa Vọng”, như Thánh Gioan Phaolô II đã nói.

Trong khi mong đợi Chúa Kitô đến, Giáo hội liên tục hướng chúng ta đến các nhân đức của Mẹ Maria, với Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội vào ngày 8 tháng 12 để tôn vinh sự vô nhiễm tội lỗi của Mẹ, với lễ Đức Mẹ Loreto, mới được thiết lập, vào ngày 10 tháng 12 để tôn vinh ngôi nhà mà Mẹ đã dành cho Chúa Giêsu, và Lễ Đức Mẹ Guadalupa vào ngày 12 tháng 12, để tôn vinh cung cách mà Mẹ, vào năm 1531, đã chuẩn bị Tân Thế Giới cho Chúa Kitô.

Mẹ Maria cho chúng ta thấy cách chuẩn bị một chỗ cho Chúa Giêsu trong cuộc sống của chúng ta, giống như cách Mẹ đã làm trong thế gian.

Nhưng nếu Mùa Vọng nói về “sự vắng mặt của Chúa Kitô”, khi chúng ta đọc về niềm khát khao Chúa Kitô của các tiên tri, thì Mùa Chay nói về “sự viên mãn của Chúa Kitô”, khi chúng ta sống cùng Chúa Giêsu Kitô trong sa mạc, cùng bước đi trên Con Đường Thập Giá và chuẩn bị cho chiến thắng cuối cùng của Ngài vào Lễ Phục Sinh.

  1. Tương tự như vậy, Thánh Giuse đã chỉ cho chúng ta cách giữ gìn Chúa Kitô trong Mùa Chay.

Mùa Vọng là mùa đón nhận, còn Mùa Chay là mùa giữ gìn, là thời gian chúng ta chăm sóc, bảo vệ và gìn giữ món quà tuyệt vời là Chúa Kitô trong cuộc sống. Chúng ta chờ đợi Chúa Kitô trong Mùa Vọng, nhưng chúng ta chờ đợi cùng Chúa Kitô trong Mùa Chay. Chúa Kitô đã đến, và Ngài đã mời gọi chúng ta ở lại với Ngài cho đến cùng.

Không có tấm gương nào tốt hơn Thánh Giuse về điều đó. Ngày lễ Thánh Giuse 19 tháng 3 là ngày lễ Bạn Trăm Năm của Mẹ Maria, khi chúng ta tôn vinh người thợ mộc đến từ Nadarét, người đầu tiên phải thay đổi cuộc đời mình vì Chúa Giêsu đã đến thế gian.

Khi Tin Mừng nói “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt và cư ngụ giữa chúng ta”, thực tế tiếng Hy Lạp nói rằng Ngài “đã dựng lều tạm giữa chúng ta”. Nói cách khác, Ngôi Lời đã vào gia đình Giuse, sống trong nhà Giuse và phó thác chính mình cho sự chăm sóc của Giuse. Trong Cựu Ước, vua Đavít đã đề nghị xây nhà cho Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa đã từ chối. Thế mà Giuse thuộc dòng dõi Đavít đã xây một ngôi nhà cho Chúa Giêsu, và chính gia đình ngài đã trở thành Nơi Chí Thánh, nơi ngự trị của chính Thiên Chúa.

Đó chính là nhiệm vụ Mùa Chay của chúng ta: trở thành những người gìn giữ tốt hơn ơn ban của Chúa Kitô, bằng cách xây dựng ngôi nhà của chúng ta phù hợp với những gì Ngài cần đến.

  1. Thánh Giuse cũng là hình mẫu cho sự hy sinh của Chúa Kitô.

Trọng tâm chính khác của Mùa Chay là Cuộc Khổ Nạn của Chúa Kitô. Khi chúng ta vác thập giá và theo Chúa Giêsu, Thánh Giuse lại một lần nữa là mẫu mực cho chúng ta. Toàn bộ cuộc đời Ngài dành trọn cho sự hy sinh, cầu nguyện và hiến dâng bản thân, khi ngài sống đời sống độc thân đúng nghĩa, tập trung vào Chúa Kitô và vâng phục Chúa, Đấng đã nhiều lần kêu gọi Ngài.

Nhưng theo Mẹ Têrêsa, thánh Giuse còn là một tấm gương về sự khổ nạn theo một cách khác nữa. Thánh nhân nói: “Thánh Giuse là tấm gương tuyệt vời nhất! Khi Ngài nhận ra Mẹ Maria mang thai, Ngài chỉ cần làm một việc: Đến gặp người lãnh đạo, gặp tư tế và nói, ‘Vợ tôi có con, không phải con tôi.’… Họ hẳn đã ném đá bà ấy; đó là lề luật.” Theo Mẹ Têrêsa, thay vào đó, “Ngài quyết định, ‘Tôi sẽ bỏ đi.’ Và lề luật là… nếu Ngài bỏ trốn và bỏ mặc người vợ mang thai, họ sẽ ném đá Ngài.”

Nếu đó là điều mà Giuse đã nghĩ đến, và điều đó hoàn toàn hợp lý, thì mỗi khi tháng Ba đến, chúng ta tưởng nhớ thánh Giuse trong cuộc đời Chúa Giêsu, người đã nêu gương về việc gánh lấy tội lỗi của những người thân yêu của mình.

  1. Cuối cùng, Thánh Giuse là hình mẫu của một con người nhân đức mà Mùa Chay nhắm giúp chúng ta trở thành.

Sách Tin Mừng Mátthêu mô tả Thánh Giuse là một người “công chính” hay “người ngay thẳng”. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI chỉ ra rằng độc giả Do Thái của Mátthêu hẳn đã biết thế nào là một “người công chính” theo như tác giả thánh vịnh nói: “chẳng nghe theo lời bọn ác nhân, chẳng bước vào đường quân tội lỗi, không nhập bọn với phường ngạo mạn kiêu căng, nhưng vui thú với lề luật Chúa, nhẩm đi nhẩm lại suốt đêm ngày” (Tv 1: 1-2).

Hãy nghĩ đến điều đó như một lời mô tả về Thánh Giuse, một người mạnh mẽ, im lặng và kiên định, người không làm lu mờ Mẹ Maria và Chúa Giêsu mà còn bổ sung cho các đấng ấy, “tựa cây trồng bên dòng nước, cứ đúng mùa là hoa quả trổ sinh” (Tv 1: 3).

Đức Giáo Hoàng Phanxicô, khi viết về Thánh Giuse, ca ngợi tất cả những ai, giống như Thánh Giuse, là: “những con người bình thường, những con người ít ai để ý. Những con người không xuất hiện trên mặt báo, hay trên chương trình truyền hình mới đây nhất, nhưng trong những ngày này rõ ràng họ đang làm nên những sự kiện quyết định cho lịch sử chúng ta” (Tông thư Patris Corde, ngày 8 tháng 12 năm 2020, phần mở đầu).

Mùa Chay là thời gian để chúng ta uốn nắn tâm hồn theo các nhân đức của Thánh Giuse, xây dựng tương lai mà không cần phải phô trương ầm ĩ, vì Chúa Kitô.

Tom Hoopes, https://aleteia.org

Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung

 

NGỦ CHAY

Khi thức, ta giữ chay nghiêm ngặt, nhưng, khi ngủ, ta mơ thấy mình ăn đủ thứ; Khi thức, ta nhún nhường khiêm hạ, nhưng, khi ngủ, ta mơ thấy mình quát tháo, biểu dương quyền lực. Khi thức, ta buông bỏ mọi sự, nhưng, khi ngủ, ta mơ thấy mình níu chặt, nhất quyết không chịu buông bất cứ thứ gì. Con người thật của ta không nói bằng lời, nó nói bằng hình ảnh, bằng cảm giác, bằng giấc mơ. Trong mơ, con người thật của ta hiển lộ rõ nhất: khi không còn đóng vai người khiết tịnh, kẻ khó nghèo, bậc chiêm niệm, nhà thần bí; khi ta không còn phải chứng minh cho ai thấy, chỉ còn lại ta trần trụi với toàn bộ những gì chưa được nhìn thấy.

 Có một đứt gãy rất lớn trên hành trình thiêng liêng: khi thức ta tu tập, khi ngủ ta buông xuôi; khi thức ta cảnh giác, khi ngủ ta mặc kệ; hành trình thiêng liêng bị chia làm hai nửa, và chính sự chia đôi này, làm cho con đường thiêng liêng không bao giờ liền mạch. Có một sự thật không mấy dễ chịu là: không phải khi thức: ta tỉnh, mà là, khi thức: ta đang cố diễn mình tỉnh, còn khi ngủ, ta không còn cố được nữa, nên ta trở về đúng với bản chất của mình.

Nếu khi thức, ta không trốn tránh, không cố diễn, thì, khi ngủ, giấc mơ sẽ tự thay đổi: khi thức, nếu ta dám nhìn thẳng vào sợ hãi, thì, khi ngủ, nỗi sợ không cần gào lên trong mơ nữa; khi thức, nếu ta không dồn nén giận dữ, thì, khi ngủ, giấc mơ không cần xả giận thay ta; khi thức, nếu ta thật sự không dính mắc, thì, khi ngủ, giấc mơ không cần tạo kịch bản để nhắc ta về những thứ mà ta đang thèm khát; giấc mơ chỉ bù trừ những gì ta đã cố tránh khi thức. Nếu khi thức, ta không giả hình, không cố diễn, nhưng, thật sự bước đi dưới ánh nhìn của Chúa, thì, khi ngủ, ta cũng sẽ thật sự ở trong sự hiện diện của Người, không phân hai, không cắt khúc.

Có người sẽ nói: Khi thức, còn chưa ý thức được sự hiện diện của Chúa, thì huống chi, là lúc ngủ. Đúng vậy, đối với con người thì không thể, nhưng, đối với Thiên Chúa, thì, không gì là không thể. Sống trong sự hiện diện của Chúa, thì, phải để Chúa làm chủ, để Chúa điều phối mọi sự. Thái độ giả hình, cố diễn của chúng ta xuất phát từ thói thích “làm chủ” của chúng ta, để rồi, chúng ta cố tránh, cố xua đi những giấc mơ xấu, khi chúng ta bị dồn vào chân tường, bị buộc phải nói thật, thay vì, tránh né, chúng ta hãy chấp nhận sự thật là: mình vẫn chưa thật sự khiêm nhường, vẫn chưa thật sự khó nghèo, vẫn chưa thật sự khiết tịnh… Chúng ta có sao, Chúa yêu chúng ta như vậy, đâu phải vì ta tốt lành thánh thiện, Chúa mới yêu. Chúng ta hãy cứ thành thật, đơn sơ, như con thơ sống trong sự hiện diện và sống dưới ánh nhìn của Cha hiền.

Giấc mơ chính là phép thử, là thước đo mức độ con người thật của chúng ta, tất cả những gì, khi thức, chúng ta cố che đậy bằng những mỹ từ: khiêm nhường, nghèo khó, khiết tịnh, bác ái, yêu thương, phục vụ sẽ hiện nguyên hình dưới “chiếc gương giấc mơ”. Vì thế, ta hãy trao quyền làm chủ lại cho Chúa, thì, mọi vấn đề sẽ được giải quyết: đời sống của ta sẽ như một dòng chảy trong sự hiện diện của Chúa, từ khi thức dậy cho đến lúc đi ngủ, không phải vì ta đã có những giấc mơ đẹp, không phải vì ta đã tốt lành thánh thiện, mà vì, cách ta hiện diện trong cuộc sống đã thay đổi, trước đây, ta có hai thế giới: khi thức, là thế giới của tỉnh, khi ngủ, là thế giới của mê; khi thức, là nơi ta tu tập, khi ngủ, là nơi mọi thứ được thả rong, hai nửa không gặp nhau, và vì vậy, đời sống luôn có một vết cắt ngầm, khi trao quyền làm chủ lại cho Chúa, vết cắt đó tan biến, lúc này, thức và ngủ chỉ là một nhịp khác nhau của cùng một dòng sống hiện diện trong Chúa: khi thức, ta không còn cố tỉnh nữa, vì sự tỉnh đó không còn đến từ việc giả hình, cố diễn của ta, nhưng, đến từ tấm lòng hiếu thảo của người con thơ kính sợ Cha hiền; khi ngủ, ta không còn buông xuôi nữa, vì sự buông mình đó không đến từ việc lười biếng hay mặc kệ, nhưng, đến từ lòng đơn sơ của người con bé nhỏ phó mình trong bàn tay quan phòng của Cha. Ơn biến đổi, sự thánh thiện là của Chúa, Chúa cho ai, lúc nào, thì, khi ấy người đó được.

Ước gì chúng ta biết cộng tác và kiên nhẫn đợi chờ Chúa. Ước gì được như thế!

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền,OSB.