3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

Suy nghĩ về Chúa Quan Phòng

Đề tài “sợ” nổi rõ trong suốt bài Tin Mừng hôm nay. Sách các bài giảng thường khai thác đề tài này khá kỹ : “Sợ gì và không sợ gì”;  “sợ ai và cóc sợ ai” v.v…

Tôi sẽ không theo hướng phân tích nỗi sợ, mà chọn 1 câu nhỏ Chúa nói, hai con chim sẻ không phải chỉ đáng 1 hào sao ? để khai thác đề tài về Chúa Quan Phòng : đẩy sợ ra ngoài bằng cách tin vào Chúa Quan Phòng.

Chắc các chị dòng Chúa Quan Phòng gần đây (157 Hai Bà Trưng, Saigon) nói về CQP là danh hiệu và cùng đích của Dòng họ, hẳn là hay ho hơn chúng ta. Nhưng nào mời được mấy chị, mà mời được, họ cũng không dám nói trong thánh lễ, vì luật phụng vụ không cho họ giảng. Thôi cứ để tôi nói.

 

Kính thưa anh chị em,

Nhiều người giáo dân, nhất là miền quê, nghèo đôi chút, chứ không phải cường hào ác bá, có một thái độ rất đặc biệt, đáng khen: gặp chuyện vui hay chuyện buồn, họ cũng đều nói “Đó là ý Chúa” ; thành công hay thất bại, họ cũng nói “đó là ý Chúa” ; trước mọi khó khăn, nguy hiểm, họ nói “Để Chúa lo.”  Phải chăng thái độ đó là quá ngây thơ: đành rằng có Chúa đó, nhưng bản thân mình cũng phải xoay xở chứ! “Hãy tự giúp mình trước, rồi Chúa sẽ giúp thêm” !

Nhưng suy cho cùng, thái độ tin tưởng phó thác vào Chúa quan phòng có những cơ sở rất vững vàng:

– Người phó thác vào Chúa quan phòng tin rằng Chúa luôn hiện diện bên cạnh con người trong mọi tình huống. Tin như thế là rất đúng, vì Thánh Kinh hằng lặp đi lặp lại biết bao lần chân lý ấy: “Ta hằng ở với con”, “Thầy sẽ ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thế,”  “Chúa ở cùng anh chị em”.

– Người phó thác vào Chúa cũng tin rằng Chúa có kế hoạch của Ngài và không điều gì xảy ra ngoài kế hoạch của Thiên Chúa. Tin như thế cũng rất đúng: “Không con chim sẻ nào rơi xuống đất mà Cha các con không biết đến. Phần các con, tóc trên đầu các con đã được đếm cả rồi”. (bài Tin Mừng hôm nay)

– Người phó thác vào Chúa còn xác tín rằng Thiên Chúa là Cha và mình là con. Một người Cha toàn năng và hết sức yêu thương con như Thiên Chúa thì chắc chắn biết cách an bài cho con cái mình những điều tốt nhất: “Cha chúng con trên trời thừa biết chúng con cần gì”

 

Tình huống chứng minh Chúa quan phòng

Ta thử xem hai chàng Mehu và Giakin, ta sẽ bắt chước chàng nào.

Mê-hu và Gia-kin, hai người Do Thái, cùng nhau lên đường tới một phương xa. Họ dùng một con lừa để chở hành lý. Ðể cho con lừa có bạn, họ mang theo một chú gà cồ. Mê-hu là một tín hữu rất đạo đức, có lòng tin vào Chúa quan phòng. Nhưng Gia-kin lại là người rất cứng lòng tin. Vừa lên đường được ít phút, Gia-kin cứng tin đã cảnh cáo Mê-hu:

– Rồi đây anh sẽ thấy anh có còn tin Chúa, tin đến độ nào.

Khi mặt trời gần lặn, hai người đến một ngôi làng nhỏ. Họ gõ cửa hết nhà này sang nhà khác nhưng không ai cho họ trú ngụ qua đêm. Họ đành phải tìm đến một ven rừng. Bấy giờ Gia-kin mới thốt lên:

– Như thế này thì liệu Chúa của anh có tốt không?

Vốn luôn tin tưởng vào Chúa quan phòng Mê-hu bình tĩnh đáp:

– Ðây là chỗ tốt nhất mà Chúa đã dành cho chúng ta để qua đêm nay.

Ðêm đó, họ nằm ngủ dưới gốc một cây lớn. Họ cột chú lừa vào một thân cây bên cạnh. Chưa kịp đốt đuốc lên thì họ nghe một tiếng động mạnh từ xa vang tới. Thì ra, chỉ chớp mắt, một con sư tử đã bổ tới cắn xé chú lừa và lôi đi. Hai người vội leo lên cây để tránh nạn.

Vừa tức giận vừa mỉa mai, Gia-kin hỏi bạn:

– Nào, Chúa của anh còn tốt nữa không?

Mê-hu bình thản trả lời:

– Nếu con sư tử không gặp con lừa trước thì chắc chắn nó đã bổ nhào trên chúng ta rồi. Vì Chúa là đấng tốt lành.

Vài phút sau, con gà cồ bỗng kêu thất thanh. Hai người trèo lên cao hơn. Dưới ánh đuốc họ nhận ra con gà đang nằm trong nanh vuốt của một chú mèo rừng (beo). Gia-kin chưa kịp thốt ra lời cay đắng nào thì Mê-hu đã xác định:

– Tiếng kêu của con gà đã một lần nữa giúp chúng ta thoát nguy hiểm. Cảm tạ Chúa là đấng tốt lành.

Liền lúc ấy một cơn gió mạnh làm tắt phụt ngọn đuốc. Thế là hai người chìm trong tối tăm rùng rợn. Gia-kin bực bội nói:

– Xem chừng Chúa của anh làm việc phụ trội (overtime) trong đêm nay.

Lần này thì Mê-hu chỉ biết lặng thinh.

Sáng hôm sau, hai người vào làng mua thức ăn, mới hay đêm hôm ấy một bọn cướp đã tấn công làng và vơ vét hết tài sản của dân. Lúc ấy Mê-hu mới giải thích cho Gia-kin:

– Giả như đêm qua chúng ta có nơi trú ngụ trong làng hẳn là đã không thoát khỏi tay bọn cướp. Và nếu gió không thổi thắt ngọn đuốc thì hẳn bọn cướp đã thấy chúng ta. Bạn tin chưa? Trong tất cả mọi sự Thiên Chúa là đấng tốt lành.

 

Bệnh tật cũng minh chứng CQP

Ngay cả khi bản thân mình mang bệnh tật, cũng là một minh chứng Chúa Quan Phòng.

Năm 1953, nhiều nhật báo ở Mỹ đăng tin: ngày 14.1.1953, tại Kansas, bác sĩ loan tin cho LM Julius Bussi đang nằm điều trị tại nhà thương rằng: “Cha sẽ phải chết dần chết mòn vì bệnh ung thư”.

Là một người luôn có tinh thần siêu nhiên, hết lòng tin tưởng vào Chúa quan phòng, Ngài mỉm cười đáp: “Đó là đặc ân, đó là thánh ý Chúa muốn. Nhờ bệnh ung thư, tôi có đủ thời gian để dọn mình chết lành hơn là bị các bệnh hoạn (tai biến, đột quị) tai nạn khác bất ngờ xảy đến, không chuẩn bị kịp”.

 

Thiên nhiên minh chứng CQP

Một hôm có chàng thanh niên vào rừng đốn củi. Đến trưa nhọc mệt, anh nằm nghỉ dưới gốc cây đa cổ thụ, nhìn lên thấy cành lá rườm rà, song quả đa nhỏ xíu ?

“Tôi mà là ông trời, tôi cho nó mang trái lớn như trái bí và lá to như lá chuối; như thế mới cân xứng. Đang khi thân bí yếu ớt mà phải mang trái lớn, cây chuối không cứng rắn mà phải mang lá to như tấm phản. Quả Đức Chúa Trời thiếu khôn ngoan. Hay là không có Đức Chúa Trời, mọi vật do ngẫu nhiên mà có.”

Miên man nghĩ như vậy anh thiếp ngủ lúc nào không hay. Đang giấc ngủ say, một cơn gió lớn thổi mạnh làm rớt xuống giữa sống mũi anh quả đa (trái sung). Anh giật mình thức giấc, vừa suýt soa vừa nghĩ: “May quá, phải trái đa lớn như trái bí thì kể như bữa nay ta tận số rồi.

Thế ra Đức Chúa Trời khôn thật. Ngài xếp đặt cả rồi đấy chứ ! hèn chi người ta nói: trái dừa rớt bao giờ cũng tránh người, sầu riêng rơi thường rụng trong đêm”

Tình huống minh chứng CQP, thiên nhiên minh chứng CQP và cả khi bệnh tật cũng minh chứng CQP. Vậy kết luận, hãy tin CQP ắt sẽ không sợ chi, chẳng sợ ai.

Tóm lại, hãy tin Chúa Quan Phòng (*)

Anphong Nguyễn Công Minh, ofm

_____________________________________________

 

(*) Ta hãy lắng nghe một lá thư viết hơn 1 thế kỉ rồi, của một người, sau này làm chức vị cực cao trong GH, nhưng lại được cả thế giới yêu mến, và mới được phong thánh :

Đại chủng viện Roma 16.1.1901

Trọng kính thăm ba má, bác Hai, cậu và anh chị.

Khi thư này đến nhà, chắc cả nhà đang sốt sắng dự Tuần Đại phúc mở tại họ đạo, và con mong rằng tất cả đã sốt sắng lo việc phần hồn, xây dựng hạnh phúc vĩnh cửu.

Con không cầu cho gia đình được giàu sang, chỉ xin cho mọi người trở nên Kitô hữu tốt, sống nghèo khó, bình an phó thác trong tay Chúa quan phòng.

Con lấy làm vinh dự sống trong cảnh nghèo của gia đình mình, không bánh mì, chỉ ăn cháo, không bao giờ biết đến thịt, có chăng là đôi ba dịp trong năm. Lễ Giáng sinh thì được thẻo bánh, mà tự làm. Tuy nhiên dù gần 20 đứa lớn bé đang chờ chực bát cháo, nhưng nếu có người đến ăn xin, má vẫn mời họ ngồi vào bàn chia bữa ăn chúng con cho họ.

Xin ba má tha cho những kẻ đã và đang làm hại gia đình mình. Biết đâu trước mặt Chúa họ tốt hơn mình.

Chúa muốn con làm linh mục không vì giầu sang. Nếu thế thì thật là khốn nạn. Con sẽ làm linh mục để phục vụ người nghèo…

Con Angelo

Đó là bức thư thầy Angelo Roncalli (sau là giáo hoàng Gioan XXIII) gửi thăm Ba Má. 

 

ĐỪNG SỢ! VÌ CHÚA Ở CÙNG TA

Có lẽ hai tiếng “đừng sợ” là lời mà con người cần nghe nhất trong mọi thời đại. Chúng ta sống trong một thế giới đầy những nỗi sợ. Người trẻ sợ thất bại. Người lớn sợ mất việc. Người già sợ bệnh tật. Cha mẹ sợ con cái hư hỏng. Người nghèo sợ thiếu thốn. Người giàu sợ mất những gì mình đang có. Có những nỗi sợ rất rõ ràng, nhưng cũng có những nỗi sợ âm thầm gặm nhấm tâm hồn: sợ bị từ chối, sợ bị hiểu lầm, sợ cô đơn, sợ tương lai bất định.

  1. Nỗi sợ lớn nhất của con người

Ngay cả những người có đức tin cũng không tránh khỏi sợ hãi. Tiên tri Giêrêmia, một trong những vị ngôn sứ can đảm nhất của Cựu Ước, cũng đã trải qua cảm giác ấy. Ông thú nhận: “Tất cả những bạn bè thân thích đều rình xem con vấp ngã” (Gr 20,10).

Ông bị chế nhạo, bị chống đối, bị đe dọa. Những người từng là bạn hữu lại mong ông thất bại. Ông cảm thấy mình đơn độc giữa một thế giới thù nghịch. Nhưng giữa lúc ấy, Giêrêmia tuyên xưng một niềm xác tín mạnh mẽ: “Chúa hằng ở bên con như một trang chiến sĩ oai hùng” (Gr 20,11). Đó cũng chính là điều Chúa Giêsu muốn nói với các môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay. Ba lần liên tiếp, Ngài nhắc: “Các con đừng sợ” (Mt 10,26-31).

Đó không phải là lời an ủi dành cho những người đang ngồi yên trong vùng an toàn. Đó là lời dành cho những người sắp bước vào một cuộc chiến thiêng liêng, những người sẽ gặp chống đối vì Tin Mừng.

Thông thường, chúng ta sợ những gì có thể làm tổn thương thân xác hoặc cuộc sống của mình. Chúng ta sợ bệnh tật. Sợ nghèo đói. Sợ bị mất danh dự. Sợ bị người khác đánh giá. Sợ những biến cố bất ngờ. Nhưng Chúa Giêsu nói: “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục” (Mt 10,28). Lời này thoạt nghe có vẻ rất mạnh, thậm chí khó chấp nhận. Thế nhưng Chúa đang giúp chúng ta nhìn cuộc đời bằng một cái nhìn sâu hơn. Điều tệ hại nhất không phải là mất tiền, không phải là mất địa vị, cũng không phải là mất mạng sống đời này.

Điều đáng sợ nhất là đánh mất linh hồn mình, đánh mất mối tương quan với Thiên Chúa. Nhiều người giữ được mọi thứ nhưng đánh mất chính mình. Có người vì tiền mà phản bội lương tâm, vì danh vọng mà chà đạp người khác, vì sợ dư luận mà không dám sống theo sự thật. Có thể họ tưởng mình đang giữ được cuộc sống, nhưng thực ra đang đánh mất điều quý giá nhất.

Thánh Ignatiô Antiôkia, trên đường bị giải đến Rôma để chịu tử đạo, đã viết: “Mọi thú vui trần gian và mọi vương quốc trên đất này đều chẳng ích lợi gì cho tôi. Thà chết vì Chúa Giêsu Kitô còn hơn là trị vì khắp cùng trái đất.” * Đó không phải là người liều lĩnh nhưng là người đã khám phá ra giá trị lớn nhất. Trong Chúa Kitô, chúng ta đáng giá hơn mình nghĩ.

Chúa Giêsu đưa ra một hình ảnh rất gần gũi: “Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em” (Mt 10,29). Chim sẻ là loài chim nhỏ bé nhất và rẻ tiền nhất thời đó. Vậy mà Thiên Chúa vẫn quan tâm. Rồi Chúa nói tiếp: “Ngay đến tóc trên đầu anh em, Ngài cũng đếm cả rồi” (Mt 10,30). Đây là một cách diễn tả rất đẹp. Thiên Chúa biết chúng ta nhiều hơn chính chúng ta biết mình. Ngài biết những giọt nước mắt chưa ai nhìn thấy, biết những đau khổ chưa ai hiểu được, biết những cuộc chiến âm thầm trong lòng ta, biết cả những lần chúng ta thất vọng về chính mình.

Vì thế Chúa kết luận: “Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ” (Mt 10,31). Ngày nay, rất nhiều người sống với mặc cảm mình vô giá trị. Họ nghĩ mình thất bại, mình không đủ giỏi, không được yêu thương, chẳng có ý nghĩa gì. Nhưng đối với Thiên Chúa, mỗi con người đều có giá trị vô cùng lớn lao. Giá trị ấy được cân đo bằng chính Thập Giá của Chúa Kitô.

Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II từng nói: “Giáo Hội, vốn đã bén rễ trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống toàn thể nhân loại ngày nay, cũng có được sự chắc chắn và, có thể nói, có được kinh nghiệm về việc gần gũi với con người, với mỗi người, về việc là Giáo Hội của mỗi người, Giáo Hội của Dân Chúa” (Thông Điệp Redemptor Hominis số 22, đoạn 5). Bởi vì mỗi con người đều được Thiên Chúa yêu thương đến mức trao ban chính Con Một của Ngài. Tội lỗi lớn, nhưng ân sủng Thiên Chúa ban còn lớn hơn.

  1. Câu chuyện Ađam.

Thánh Phaolô viết: “Do một người mà tội lỗi đã nhập vào thế gian” (Rm 5,12). Từ Ađam, nhân loại mang trong mình những vết thương của tội lỗi: ích kỷ, ghen ghét, kiêu ngạo, bạo lực, chia rẽ.

Những gì chúng ta chứng kiến trong thế giới hôm nay đều là hậu quả của thực tại ấy.

Tuy nhiên, Thánh Phaolô không dừng lại ở bóng tối. Ngài khẳng định: “Ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Chúa Giêsu Kitô, còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người” (Rm 5,15). Đây là một trong những câu đẹp nhất của thư Rôma. Tội lỗi có thật, sự dữ có thật, nhưng ân sủng còn mạnh hơn. Bóng tối có thật, nhưng ánh sáng mạnh hơn bóng tối. Sự chết có thật, nhưng sự sống lại còn mạnh hơn sự chết.

Đức Bênêđíctô XVI trong chuyến thăm Mộ Thánh đã nói: “Tại đây, Chúa Kitô, Ađam mới, đã dạy chúng ta rằng điều ác không bao giờ có tiếng nói cuối cùng, rằng tình yêu mạnh hơn sự chết, rằng tương lai của chúng ta, và tương lai của toàn nhân loại, nằm trong tay một Thiên Chúa trung tín và quan phòng” (Giêrusalem, thứ Sáu, ngày 15 tháng 5 năm 2009). Tiếng nói cuối cùng thuộc về Thiên Chúa, thuộc về tình yêu, thuộc về sự sống, thuộc về lòng thương xót.

Cuộc đời Thánh Phêrô cho thấy Thiên Chúa không cần những con người hoàn hảo, nhưng cần những người sẵn sàng để Ngài sử dụng. Phêrô chỉ là một ngư phủ bình thường, từng nóng nảy, hấp tấp và ba lần chối Thầy. Nhưng ông biết ăn năn, đứng dậy và tín thác vào lòng thương xót Chúa. Nhờ đó, từ một con người yếu đuối, ông đã trở thành vị lãnh đạo Giáo Hội sơ khai, can đảm rao giảng Tin Mừng và hiến mạng sống vì Chúa Kitô. Thiên Chúa đã biến Phêrô thành tảng đá của Hội Thánh vì thánh nhân biết cậy dựa vào sức mạnh của Chúa hơn là sức riêng mình. Cuộc đời ngài chứng minh rằng Thiên Chúa không cần trước hết những con người tài giỏi nhất, nhưng cần những con người sẵn sàng để Ngài sử dụng. Đừng sợ làm chứng cho Chúa.

Sau cùng, Đức Giêsu nói: “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 10,32). Ngày nay, rất ít người phải đối diện với cái chết vì đức tin như các vị tử đạo thuở xưa. Nhưng chúng ta vẫn đứng trước những thử thách khác. Có khi là sự chế giễu, có khi là áp lực từ môi trường sống, là cám dỗ thỏa hiệp với điều sai trái, là sự im lặng trước bất công.

Tuyên xưng Chúa Kitô hôm nay không chỉ bằng lời nói. Đó còn là sống trung thực khi mọi người gian dối, sống công bằng khi nhiều người ích kỷ, sống tha thứ khi người khác nuôi hận thù, sống yêu thương khi chung quanh đầy chia rẽ. Một đời sống phản chiếu Tin Mừng luôn là lời chứng hùng hồn nhất.

Trong 13 năm tù đày, trong đó có 9 năm biệt giam, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã phải đối diện với biết bao cô đơn, bất công và đau khổ. Thế nhưng, ngài không để mình bị giam cầm bởi sợ hãi hay hận thù. Trái lại, ngài âm thầm cầu nguyện, yêu thương cả những người canh giữ mình và luôn tin rằng Thiên Chúa đang hiện diện trong mọi biến cố. Nhiều năm sau, một số người từng canh giữ ngài đã trở thành bạn hữu của ngài. Cuộc đời của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê cho thấy sức mạnh của người Kitô hữu không nằm ở việc tránh được đau khổ, nhưng ở niềm xác tín rằng Thiên Chúa mạnh hơn mọi sự dữ và không bao giờ bỏ rơi những ai tín thác nơi Ngài.

  1. Trong Bàn Tay Yêu Thương Của Chúa

Đó cũng là điều Giêrêmia đã cảm nghiệm, các thánh đã cảm nghiệm, các vị tử đạo đã cảm nghiệm. Đó cũng là điều mỗi tín hữu được mời gọi khám phá trong cuộc đời mình. Có những tai nạn lẽ ra đã gây chết người nhưng rồi lại không gây tổn hại mấy, có những thất bại đã trở thành bài học, những đau khổ đã trở thành cơ hội trưởng thành, những lúc tưởng như gục ngã nhưng cuối cùng chúng ta vẫn đứng dậy được. Nhìn lại, chúng ta nhận ra rằng có một bàn tay vẫn âm thầm nâng đỡ mình.

Lời Chúa hôm nay không hứa rằng người môn đệ sẽ không gặp khó khăn. Giêrêmia vẫn bị chống đối. Các Tông đồ vẫn bị bách hại. Các thánh vẫn phải đi qua đau khổ.

Nhưng giữa mọi thử thách, Chúa Giêsu vẫn lặp lại: “Các con đừng sợ.”

Đừng sợ vì Thiên Chúa đang ở cùng chúng ta, vì chúng ta quý giá trong mắt Ngài, vì ân sủng mạnh hơn tội lỗi, sự sống mạnh hơn sự chết, vì Chúa Kitô đã chiến thắng thế gian.

Ước gì giữa những bất an của cuộc sống hôm nay, mỗi người chúng ta biết đặt trọn niềm tin nơi Chúa, để có thể cùng với ngôn sứ Giêrêmia mà tuyên xưng: “Hãy ca tụng Chúa, hãy ngợi khen Chúa, vì Ngài đã giải thoát kẻ cơ bần khỏi tay phường hung bạo” (Gr 20,13). Và khi ấy, dù cuộc đời còn nhiều sóng gió, chúng ta vẫn có thể bước đi trong bình an, vì biết rằng mình đang ở trong bàn tay yêu thương của Thiên Chúa.

 

Phêrô Phạm Văn Trung

https://www.newadvent.org/fathers/0107.htm, chương 6.

ĐẾN VỚI CHÚA, RỒI ĐEM CHÚA ĐẾN CHO NGƯỜI KHÁC

Trong một thế giới vẫn còn nhiều bạo lực, ích kỷ và lạc hướng, người ta dễ cảm thấy rằng Thiên Chúa đứng xa nỗi khổ của con người. Thật ra, Thiên Chúa luôn chủ động bước vào lịch sử con người và cuộc đời từng người bằng tình yêu cứu độ. Các bài đọc hôm nay cho thấy điều ấy: từ núi Sinai, nơi Thiên Chúa quy tụ dân Ngài; đến miền Galilê, nơi Chúa Giêsu chạnh lòng thương đám đông bơ vơ. Tất cả cùng kể một câu chuyện: Thiên Chúa yêu thương, cứu độ và sai con người đi làm chứng nhân cho tình yêu của Ngài trong trần thế.

  1. Thiên Chúa luôn yêu thương, bảo vệ và chăm sóc dân Ngài

Trong bài đọc thứ nhất, Thiên Chúa nhắc dân Israel nhớ lại hành trình giải thoát khỏi Ai Cập: “Ta đã mang các ngươi như trên cánh chim bằng, mà đem đến với Ta” (Xh 19,4). Đây là một trong những hình ảnh đẹp nhất của Cựu Ước. Cánh chim bằng trong Kinh Thánh tượng trưng cho sức mạnh, sự bảo vệ và tình yêu chăm sóc. Thiên Chúa không nói: “Các ngươi hãy tự mình tìm cách thoát ra khỏi Ai Cập” nhưng Ngài nói: “Ta đã mang các ngươi.”

Đó là kinh nghiệm của mọi tín hữu. Nhìn lại cuộc đời, chúng ta sẽ nhận ra điều mà các thánh luôn xác tín: Thiên Chúa có thể “vẽ những đường thẳng bằng những đường cong.” Có những thất bại trở thành bài học, những đau khổ trở thành cơ hội trưởng thành, những lúc tưởng như gục ngã lại giúp ta khám phá sức mạnh của ân sủng. Bởi vì như thánh Augustinô đã nói: “Thiên Chúa Toàn Năng, và chính Ngài cũng là Đấng vô cùng nhân từ, Ngài sẽ không bao giờ cho phép bất cứ điều ác nào tồn tại trong các công trình của Ngài, nếu Ngài không toàn năng và nhân từ đủ để có thể tạo ra điều tốt đẹp ngay cả từ điều ác.” [1]

Điều quan trọng là Thiên Chúa giải thoát Israel không chỉ để họ được tự do, nhưng để họ thuộc về Ngài: “Các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta… một dân thánh” (Xh 19,5-6). Vì thế, dân Chúa được tuyển chọn không phải để hưởng đặc quyền ích kỷ, nhưng để sống cho Thiên Chúa và làm chứng cho Ngài. Người Kitô hữu cũng vậy: chúng ta được rửa tội không để tự cho mình đạo đức hơn người khác, nhưng để trở nên dấu chỉ tình yêu Thiên Chúa giữa thế gian.

Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI từng nói: “Trở thành Kitô hữu không phải là kết quả của một lựa chọn đạo đức hay một ý tưởng cao cả, mà là cuộc gặp gỡ với một sự kiện, một con người, mang đến cho cuộc sống một chân trời mới và một hướng đi quyết định” (Thông điệp Deus Caritas Est, số 1). Chính cuộc gặp gỡ ấy biến đổi cuộc đời và trao cho chúng ta một sứ mạng.

  1. Lòng thương xót dẫn tới sứ vụ

Thánh Matthêu kể: “Chúa Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9,36).

Nếu bài đọc thứ nhất cho thấy Thiên Chúa yêu thương dân Ngài, thì Tin Mừng hôm nay cho thấy trái tim yêu thương ấy nơi Chúa Giêsu. Động từ “động lòng thương” trong nguyên ngữ Hy Lạp ἐσπλαγχνίσθη – esplanchnisthē, bắt nguồn từ danh từ σπλάγχνα – splagchna, nghĩa đen là nội tạng, ruột gan. Đối với người Do Thái và Hy Lạp cổ đại, cảm xúc sâu thẳm nhất của con người không nằm ở trái tim như cách chúng ta nghĩ ngày nay, mà nằm ở “ruột gan”.

Vì thế, khi Tin Mừng nói Chúa Giêsu “động lòng thương”, nghĩa là ruột gan của Chúa Giêsu quặn thắt lại, lòng dạ Ngài bị động chạm đến, cả con người Ngài rung động và cảm nhận sâu sắc những nỗi đau khổ của con người. Ngài cảm nhận nỗi đau của người khác, không phải là sự thương hại ngoài miệng, nhưng là cảm giác đau xót, co thắt, thấu cảm những nỗi đau khổ của con người như nỗi đau của chính Ngài, và bị thôi thúc phải hành động để cứu giúp. Qua Chúa Giêsu, lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa chuyển thành hành động: “Rồi Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ lại, để ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 10, 1).

Ngày nay, nếu Chúa Giêsu bước vào thành phố, làng mạc, khu xóm của chúng ta, có lẽ Ngài cũng sẽ nhìn thấy rất nhiều “con chiên không người chăn”. Đó là người trẻ mất phương hướng giữa vô vàn lựa chọn. Đó là người lao động kiệt sức vì gánh nặng cơm áo. Đó là những gia đình đổ vỡ. Đó là những cụ già cô đơn. Đó là những người đang sống bên ngoài ánh sáng Tin Mừng.

Chúa Giêsu không chỉ thương cảm. Ngài hành động. Ngài nói với các môn đệ: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9,37-38). Vấn đề của thế giới hôm nay không phải là thiếu tiền của hay các phương tiện để cứu giúp những người đau khổ, nhưng thiếu người có thiện chí sẵn sàng bước tới để chữa lành những đau khổ ấy.

  1. Chúa mời gọi những con người bình thường

Sau lời mời gọi cầu nguyện, Chúa Giêsu lập tức chọn mười hai tông đồ. Danh sách ấy thật đặc biệt. Có ngư phủ, có người thu thuế, có người nóng nảy, có người nhút nhát, có cả người sẽ phản bội. Không ai đạt yêu cầu, nếu cứ theo tiêu chuẩn tuyển chọn nhân sự của người đời. Nhưng chính họ được chọn. Điều đó mang lại niềm hy vọng lớn lao cho chúng ta, là những người không hoàn hảo.

Thiên Chúa không yêu cầu chúng ta hoàn hảo. Ngài sẽ làm cho những người Ngài gọi nên hoàn thiện dần dần. Thánh Têrêsa Calcutta từng nói: “Chúa không đòi hỏi tôi phải thành công. Chúa đòi hỏi tôi phải trung thành.” [2] Nhiều người nghĩ mình không đủ khả năng phục vụ Chúa vì thiếu kiến thức, thiếu thời gian nhưng lại nhiều yếu đuối. Nhưng nhìn vào nhóm Mười Hai, người ta thấy rằng điều Chúa cần trước hết không phải là tài năng nhưng là một tấm lòng mở ra, đáp lại mong ước xót thương của Ngài. Người biết tín thác vào Chúa, dù yếu đuối nhưng không tin vào sức riêng của mình, vẫn có thể làm nên những điều kỳ diệu.

Cứ nghe nói tới thánh Gioan Vianney là người ta lại nghĩ ngay tới một sinh viên thần học dốt nhất thế giới. Gioan Vianney gặp rất nhiều khó khăn trong việc học tiếng Latinh, triết học và thần học. Học dốt, thua các bạn đến độ có những lúc cảm thấy tủi với thầy, nhục với bạn. Tiêu chuẩn xét duyệt cho thầy Vianney chịu chức linh mục chỉ là những tiêu chuẩn dành cho một giáo dân bình thường: thầy có lòng đạo, biết lần chuỗi và kính mến Đức Trinh Nữ.

Với lòng khiêm tốn, kiên trì cầu nguyện và tín thác nơi Chúa, thầy Gioan Vianney đã trở thành linh mục, rồi được sai đến giáo xứ Ars nhỏ bé heo hút, một giáo xứ gần như nguội lạnh đức tin. Cha Gioan Vianney không dựa vào khả năng riêng nhưng dựa vào đời sống cầu nguyện liên lỉ và tình yêu phó thác nơi Chúa. Không chỉ giáo dân xứ Ars, mà nhiều khách đến xứ Ars, thấy một linh mục gầy ốm, xanh xao, hãm mình phạt xác, thức khuya dậy sớm, miệt mài với việc giải tội. Hơn ba mươi năm, cha Gioan Vianney đã ngồi tòa hơn 172.000 giờ với khoảng hơn 100.000 người đã xưng tội với cha, và làm hồi sinh đức tin của biết bao người. Gioan Vianney học dốt thế nhưng lại là một người làm lay chuyển không chỉ giáo xứ Ars, mà cả nước Pháp, không chỉ chinh phục được giới bình dân mà cả Lacordaire (1802-1861), vị linh Mục thuyết giảng nổi tiếng người Pháp thành công vượt trội tại Nhà Thờ Chính Tòa Đức Bà Paris trong hai Mùa Chay liên tiếp 1835 và 1836, rất có công trong việc chấn chỉnh Tỉnh dòng Đa Minh tại Pháp. Cuộc đời của thánh Gioan Vianney cho thấy Thiên Chúa không cần những con người hoàn hảo, nhưng cần những tâm hồn sẵn sàng để Thiên Chúa hành động. Những ai biết cậy dựa vào Chúa có thể làm được những điều vượt xa khả năng của mình. [3]

  1. Nhận nhưng không, thì trao ban nhưng không

Toàn bộ đời sống Kitô hữu được tóm gọn trong câu: “Các con đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không” (Mt 10,8). Đây là một trong những câu Tin Mừng đẹp nhất.

Chúng ta đã nhận lãnh biết bao điều nhưng không: sự sống, gia đình, đức tin, ơn cứu độ, tình yêu, sự tha thứ. Không ai mua được những điều ấy. Tất cả đều là hồng ân. Vì thế, người Kitô hữu không thể sống khép kín. Ai đã nhận được tình yêu thì phải trao ban tình yêu. Ai đã được tha thứ thì phải biết tha thứ. Ai đã được nâng đỡ thì phải biết nâng đỡ người khác.

Nhưng điều gì cho chúng ta sức mạnh để yêu thương như thế? Thánh Phaolô trả lời: “Chúa Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (Rm 5,8). Thiên Chúa yêu chúng ta không phải vì chúng ta xứng đáng, nhưng vì Ngài yêu trước và yêu đến cùng. Thập giá là bằng chứng lớn lao nhất của tình yêu ấy: một tình yêu dám hy sinh và có sức biến kẻ thù thành bạn hữu. Nếu Thiên Chúa đã tha thứ và hòa giải chúng ta với Ngài, thì chúng ta cũng được mời gọi đem yêu thương và hòa giải đến cho người khác, ngay trong gia đình, nơi làm việc, trường học, khu xóm và trên mạng xã hội hôm nay, nơi có biết bao người đang cần được yêu thương và cảm thông.

Một lần, các nữ tu của Mẹ Têrêsa Calcutta cứu một người hấp hối bị bỏ rơi bên đường. Các nữ tu mang ông về chăm sóc. Trước khi qua đời, ông nói: “Tôi đã sống như một con vật ngoài đường phố, nhưng tôi chết như một người được yêu thương.” Đó chính là Tin Mừng: chúng ta có thể giúp một người cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa qua bàn tay chăm sóc của chính chúng ta. Thế giới hôm nay không chỉ cần những người nói về Thiên Chúa, mà còn cần những người làm cho người khác cảm nhận được rằng Thiên Chúa vẫn đang yêu thương họ.

Xin Chúa ban cho mỗi người chúng con biết mở mắt nhìn thấy những con người ấy chung quanh mình, biết mở lòng để cảm được nỗi đau của họ, và biết mở đôi tay nâng đỡ để trở thành khí cụ thương xót của Chúa.

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://sjvlaydivision.org/greater-good/

[2] https://www.catholicmom.com/articles/lessons-from-saint-teresa-of-calcutta-on-her-feast-day

[3] https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/linh-dao-cua-thanh-gioan-maria-vianney-42431

LỜI CHÚA (Mt 9, 36-10, 8) & SUY NIỆM CHÚA NHẬT 11 THƯỜNG NIÊN NĂM A

Lời Chúa:

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu (Mt 9, 36-10, 8): Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ dân chúng, liền động lòng xót thương họ: vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn, Người liền bảo môn đệ rằng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa”. Và Người liền triệu tập mười hai môn đệ, ban cho họ quyền năng trên các thần ô uế, để họ xua đuổi chúng, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền. Ðây là tên của mười hai tông đồ: trước hết là Simon cũng gọi là Phêrô, rồi đến Anrê em ông; Giacôbê con của Giêbêđê và Gioan em ông; Philipphê và Bartôlômêô; Tôma và Matthêu người thu thế; Giacôbê con của Alphê và Tađêô; Simon người Cananêô và Giuđa Iscariốt, kẻ nộp Người. Chúa Giêsu sai mười hai ông này đi và truyền lệnh cho các ông rằng: “Các con đừng đi về phía dân ngoại, và đừng vào thành các người Samaritanô. Nhưng tốt hơn, các con hãy đi đến cùng chiên lạc của nhà Israel trước đã, và rao giảng rằng: “Nước Trời đã đến gần”. Hãy chữa lành người liệt, phục sinh kẻ chết, chữa lành người phung, và xua trừ ma quỷ. Các con đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không. Ðó là Lời Chúa

Suy Niệm Lời Chúa:

Thánh Phanxicô Xaviê, trong một bản tường trình đã viết như sau: “Nhiều người ở đây đã không thể trở thành Kitô hữu, chỉ vì chẳng có ai được chuẩn bị để đảm nhận sứ vụ giảng dạy cho họ. Con cảm thấy bị thôi thúc muốn đến các đại học Âu Châu, đặc biệt là đại học Sorbonne ở Paris, để la lên, như một gã điên, cho những người giàu trí thức hơn là thiện chí, yêu cầu họ xử dụng trí thức của họ làm sao cho lợi ích. Phải chi trong khi nghiên cứu các môn nhân văn, họ cũng nghiên cứu sổ kế toán về những điều Thiên Chúa sẽ đòi hỏi họ qua tài năng Ngài đã ban cho họ. Lúc đó nhiều người hẳn sẽ xúc động kêu lên: Lạy Chúa, này con đây, Chúa muốn con phải làm gì?

- Ý của bản tường trình của thánh Phan-xi-cô nói trên khiến cho chúng ta nhớ tới lại Chúa phán: Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít, các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của mình. Lời này từ năm 30 của thế kỷ 1 cho đến hôm nay, vẫn còn mang tính cách thời sự nóng bỏng của nó.

+/ Thợ là gì trong thời đại AI này? Thưa Thợ thì phải trau dồi cho lành nghề chuyên nghiệp, nếu không sẽ bị thất nghiệp. Kỷ thuật trình độ chuyên môn phải trau dồi cho ngày càng cao.

- Làm Thợ trong cánh đồng truyền giáo của giáo hội Chúa cũng phải chăm lo trau dồi chuyên nghiệp. Làm cho sắc bén ngày một hơn. Thợ Truyền Giáo là điều Chúa muốn nói qua Tin Mừng. Mỗi một ơn gọi đều phải trau dồi cho lành nghề chuyên nghiệp. Bởi vì mỗi người chúng ta tùy theo ơn Chúa gọi đều phải là một người Thợ gặt được sai đến trên cánh đồng truyền giáo bát ngát bao la. Mỗi người đều có một “cánh đồng” riêng như: gia đình, xóm làng, nơi làm việc, cộng đoàn… Nơi đó luôn có những con người đang chờ đợi một lời nâng đỡ, một cử chỉ yêu thương để đến với Chúa với ơn cứu độ.
- Ta suy niệm về mùa gặt sau khi đã suy niệm về thợ gặt. Mùa gặt là gì? xin thưa mùa gặt, hay mùa lúa chín là tất cả những người hiện đang tìm kiếm Chúa, tìm kiếm chân lý, tìm kiếm mục đích và ý nghĩa cuộc đời.

+/ Thế tại sao ngày hôm nay lại có quá ít thợ gặt như vậy?

- Lý do thứ nhất là vì chúng ta chưa thực hành triệt để điều Chúa đã truyền: Hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của mình. Có bao nhiêu người trong chúng ta, thường xuyên cầu nguyện xin Chúa thôi thúc tâm hồn các bạn trẻ, để họ nghiêm chỉnh đáp trả ơn gọi của Chúa. Có bao nhiêu người trong chúng ta thường xuyên cầu nguyện xin Chúa thôi thúc tâm hồn những người đã lập gia đình, để họ nghiêm chỉnh dấn thân vào mùa gặt bằng lời cầu nguyện và bằng những giúp đỡ tài chính hoặc làm bất cứ việc gì có thể trong khả năng.

- Lý do thứ hai liên quan đến các gia đình. Liệu gia đình chúng ta có còn là thửa vườn ươm trồng ơn gọi hay không? Là những bậc làm cha mẹ, chúng ta đã nói cho con em chúng ta về việc chọn lựa đời sống tu trì như thế nào?

- Lý do thứ ba liên quan đến cá nhân mỗi người chúng ta, đó là chúng ta có sẵn sàng hiến dâng cho Chúa trong nếp sống tu thân tích đức? Có bao giờ chúng ta nghĩ đến việc phải làm một điều gì đó để trực tiếp giúp cho việc truyền giáo không?

- Từ Tin Mừng ta vừa nghe, Đức Giêsu đã nhận ra Ngài Cần những thợ gặt cho vụ mùa, cần mục tử để tiếp tục thay ngài chăm lo cho đàn chiên của Chúa. Chính vì thế Ngài đã kêu gọi Nhóm Mười Hai, cho họ quyền trên các thần ô uế, quyền chữa lành, rồi sai họ đến với dân Ítraen, là đàn chiên lạc. Sau khi Chúa về trời, Chúa Thánh Thần đã hiện xuống thay ngài phù trợ các môn đệ, thì Chúa Giê-su mới truyền cho các môn đệ truyền giáo cho dân ngoại và muôn dân nước khác ngoài Do-thái. Và đến hôm nay là nhiệm vụ truyền giáo của tất cả Giáo Hội chúng ta.

+/ Tông huấn Evangelii Nuntiandi (Loan Báo Tin Mừng) của Đức Thánh Cha Phaolô VI, tóm tắt chương 2 trong 7 chương, nội dung trọng tâm: Bản chất của việc Loan báo Tin Mừng. Đây là đặc sủng và ơn gọi riêng biệt của Giáo hội. Loan báo Tin Mừng là một tiến trình phức hợp bao gồm: đổi mới nhân loại, làm chứng bằng đời sống, rao giảng minh bạch, dạy giáo lý và cử hành các Bí tích.

- Chương 3. Nội dung của Tin Mừng. Trọng tâm: Giải thoát con người khỏi tội lỗi để hiệp thông với Thiên Chúa. Thăng tiến con người: Tin Mừng không tách rời các vấn đề trần thế như công lý, hòa bình và phát triển, nhưng không được giản lược truyền giáo thành một dự án chính trị hay xã hội thuần túy.

- Chương 4: Phương pháp Loan báo. Chứng tá đời sống: "Người thời nay tin vào các chứng nhân hơn là thầy dạy". Rao giảng: Lời nói vẫn đóng vai trò thiết yếu để giải thích ý nghĩa của đời sống chứng tá. Tiếp xúc cá nhân: Việc truyền giáo "từ người này sang người khác" trong cuộc sống thường nhật.

+/ Khoảng năm 65 thế kỷ 1 về sau, thánh Phao-lô trong Bài Ðọc II: Rm 5, 6-11, giảng rằng: Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta. Vậy phương chi bây giờ, chúng ta đã nên công chính trong máu của Người…Chúng ta phải có nhiệm vụ loan báo ơn cứu độ=truyền giáo=Cho nhiều người biết Chúa và Phúc Âm.

- Sau cùng, Lời bài giảng của thánh An-tôn Pa-đô-va, linh mục (lễ 13-06): Lời nói sẽ hùng hồn khi có việc làm minh chứng. Hãy im đi để cho việc làm lên tiếng. Chúng ta nói nhiều, nhưng làm chẳng bao nhiêu, vì thế mới bị Chúa nguyền rủa như Người đã nguyền rủa cây vả, khi thấy nó không sinh trái mà chỉ có lá thôi… Ai dùng việc làm mà phá huỷ đạo lý luật dạy, thì dù có dạy luật cũng chỉ là khoác lác ba hoa. Amen

 Linh mục Gb Nguyễn Ngọc Nga

TÌNH CHO KHÔNG

Nền kinh tế hàng hóa càng phát triển theo các quy luật thị trường thì việc bán mua, trao đổi thường dựa trên việc thuận mua vừa bán. Tiền nào của đó (you get what you pay). Chuyện tiền trao cháo múc được xem như chuyện tất yếu, đương nhiên. Và thế là dần dà hình thành trong nghĩ suy và trong cung cách ứng xử, một sự đòi hỏi “có qua có lại”, “đôi bên cùng có lợi”. Chuyện cho không, biếu không, đúng là chuyện viễn vông hay của thời quá khứ xa xưa. Đây là một trong những nguyên cớ làm phát sinh sự vị kỷ, tâm lý thực dụng cá nhân chủ nghĩa.

Chia sẻ, trao ban cho tha nhân những gì mình là, mình có, một cách vô cầu, không chút điều kiện quả thật không dễ chút nào. Thế mà Chúa Kitô lại truyền dạy các môn đệ xưa và Kitô hữu chúng ta mọi thời rằng “Anh em đã lãnh nhận nhưng không thì hãy trao ban nhưng không” (Mt 10,8). Làm sao để vượt qua nỗi khó khăn này hầu thực thi lời Chúa phán dạy? Chúa Kitô đã cho chúng ta chiếc chìa khóa để giải quyết vấn nạn:

Anh em đã lãnh nhận cách nhưng không: Vấn đề nan giải là ở điểm này. Người ta thường tự hào về những gì tốt đẹp mình có. Vì nghĩ rằng mọi sự mình đang có đều là do bởi công sức mình tạo nên. Và lắm khi còn lầm nghĩ rằng chính sự hiện hữu của mình cũng do mình dệt thành. Có nhiều điều mới thoạt nhìn thì xem chừng như là sản phẩm của riêng mình, nhất là khi chúng trở thành một thứ hàng hóa được pháp luật bảo hộ. Đó là những phát minh, những sáng chế trong văn học nghệ thuật hay trong lãnh vực khoa học công nghệ. Không ai được quyền xâm phạm bản quyền sản phẩm tôi làm ra nếu không có sự thỏa thuận, sự đồng ý của tôi, vì đó là của riêng tôi, do bởi tài năng, công sức riêng tôi. Để bảo vệ quyền tác giả, các quốc gia lẫn quốc tế có những luật lệ nghiêm nhặt. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có luật chống độc quyền. Dù sao đi nữa thì cái môi sinh mang tính thị trường hiện nay đã góp phần hình thành tâm lý vị kỷ và tự tin thái quá, nghĩa là quy về mình mọi thành công đạt được.

Dưới cái nhìn Kitô giáo thì mọi sự đều là hồng ân. Cái nhìn này khởi đi từ việc tin nhận sự hiện hữu mọi loài, sự hiện hữu của chính mình là do bởi tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa. Nếu Chúa rút hơi lại thì mọi loài sẽ trở về hư vô. Và vì thế “Ví như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công” (Tv 126,1). Chẳng một ai bỏ ra chút công sức nào để được làm người trên thế gian này. Cũng chẳng một ai phải trả đồng nào cho mặt trời mọc lên hay cho mỗi ngày có đủ đầy 24 giờ chẳng thiếu một giây. Người vô tín thì cho là chuyện tự nhiên, còn người có niềm tin thì nhìn nhận có một Đấng nào đó trao ban mà Kitô hữu gọi là Thiên Chúa.

Trở về với dòng lịch sử cứu độ chúng ta càng thấy rõ tính nhưng không, vô điều kiện này. Israel, dân Chúa xưa thường được các ngôn sứ nhắc nhủ rằng họ chẳng là gì cả. Họ là một dân nhỏ bé, thế mà Giavê Thiên Chúa đã chọn làm dân riêng, làm dân thánh, chỉ vì tình yêu của Người mà thôi. Thánh Tông đồ dân ngoại khẳng định với chúng ta: “Thưa anh em, khi chúng ta không có sức làm được gì, vì còn là hạng người vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Kitô đã chết vì chúng ta. Hầu như không ai chết vì người công chính, họa may có ai dám chết vì người lương thiện chăng. Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5,6- 8).

Trong số mười hai vị Tông Đồ mà Chúa Giêsu chọn gọi để cộng tác với Người để thực thi chương trình cứu độ, thử hỏi có vị nào đáng mặt anh hùng theo các giá trị nhân bản. Dưới cái nhìn đạo đức của Do Thái giáo thời bấy giờ thì các ngài hẳn chưa đủ điểm trung bình, nếu chưa muốn nói là còn quá yếu kém nhiều phương diện. Thế mà Chúa Giêsu đã chọn các ngài sau một đêm thức trắng để cầu nguyện (x.Lc 6,12-16). Người chọn các vị không phải để trang trí cho một vở tuồng sân khấu mà là để “ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 10,1). Không phải các ông đã chọn Thầy Giêsu nhưng chính Thầy Giêsu đã chọn các ông, một sự chọn gọi xuất phát từ một tình yêu vô điều kiện và chỉ có thế thôi (x.Ga 15,16).

Hãy trao ban cách nhưng không những gì đã lãnh nhận cách nhưng không: Chúa Kitô đã làm gương cho chúng ta về động thái trao ban này. Vì đã lãnh nhận tất cả từ Chúa Cha, Chúa Kitô sẵn sàng hiến dâng tất cả trong sự vâng phục tuyệt đối đến độ Người xác nhận “Lương thực của Người là làm theo ý Đấng đã sai Người” (x.Ga 4,34). Vào trần gian, Chúa Cha đã trao ban cho người một thân xác và Người đã hiến dâng lại cho Cha qua hiến tế thập giá (x.Lc 26-3,46). Sống vâng phục là một cách thế trao ban sự hiện hữu của mình cách hoàn hảo. Khi ta vâng nghe Lời Chúa phán dạy là ta đang hiến dâng chính cả con người chúng ta cho Đấng dựng nên chúng ta từ hư vô.

Thật là khó khi tự nguyện trao ban cho tha nhân một cách vô điều kiện những điều tốt đẹp ta có như của cải vật chất, công sức, thời giờ… Tâm lý thường tình “bánh ít trao đi thì mong bánh nhì gửi lại”. Thực tế thì hình như ít có ai “cho không”, “biếu không”, ngay cả trong các chương trình viện trợ không hoàn lại của các chính phủ hay các tổ chức, tập thể xã hội. Trao ban cách nhưng không đó là trao ban chỉ vì hạnh phúc người được trao ban, đồng thời chính người trao ban sẵn sàng tự hủy mình đi một cách nào đó. Một điều dường như là không tưởng nhưng thời sẽ thành hiện thực nếu ta biết kết hiệp với Đấng vốn là Thiên Chúa đã tự hủy mình ra không vì chúng ta (x.Phil 2,6-11).

Để có thể yêu thương, hiến dâng, trao ban cho tha nhân những gì mình là, những gì mình có một cách vô cầu, thiết tưởng cần có một đời sống cầu nguyện sâu lắng và chuyên chăm kết hiệp với Thiên Chúa. Chính khi kết hiệp với Thiên Chúa qua sự cầu nguyện chúng ta mới có cơ may nhận ra những gì ta đang là, đang có, đều do bởi đã lãnh nhận cách nhưng không. Thánh sử Maccô làm rõ chân lý này khi tường thuật việc Chúa Giêsu chọn gọi mười hai tông đồ: “Người lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn. Và các ông đến với Người. Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ” (Mc 3,13-15).

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột

Subcategories