3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

Nẻo về hạnh phúc

Thi đàn Trung Quốc từ cổ chí kim nổi lên một tên tuổi lớn, đó là nhà thơ Lý Bạch, thời Thịnh Đường (701 – 762). Ông tự xem mình như tiên ông bị lưu đày xuống thế. Ông ưa sống kiếp lãng du, say mê vẻ đẹp đất trời, vẻ đẹp sông núi, trăng sao…

Theo truyền tụng nhân gian, vào một đêm trăng tỏ, Lý Bạch buông thuyền xuôi theo giòng sông Thái Trạch lấp lánh ánh trăng đêm. Ông đàn hát ngâm vịnh và uống rượu thưởng thức trăng.

Càng về khuya, men rượu nồng bốc lên càng làm ngây ngất lòng thi sĩ. Sông nước, cảnh vật lúc ấy càng huyền ảo nên thơ. Ông cảm thấy mình như đang lạc vào chốn bồng lai. Mảnh trăng diệu huyền in hình dưới làn nước lung linh như đang gọi mời ông tao ngộ.

Thế là ông nhoài mình qua mạn thuyền, cúi thật sâu xuống nước để ôm lấy vầng trăng mà ông say đắm lâu nay.

Than ôi! Ông đã bỏ hình bắt bóng và giòng sông oan nghiệt đã kết liễu đời ông.

Trên cao, vầng trăng thật như đang mỉm cười chế giễu ông.

***

Truyền thuyết về nhà thơ họ Lý cũng là một bức tranh sống động diễn tả thực trạng của người thời đại. Nhân loại hôm nay đang khao khát kiếm tìm hạnh phúc, nhưng họ đâu biết rằng Thiên Chúa là cội nguồn của hạnh phúc.

Như thể chỉ có một vầng trăng thật in thành hàng tỷ chiếc bóng trăng trên các ao hồ khe suối, thì cũng chỉ có một Cội Nguồn hạnh phúc (là Thiên Chúa) toả xuống vô vàn mảnh vụn hạnh phúc nơi các sự vật phù du ở đời.

Thế là thay vì tìm về Cội Nguồn hạnh phúc là Thiên Chúa, người ta dại dột đâm đầu vào những chiếc bóng của hạnh phúc nơi những tạo vật phù du.

Quả thế, người ta tưởng hạnh phúc nằm nơi bạc tiền, của cải, nơi lạc thú vật chất… nên người ta đâm đầu vào đó như những những con thiêu thân lao vào lửa, như Lý Bạch nhào xuống nước tìm trăng.

Thời thanh xuân, Augustino là con người khao khát hạnh phúc cách mãnh liệt. Anh bôn ba kiếm tìm hạnh phúc trong văn chương và triết lý, trong dục vọng và lạc thú trần gian… nhưng Anh đã thất vọng ê chề và cảm thấy tâm hồn chất ngất sầu đau. Mãi đến năm ba mươi ba tuổi, Augustino mới cảm thấy tất cả những lạc thú trần gian chỉ là ảo ảnh của hạnh phúc, chẳng khác chi bóng trăng in hình đáy nước và Anh ngộ ra rằng chỉ có Thiên Chúa mới là ‘Vầng Trăng’ thật, là Hạnh Phúc thật mà thôi. Bấy giờ, với tâm hồn tràn đầy hoan lạc, Augustino kêu lên:  “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Ngài nên hồn con thổn thức khôn nguôi cho đến khi được an nghỉ trong Ngài”.

***

Qua trích đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su chỉ cho chúng ta tám nẻo đường đưa nhân loại về cội nguồn hạnh phúc, đó là tám mối phúc thật.  Ai bước theo tám nẻo đường nầy chắc chắn sẽ đi đến Cội Nguồn hạnh phúc là Thiên Chúa. Tám nẻo đường đó được liệt kê như sau:

* Tinh thần nghèo khó: biết nhận ra sự nghèo nàn của nội tâm mình, nhận biết rằng mình không là gì cả, tất cả những gì ta có là của Chúa ban…

* Cư xử hiền lành, biết nhường biết nhịn và mềm mỏng với mọi người…

* Chấp nhận sầu khổ hơn là gây khổ đau cho người khác …

* Khao khát trở nên người công chính,

* Đầy lòng xót thương, đối xử nhân ái với mọi người…

* Tâm hồn trong sạch, không chất chứa điều tà, điều gian ác, điều bất công…

* Chung tay xây dựng hoà bình, sống hoà thuận với mọi người cũng như làm cho mọi người hoà thuận với nhau…

* Sẵn lòng chịu bách hại vì sống công chính thanh liêm …

 

Nẻo về Hạnh Phúc đã rộng mở.

Bí quyết vào Nước Trời đã được giải bày.

Vấn đề còn lại là chúng ta có chấp nhận bước theo con đường mà Chúa đã đề nghị với chúng ta hay không. 

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 

Tin mừng Mat-thêu 5, 1-12

1 Thấy đám đông, Đức Giê-su lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên.2 Người mở miệng dạy họ rằng:
3 “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,

vì Nước Trời là của họ.

4 Phúc thay ai hiền lành,

vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

5 Phúc thay ai sầu khổ,

vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

6 Phúc thay ai khát khao nên người công chính,

vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

7 Phúc thay ai xót thương người,

vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

8 Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch,

vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

9 Phúc thay ai xây dựng hoà bình,

vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

10 Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính,

vì Nước Trời là của họ.

11 Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.

12 Anh em hãy vui mừng hớn hở,

vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.

Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế.

 

Chữ Phúc

Chữ PHÚC (Phước) đứng đầu trong bộ ba Phúc-Lộc-Thọ, chứng tỏ Phúc là điều rất quan trọng. Bộ ba này được tượng trưng bằng ba ông già, gọi là Tam Đa. Ông Phúc tượng trưng cho sự may mắn, tốt lành, thường được đặt ở giữa ông Lộc và ông Thọ.

Trong Cựu Ước, PHÚC được nhắc tới nhiều: “Phúc thay người chẳng nghe theo lời bọn ác nhân, chẳng bước vào đường quân tội lỗi, không nhập bọn với phường ngạo mạn kiêu căng, nhưng vui thú với lề luật Chúa, nhẩm đi nhẩm lại suốt đêm ngày” (Tv 1:1-2), hoặc: “Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ Chúa, ăn ở theo đường lối của Người” (Tv 128:1). Và còn nhiều câu khác nữa (ví dụ một số câu: Lc 7:22-23, Lc 11:28, Lc 14:15, Ga 20:29, Rm 4:7-8, Rm 14:22, Gc 1:12, Gc 5:11, Kh 1:3, Kh 19:9, Kh 20:6, Tv 1:1-2, Tv 33:12, Tv 106:3, Tv 112:5, Tv 119:1-2, Tv 144:15, Tv 146:5, Hc 28:19, Cn 3:13, Cn 8:32, Cn 8:34, G 5:17, Is 56:2, Gr 17:7,…).

Trong Tân Ước, Đức Giêsu cũng thường nhắc đến PHÚC, đặc biệt là Bát Phúc (Tám Mối Phúc) trong Bài Giảng Trên Núi (Mt 5:3-12; Lc 6:20-23), cũng được gọi là “Hiến Chương Nước Trời”. Riêng với Tông đồ Phêrô, Chúa Giêsu đã nói: “Này anh Simôn con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16:17).

Tuy nhiên, những người lười biếng, ưa nhàn rỗi hoặc ngồi chờ sung rụng thì không thể hưởng phúc, chẳng ai có thể ngồi mát mà thanh thản ăn bát vàng. Về tâm linh cũng vậy, muốn hưởng phúc thì phải chịu khổ, phải miệt mài “vác thập giá”.

Về điều kiện để hưởng phúc, sách Xô-phô-ni-a có lời hiệu triệu: “Hỡi tất cả những ai nghèo hèn trong xứ sở, những kẻ thi hành mệnh lệnh của Đức Chúa, anh em hãy tìm kiếm Người; hãy tìm sự công chính, hãy tìm đức khiêm nhường thì may ra anh em sẽ được che chở trong ngày thịnh nộ của Đức Chúa” (Xp 2:3). Cuộc tìm kiếm nào cũng vất vả, không thể nhàn hạ hoặc thoải mái. Lời hiệu triệu này cũng chính là lời cảnh báo mạnh mẽ dành cho chính mỗi người chúng ta ngày nay vậy!

Thiên Chúa là Đấng công chính và yêu người sống khiêm nhường, vì thế Ngài sẽ xua đuổi những kẻ kiêu căng đắc thắng, triệt hạ kẻ ngông nghênh tự phụ, như Ngài đã nói thẳng với dân Ít-ra-en: “Ta sẽ cho sót lại giữa ngươi một dân nghèo hèn và bé nhỏ; chúng sẽ tìm nương ẩn nơi danh Đức Chúa. Số dân Ít-ra-en còn sót lại sẽ KHÔNG làm chuyện tàn ác bất công, cũng KHÔNG ăn gian nói dối và miệng lưỡi chúng sẽ KHÔNG còn phỉnh gạt. Nhưng chúng sẽ được chăn dắt và nghỉ ngơi mà không còn bị ai làm cho khiếp sợ” (Xp 3:12-13). Ba cái “không” đó thực sự cần thiết, nhưng chúng ta lại thấy thường xảy ra trong cuộc sống hằng ngày – tức là người ta hành động trái ngược với “ba không” đó. Thà có ít người mà tốt lành còn hơn nhiều người mà toàn “cá mè một lứa”, bụng dạ xấu xa, tâm địa độc ác, sống giả hình,…

Những người sống lưỡng diện hoặc đa diện đều không phù hợp với Thiên Chúa. Tại sao? Tác giả Thánh Vịnh cho biết: “Người là Đấng tạo thành trời đất với biển khơi cùng muôn loài trong đó. Người là Đấng giữ lòng trung tín mãi muôn đời” (Tv 146:6). Thiên Chúa chí minh và chí thiện, Ngài “xử công minh cho người bị áp bức, ban lương thực cho kẻ đói ăn, giải phóng những ai tù tội, mở mắt cho kẻ mù loà, cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên, yêu chuộng những người công chính, phù trợ những khách ngoại kiều, nâng đỡ cô nhi quả phụ, nhưng phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân” (Tv 146:7-9).

Thiên Chúa toàn năng, tất cả đều bởi Ngài và nhờ Ngài. Tác giả Thánh Vịnh xác định: “Chúa nắm giữ vương quyền muôn muôn thuở, Sion hỡi, Chúa Trời ngươi hiển trị ngàn đời” (Tv 146:10). Lời nhắc nhở và xác định này không chỉ dành cho dân Sion ngày xưa, mà dành cho cả mọi người và mọi thời, trong đó có chúng ta ngày nay.

Phàm nhân chúng ta yếu đuối, mọn hèn, đó là điều chắc chắn. Biết thế mà chúng ta vẫn “chảnh”, ảo tưởng và mạo nhận. Không làm được gì thì lấm la lấm lét, có vẻ “nhu mì” lắm, nhưng làm được chút gì thì vội vênh vang tự đắc, coi không ai ra gì, thả ga quá trớn, hứng chí sảng nên phát ngôn bừa bãi, thậm chí sai cả tín lý. Đã từng có những người như vậy, đáng quan ngại vì đó lại là linh mục. Lạy Chúa, nguy hiểm quá!

Con người rất dễ ảo tưởng, mq biết điều đó nên chúng luôn khôn khéo thúc giục chúng ta đề cao “cái tôi” của mình. Luxiphe là “tấm gương to lớn” phản chiếu sự kiêu ngạo mà chúng ta phải can đảm nhìn vào để nhận thấy sự mê muội của mình. Chúa Giêsu đã cảnh báo rất nhiều lần, rồi Thánh Phaolô cũng phải lên tiếng nhắc nhở và phân tích tỉ mỉ: “Thưa anh em, anh em thử nghĩ lại xem: khi anh em được Chúa kêu gọi thì trong anh em đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người quý phái. Song những gì thế gian cho là điên dại thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ diệt những gì hiện có, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người” (1 Cr 1:26-29). Cách thức của Thiên Chúa hoàn toàn khác với cách thức của chúng ta. Liệu chúng ta có nhận ra?

Càng nhận biết Thiên Chúa thì chúng ta càng có thể nhận diện chính mình, nhờ đó mà “cái tôi” sẽ mờ nhạt dần dần. Thánh Phaolô nói thêm: “Phần anh em, chính nhờ Thiên Chúa mà anh em được hiện hữu trong Đức Kitô Giêsu, Đấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sự khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hoá và cứu chuộc anh em, hợp như lời đã chép rằng: Ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa (1 Cr 1:30-31). Sự tự hào như vậy mới thực sự có giá trị, nhưng cũng nên lưu ý rằng sự tự hào và sự kiêu ngạo rất dễ hoán chuyển lẫn nhau, vì chúng khá giống nhau.

Hãnh diện vì Chúa là một dạng Phúc. Có nhiều dạng Phúc, nhưng đặc biệt hơn cả là Bát Phúc mà chính Chúa Giêsu cho chúng ta biết, được Thánh sử Mát-thêu ghi lại chi tiết trong trình thuật Mt 5:1-12 (mạch lạc hơn Lc 6:20-23).

Một hôm, Đức Giêsu lên núi và thấy có đám đông theo mình. Họ là những người từ miền Ga-li-lê, vùng Thập Tỉnh, thành Giêrusalem, miền Giu-đê và vùng bên kia sông Gio-đan. Họ theo Chúa Giêsu vì lúc này danh tiếng Ngài bắt đầu nổi như cồn về cách giảng dạy thu hút và chữa lành nhiều bệnh nhân. Khi đó, Ngài ngồi xuống, các môn đệ cũng ngồi gần bên. Ngài điềm tĩnh nói với họ 8 điều (Mt 5:3-10), vừa ngắn gọn vừa dễ nhớ:

1. Phúc thay ai có tâm hồn NGHÈO KHÓ, vì Nước Trời là của họ.

2. Phúc thay ai HIỀN LÀNH, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

3. Phúc thay ai SẦU KHỔ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

4. Phúc thay ai KHÁT KHAO nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

5. Phúc thay ai XÓT THƯƠNG người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

6. Phúc thay ai có tâm hồn TRONG SẠCH, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

7. Phúc thay ai xây dựng HOÀ BÌNH, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

8. Phúc thay ai BỊ BÁCH HẠI vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

Cuối cùng, Ngài nói thêm: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta SỈ VẢ, BÁCH HẠI và VU KHỐNG đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế” (Mt 5:11-12).

Đó là bản Đệ Nhất Tuyên Ngôn về Nước Trời, chắc chắn không bản tuyên ngôn nào ngắn gọn và súc tích hơn vậy – từ cổ chí kim. Thiết tưởng cũng nên biết thêm rằng, sau khi đọc Bản Tuyên Ngôn Nước Trời, vĩ nhân Gandhi (vị Cha già Đáng kính của dân tộc Ấn Độ, được dân Ấn coi là thánh nhân) đã tuyên bố rằng Bài Giảng Trên Núi là bản tuyên ngôn HAY NHẤT, và nhờ đó mà ông cảm thấy yêu mến Chúa Giêsu.

Tuy nhiên, chúng ta lại phải suy tư nhiều và tự xét mình về nhận xét của ông Gandhi: “Nếu những người Công giáo sống đúng theo Tin Mừng Đức Kitô thì dân tộc của tôi bớt khổ. Tôi sẵn sàng làm Kitô hữu nếu tôi tìm được những Kitô hữu thực thi Bài Giảng Trên Núi”. Có lẽ chúng ta phải tự cảm thấy vô cùng xấu hổ!

Trong Bản Tuyên Ngôn Nước Trời, Chúa Giêsu không hề nói bóng gió, Ngài nói rất rõ ràng và mạch lạc, để ai cũng có thể dễ dàng hiểu, dù đó là ai. Thế nhưng đôi khi có lẽ chúng ta vẫn “ngại” hiểu, hoặc cố tình không hiểu, chứ không phải không hiểu. Và Thánh Phaolô cũng khuyên rất rạch ròi: “Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác (Rm 12:21).

Hôm nay không chỉ là Chúa Nhật – ngày của Thiên Chúa, mà còn là ngày đặc biệt của dân Việt Nam: Tết Nguyên Đán. Một điều đặc biệt nữa là Mồng Hai Tết: ngày kính nhớ tổ tiên, ông bà và cha mẹ – những thân nhân của chúng ta. Tin Mừng hôm nay đề cập Bát Phúc là một sự trùng hợp kỳ lạ.

Chúng ta đang tận hưởng một dạng Phúc do Thiên Chúa tặng ban: mừng Xuân và ăn Tết Đinh Dậu. Tiếng Gà gáy sáng gợi lên nhiều điều chúng ta cần suy tư để cố gắng sống trong năm Con Gà này, đặc biệt là lời nhắc nhở của Con Gà về việc sám hối – như Thánh Phêrô đã phải “giật mình” vì tiếng Gà gáy sáng, và ông đã khóc lóc thảm thiết (x. Mt 26:75; Mc Mc 14:72; Lc 22:61; Ga 18:15-18, 25-27), mặc dù Chúa Giêsu đã cảnh báo trước đó (x. Mt 26:34; Mc 14:30; Lc 22:34).

Ước gì mỗi chúng ta trở thành những “con gà tốt lành” của Thiên Chúa để đánh thức chính mình và tha nhân!

 

Lạy Thiên Chúa, xin giúp con khả dĩ cảm nghiệm sự thâm thúy của chữ Phúc mà Ngài muốn con hiểu ý nghĩa đích thực theo Thánh Ý Ngài qua việc chịu đau khổ hằng ngày. Xin giúp con biết trang sức cuộc đời con bằng Thập Giá của Đức Giêsu Kitô, Con Yêu Dấu của Ngài. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

CON ĐƯỜNG NGHỊCH THƯỜNG CỦA NƯỚC TRỜI

Thánh Matthêu thuật lại một khung cảnh vừa đơn sơ vừa mang chiều kích mặc khải sâu xa: “Thấy đám đông, Chúa Giêsu lên núi. Ngài ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên” (Mt 5: 1). Trong Kinh Thánh, núi luôn là nơi Thiên Chúa tỏ mình: Sinai với Môsê, Khôrếp với Êlia, và nay là ngọn núi nơi Chúa Giêsu công bố Hiến chương của Nước Trời. Thánh Gioan Kim Khẩu nhận xét: “Ngài không giảng dạy trong thành, nhưng trên núi, để dạy rằng: ai muốn nghe lời này phải rời xa sự ồn ào của thế gian” (In Matthaeum Homiliae, XV,1).

  1. Tinh thần nghèo khó là nền tảng của mọi mối phúc

Chúa Giêsu ngồi xuống trong tư thế của một Rabbi chính thức và cất tiếng giảng dạy (Mt 5: 2). Điều Ngài công bố không phải là một bộ luật pháp lý mới, nhưng là một lối sống mới, một cách hiện hữu hoàn toàn khác với logic thông thường của thế gian. Trọng tâm của lời giảng ấy là tám mối phúc, khởi đầu và kết thúc bằng cùng một lời hứa: “vì Nước Trời là của họ” (Mt 5: 3.10). Điều này cho thấy toàn bộ Tám Mối Phúc được xây dựng trong viễn tượng Nước Trời, chứ không chỉ là những lời khuyên đạo đức riêng lẻ.

Mối phúc đầu tiên không chỉ đứng đầu các mối phúc, nhưng còn là nền tảng nội tại của tất cả các mối phúc khác: “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Thánh Augustinô khẳng định: “Những người nghèo khó về tâm linh ở đây được hiểu đúng là những người khiêm nhường và kính sợ Chúa, tức là những người không có lòng kiêu ngạo. Phúc lành cũng không bắt đầu ở bất cứ điểm nào khác, nếu thực sự muốn đạt đến sự khôn ngoan cao nhất.” [1]

“Nghèo khó trong tinh thần” không hẳn chỉ là thiếu thốn vật chất, nhưng là ý thức triệt để rằng mình hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa. Đó là thái độ nội tâm của người không đặt niềm tin vào quyền lực, tiền bạc hay công trạng riêng, nhưng chỉ cậy dựa vào ân sủng.

Điều này vang vọng mạnh mẽ với lời ngôn sứ Xôphônia: “Ta sẽ cho sót lại giữa ngươi một dân nghèo hèn và bé nhỏ; chúng sẽ tìm nương ẩn nơi danh Chúa” (Xp 3: 12). Trong viễn tượng Kinh Thánh, nghèo hèn không phải là lời nguyền, nhưng là dấu chỉ của dân được tuyển chọn, bởi họ là những người còn biết trông cậy, còn biết giang tay khẩn cầu Thiên Chúa trong sự tín thác vào Ngài.

  1. Hiền lành, sầu khổ và khát khao công chính phải là nội tâm của người môn đệ

Phúc thay ai hiền lành…Phúc thay ai sầu khổ…Phúc thay ai khát khao nên người công chính…” (Mt 5: 4–6). Ba mối phúc này vẽ nên nội tâm của người môn đệ Chúa Kitô. Hiền lành không phải là yếu đuối, nhưng là sức mạnh được linh hoạt bởi Đức ái, là tình yêu thương của Thiên Chúa dành cho mọi người. Sầu khổ không phải là tuyệt vọng, nhưng là nỗi đau buồn của người yêu mến công lý và chân lý trước những bất công, bóc lột, đàn áp, gian dối vẫn còn tràn lan trong các hoàn cảnh sống hiện tại. Khát khao công chính là khát vọng sâu xa được sống đúng với ý định của Thiên Chúa, sống trong sự công bằng, hòa bình, an yên, hòa hợp với mọi người.

Thánh Tôma Aquinô giải thích: “Sự hiền lành giúp con người hướng đến sự hiểu biết về Chúa bằng cách loại bỏ một chướng ngại. Nó làm cho con người tự chủ hơn bằng cách làm giảm bớt cơn giận của họ. Sự hiền lành có nghĩa là con người không mâu thuẫn với lời chân lý, vốn là điều mà nhiều người mắc phải do bị xáo trộn bởi cơn giận.” [2]

  1. Thương xót và trong sạch là con đường để gặp gỡ Thiên Chúa

Phúc cho những ai hay thương xót người… Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa” (Mt 5: 7–8). Lòng thương xót là dấu chỉ hữu hình của tình yêu Thiên Chúa nơi trần thế. Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói: “Một chút lòng thương xót làm cho thế giới bớt lạnh lùng và công bằng hơn” (Kinh Truyền tin, Chủ nhật, ngày 17 tháng 3 năm 2013).

Trong khi đó, lòng trong sạch không chỉ liên quan đến luân lý, nhưng là sự thống nhất nội tâm, nơi con tim không bị chia cắt giữa Thiên Chúa và ngẫu tượng.

Thánh Gioan Maria Vianey dạy: “Chỉ cần nhìn vào một người, chúng ta biết người đó có trong sạch hay không. Đôi mắt của người đó mang vẻ chân thành và khiêm nhường dẫn bạn đến với Thiên Chúa tốt lành. Ngược lại, một số người trông hoàn toàn rực lửa đam mê... Satan đặt mình vào mắt họ để khiến người khác sa ngã và dẫn họ đến điều ác.” [3]

  1. Người kiến tạo hòa bình và người bị bách hại trở nên đồng hình dạng với Chúa Kitô

Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà… Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính” (Mt 5: 9-10). Hòa bình không phải là thỏa hiệp dễ dãi, nhưng là hoa trái của sự thật và công lý. Người kiến tạo hòa bình là người dám mang lấy giá của thập giá.

Thánh Phanxicô Assisi đã sống mối phúc này cách triệt để khi cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa” (Kinh Hòa Bình).

Đỉnh cao của các mối phúc là bị bách hại vì Chúa Kitô. Chúa Giêsu không che giấu thực tại này, nhưng còn khẳng định: “Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời” (Mt 5: 12).

  1. Nước Trời đảo ngược các giá trị

Thánh Phaolô, trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, đã diễn tả cùng một chân lý ấy dưới dạng thần học thập giá: “Điều mà thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn… điều mà thế gian cho là yếu hèn, thì Thiên Chúa đã chọn” (1 Cr 1: 27). Đây chính là cuộc đảo ngược triệt để của Tin Mừng. Nước Trời không được xây dựng trên nền tảng của sự khôn ngoan thế gian, nhưng trên sự tự hạ của Thiên Chúa nơi thập giá của Chúa Kitô. Chỉ những ai trống rỗng chính mình, như người nghèo trước mặt Thiên Chúa, mới có khả năng đón nhận vinh quang ấy. Vì thế, Thánh Phaolô kết luận: “Ai tự phụ, thì hãy tự phụ trong Chúa” (1 Cr 1: 31).

Lời ngôn sứ Xôphônia khép lại suy niệm bằng cách mở ra một viễn tượng đầy an ủi: “Kẻ sống sót của Israel… sẽ được chăn dắt và nằm ngủ không bị quấy rầy” (Xp 3: 13). Đây là hình ảnh của dân nghèo vào thời cánh chung, những người không cậy dựa vào sức riêng, nhưng hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa.

Công đồng Vaticanô II khẳng định: “Giáo Hội được kêu gọi bước đi trên con đường nghèo khó và khiêm hạ của Chúa Kitô” (Lumen Gentium, số 8). Bát Phúc không phải là một thứ lý tưởng ảo ảnh, nhưng là chân dung sống động của chính Chúa Giêsu Kitô. Ngài là Đấng nghèo khó, hiền lành, đau buồn, thương xót, trong sạch, kiến tạo hòa bình và bị bách hại. Ai bước theo Ngài, dù đi trên con đường hẹp, nhưng đã thuộc về Nước Trời ngay từ bây giờ.

Nguyện xin cho mỗi chúng ta, giữa một thế giới tôn thờ sức mạnh và vinh quang chóng qua, dám chọn con đường ngược dòng của các mối phúc, để trở nên dân nghèo của Thiên Chúa, và ngay trong đời này được nếm trước hạnh phúc đích thật của Nước Trời.

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://www.newadvent.org/fathers/16011.htm, số 3.

[2] Summa Theologiae, câu hỏi 157, số 4 https://www.newadvent.org/summa/3157.htm

[3] https://saintsworks.net/Modesty%20and%20Purity%20-%20Quotations%20Pertaining%20to%20Modesty%20and%20Purity%20-%20III.html

BỜ BÊN KIA

Thứ Bảy Tuần 3 Thường Niên A

“Chúng ta sang bờ bên kia đi!”.

“Cuộc sống bắt đầu nơi vùng an toàn của bạn kết thúc!” – Neale Walsch.

Kính thưa Anh Chị em,

Như vậy, rời vùng an toàn, bạn mới thực sự sống! Lời Chúa hôm nay cho thấy, thật cần thiết để rời vùng an toàn; tin giữa sóng gió; và lớn lên trong ân sủng, để tới ‘bờ bên kia!’.

Nhưng ‘bờ bên kia’ không là một chuyến du ngoạn; vì vừa rời bến, bão nổi. Thuyền chao đảo, nước tràn vào, kinh nghiệm bao năm trở nên bất lực. Có những cơn bão xảy đến không vì chúng ta đi sai đường, nhưng vì đi đúng đường; không vì bất tuân, nhưng vì vâng phục. Để rồi, điều làm hoảng sợ không chỉ là sóng lớn, mà là sự im lặng của Thiên Chúa, Đấng hiện diện mà dường như không can thiệp theo cách được mong đợi. “Chúng ta chết mất!” – bật ra khi nỗi sợ lớn hơn niềm tin. Nhưng Ngài đã nói “qua”, thì không thể “chìm!”. Đức tin không bảo đảm hành trình êm ả; nhưng bảo đảm đích đến! “Từ những gì đã thấy, tôi học cách an tâm về những gì chưa thấy trong tay Đấng Tạo Hoá!” – Ralph Emerson.

Vậy mà có những bờ bên kia không ở phía trước, mà ở bên trong. Đavít sau khi phạm tội không đối diện với bão biển, nhưng với bão lòng. Khi ngôn sứ Nathan vạch trần sự thật, con người quyền lực bỗng trơ trọi – bài đọc một – vinh quang không trấn an nổi một tâm hồn đã lệch hướng. Thuyền đời đầy nước! Giữa đổ nát, Đavít không chạy trốn, nhưng cầu xin, “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng!” – Thánh Vịnh đáp ca. “Từ đau khổ đã xuất hiện những tâm hồn mạnh mẽ nhất!” – Kahlil Gibran. Đó là cố qua ‘bờ bên kia’ – từ che đậy sang thú nhận, từ tự mãn sang sám hối, từ cứng cỏi sang mềm mại. Một hải trình không đổi chỗ, nhưng đổi lòng; không vượt sóng gió, nhưng vượt qua chính mình.

Cũng thế, chúng ta thường xin Chúa dẹp yên hoàn cảnh, nhưng Ngài muốn tái tạo trái tim. Chúng ta xin sóng lặng; Ngài xin chúng ta mở lòng. Bão tố ngoài biển hay bão tố trong tim, cả hai đều có thể trở thành nơi con người gặp Chúa sâu hơn. Khi trái tim đổi mới, chúng ta nhận ra ‘bờ bên kia’ không còn xa. “Thế giới làm mọi người tan vỡ; và rồi, có những người trở nên mạnh mẽ ngay nơi đã từng tan vỡ!” – Ernest Hemingway.

Anh Chị em,

“Sang bờ bên kia đi!”. Đức Kitô không chỉ dạy; chính Ngài đã sang trước. Ngài rời “bờ” vinh quang, bước vào biển động phận người. Và ‘bờ bên kia’ cuối cùng của Ngài là Calvariô. Ở đó, con thuyền nhân tính tưởng như chìm; Chúa Cha lặng thinh; bóng tối phủ kín. Nhưng chính trong sự im lặng ấy, một cuộc vượt qua âm thầm diễn ra. Thập giá không là đắm tàu, nhưng là cập bến, mở ra sự sống mới. Vậy mỗi khi sợ hãi trước sóng gió hay tội lỗi mình, hãy nhớ, Ngài đã đi qua biển sâu nhất của khổ đau và tội lỗi để mở lối. Đi về phía Ngài, bạn và tôi không chỉ qua một bờ khác, mà được đưa vào chính sự sống của Đấng Phục Sinh!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi biển đời nổi sóng, xin giữ con bình an; khi lương tâm dậy bão, xin giúp con sám hối; khi con la đà vì tội lỗi, xin rửa con để nên sạch trong!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

BÌNH MINH CỦA MỘT THỜI ĐẠI MỚI: NƯỚC TRỜI ĐÃ ĐẾN GẦN

"Từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu rao giảng…"(Mt 4,17)

Sợi chỉ đỏ :

- Bài đọc 1 : lời tiên tri của Isaia "Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng ; đám người sống lầm than trong vùng bóng tối nay được thấy ánh sáng bừng lên chiếu rọi"

- Đáp ca : "Chúa là nguồn ánh sáng, là Đấng cứu độ tôi, tôi sợ gì ai nữa".

- Tin Mừng : Đức Giêsu thực hiện lời tiên tri của Isaia. Ngài đến miền Galilê, một miền có rất đông lương dân, bắt đầu rao giảng rằng "Hãy sám hối, vì triều đại Thiên Chúa đã đến gần". Ngài cũng bắt đầu tuyển chọn môn đệ để cùng Ngài đi loan truyền tin vui ấy.

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Các kitô hữu đầu tiên đã cảm thấy rất hạnh phúc vì được gia nhập gia đình Giáo Hội. Mỗi ngày Chúa nhựt, họ họp nhau lại trong tâm tình kính mến Chúa và yêu thương nhau. Gương đoàn kết yêu thương của họ đã thu hút thêm rất nhiều người xin gia nhập Giáo Hội.

Hôm nay, chúng ta cũng họp nhau lại như cộng đoàn kitô hữu đầu tiên ấy. Nhưng có lẽ chúng ta không cảm thấy hạnh phúc bằng họ, vì chúng ta không mến Chúa bằng họ, không thương nhau bằng họ. Xin Đức Giêsu, Đấng đã tập họp chúng ta, ban thêm tình yêu trong lòng chúng ta.

Đặc biệt tuần này là tuần lễ Giáo Hội cầu nguyện cho sự hợp nhất các kitô hữu. Chúng ta tha thiết nài xin Chúa cho những người cùng tin một Chúa Kitô biết đoàn kết yêu thương nhau hơn.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

- Chúng ta hãy xin Chúa tha thứ vì những chia rẽ, đố kị, ganh ghét trong cộng đoàn họ đạo chúng ta.

- Chúng ta hãy xin Chúa tha thứ vì cuộc sống của chúng ta chưa thực sự là ánh sáng trước mặt muôn dân.

- Chúng ta hãy xin Chúa tha thứ vì chưa quan tâm mang ánh sáng Tin Mừng đến cho lương dân.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1 : Is 8,23--9,3

Bối cảnh lịch sử : năm 721, đế quốc Assyria chiếm miền Bắc xứ Palestina (vương quốc Israel, về sau được gọi là miền Galilê, trong đoạn Tin Mừng này nó được gọi là "đất Dabulon và Néptali"). Assyria bắt thành phần ưu tú của xứ này đi lưu đày và đem nhiều dân ngoại từ các xứ khác đến lập cư ở xứ này, vì thế Galilê lại được gọi là vùng đất của lương dân, là vùng đất tối tăm.

Nhưng ngôn sứ Isaia đã tiên báo rằng sẽ tới ngày Ánh sáng sẽ bừng lên ở miền đất đó, và đám dân lầm than trong bóng tối ấy sẽ được ánh sáng chiếu rọi.

2. Đáp ca : Tv 26

Ý chính của Tv này là ánh sáng hy vọng loé lên từ cảnh khốn cùng : cho dù khốn khổ có nặng nề đến đâu, thử thách có khắc nghiệt thế nào, thì vẫn có một điều chắc chắn, đó là : Thiên Chúa vẫn là ánh sáng và ơn cứu độ. Đó chính là niềm hy vọng của mọi tín hữu khiến họ luôn đứng vững : "Chúa là nguồn ánh sáng và Đấng cứu độ tôi. Tôi sợ gì ai nữa".

3. Tin Mừng : Mt 4,12-23

Đoạn Tin Mừng này đánh dấu kết thúc sứ mạng của Gioan Tẩy giả và bắt đầu sứ mạng của Đức Giêsu. Đức Giêsu bắt đầu sứ mạng tại Galilê, một miền đất vốn được coi là tối tăm, là đất của lương dân. Chính tại miền đất này, Đức Giêsu tuyên bố "Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần". Như thế, Đức Giêsu thực hiện lời tiên tri của Isaia.

Đức Giêsu cũng kêu gọi 4 môn đệ đầu tiên (Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan) để cùng Ngài rao giảng Tin Mừng Nước Trời.

4. Bài Thánh Thư : 1 Cr 1,10-13.17

Sau khi mở đầu bức thư bằng những lời chào hỏi (đoạn được trích đọc Chúa nhựt trước), Phaolô đi ngay vào tệ nạn thứ nhất của tín hữu Côrintô là sự chia rẽ nhau.

- Tín hữu Côrintô đã chia ra thành 4 nhóm, mỗi nhóm dựa vào một thừa sai và chống lại các nhóm kia : nhóm theo Phaolô, nhóm theo Apollô, nhóm theo Phêrô (Kêpha) và nhóm theo Đức Kitô.

- Phaolô lập luận để cho thấy việc chia bè phái như thế là sai : tất cả đều thuộc về Đức Kitô, mà Đức Kitô không thể bị chia năm xẻ bảy như thế. Và Phaolô kêu gọi họ hãy hòa thuận, một lòng một ý với nhau.

IV. GỢI Ý GIẢNG

1. Cuộc phiêu lưu vĩ đại từ một vùng đất bị khinh khi

Đối với dân thủ đô, Galilê chỉ là tỉnh lẻ. Đối với người mộ đạo sùng tín, miền Bắc thật đáng ngờ vực. Đó là miền hầu như thuộc ngoại bang, nơi hội tụ dân ngoại. Một dân cư pha tạp, nông dân và ngư dân có giọng nói nặng chịch vốn là đề tài phong phú cho các câu chuyện diễu cợt hằng ngày…

Trong khi những tín đồ chính thống ở kinh đô nghiền ngẫm sự khinh khi, chiêm ngưỡng sự siêu việt của mình, chế diễu và tránh xa những người bị loại trừ ở phía Bắc, thì Đức Messia, Cứu Chúa, ánh sáng muôn dân, tới cư ngụ tại Capharnaum, bên bờ hồ. Xa khỏi kinh đô vĩnh hằng, khỏi thói ngạo mạn, tự tôn, và sự mù quáng của họ….

Chính trên bờ hồ chứ không phải trên các bậc cấp của đền thờ, giữa đám ngư phủ bận rộn chứ không phải nơi những vị tư tế chuyên lo phụng tự mà Đức Giêsu sẽ chọn các môn đệ của Người. Đúng là một nước cờ ngược lại mọi logic.

Chính những người ít khả năng nhất, ít được chuẩn bị nhất lại là những người đầu tiên nhận được ánh sáng và đi theo Đấng là "đường, sự thật và sự sống".

Ngay tức khắc, thành phần lao động đơn sơ chất phác nhưng có trái tim nhạy bén đã tin tưởng vào ngôn sứ… Những người tội lỗi bỗng nhiên bị chất vấn, đã cảm thấy ánh sáng mà ngay những kẻ rắc rối khó tính nhất cũng phải nhượng bộ… và họ đã đi theo Người.

Cuộc phiêu lưu vĩ đại đã khởi đi từ một miền đất bị nguyền rủa. Thế giới mới đã ăn rễ sâu vào vùng đất nhơ uế nhưng cởi mở đón tiếp mọi bất ngờ của Thánh Thần, của Thiên Chúa… (F. Delectos, được trích bởi Fiches dominicales, trang 169-170).

2. Con đường sáng

Cuộc đời chúng ta đầy dẫy bóng tối :

- tối tăm về sự thật : cho dù có nhiều phương tiện truyền thông, Nhưng khó mà biết sự thật.

- tối tăm về tương giao : ngay cả những người sống cạnh nhau cũng chưa hiểu nhau.

- tối tăm do tội lỗi, do mù quáng, do cố chấp hẹp hòi…

- tối tăm do hoàn cảnh bên ngoài nhiều bất công, gian dối, thù hận…

Trong khung cảnh tối tăm ấy, chúng ta hãy nhớ những lời của Đức Giêsu : "Ta là ánh sáng thế gian" (Ga 9,12) ; "Hãy tin vào ánh sáng và các ngươi sẽ trở thành con cái sự sáng" (Ga 12,36).

Nhưng tin vào ánh sáng là gì ? Là tin vào mặc khải của Đức Giêsu, cũng như 4 môn đệ đầu tiên trong bài Tin Mừng hôm nay. Họ đã nghe tiếng gọi của Ngài, đã từ bỏ tất cả để đi theo Ngài. Ngài sẽ giải đáp cho tất cả những băn khoăn thắc mắc của chúng ta ; Ngài sẽ cho ta biết ý nghĩa cuộc đời ta là gì ; Ngài cho chúng ta biết chúng ta có một người Cha trên trời hết lòng yêu thương chúng ta ; Ngài sẽ dạy cho chúng ta biết sống yêu thương như thế nào ; và cuối cùng Ngài sẽ dẫn chúng ta về nhà Cha trên trời.

3. Sự hiệp nhất các kitô hữu

Chúa nhựt hôm nay nằm trong tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất các kitô hữu. Các bài đọc trong Thánh lễ hôm nay cung cấp nhiều chất liệu cho chúng ta suy nghĩ về sự hiệp nhất này :

- Bài đọc 1 : Đức Giêsu là ánh sáng bừng lên giữa thế gian. Ngài muốn soi sáng tất cả mọi người, kể cả các anh em ly khai, những người lạc giáo, những người lương và những người vô thần…

- Bài đọc 2 : Đức Giêsu đã chịu chết vì mọi người và cho mọi người. Nếu các kitô hữu chia rẽ nhau thì chẳng khác gì Đức Giêsu bị chia năm xẻ bảy sao !

- Bài đáp ca : "Điều tôi tìm kiếm khấng xin, là luôn được ở trong nhà Chúa tôi". Tại sao những anh em cùng tin Đức Kitô lại không sống hòa thuận với nhau trong cùng một ngôi nhà của Chúa ?

- Bài Tin Mừng : "Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần". Tất cả mọi người, dù là công giáo hay tin lành, chính thống v.v. đều phải sám hối về những tội lỗi của mình để có thể được vào Nước Chúa.

4. Chuyện minh họa : "Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng"

a/ Làm phép nhà

Một bà kia mời Linh mục đến làm phép nhà mình. Bà hướng dẫn Cha đi rảy nước thánh mọi nơi trong nhà : phòng khách, phòng ngủ, nhà bếp, phòng ăn… Cha thấy chỗ nào cũng sạch sẽ và ngăn nắp. Cho nên chỗ nào Cha cũng rảy nước thánh, kể cả cầu thang. Ngay cả hai con mèo đang nằm ngủ trên một bậc thang cũng được Cha rảy nước thánh, khiến nó giật mình thức dậy kêu meo meo và chạy vội đi nơi khác, và mọi người hiện diện phải phì cười.

Sau khi làm phép xong mọi nơi ở nhà trên thì đến hầm kho. Bà chủ nhà chần chừ không muốn dẫn Cha xuống. Vị Linh mục hỏi :

- Sao thế ?

- Dưới đó dơ lắm.

- Càng dơ thì càng phải làm phép chứ.

- Nhưng nó lộn xộn lắm.

- Càng lộn xộn càng phải làm phép.

- Và nó tối tăm lắm.

- Cho nên phải mang ánh sáng đến cho nó.

Lời bàn : Con người chúng ta cũng giống như một gian nhà. Những nơi mình muốn che dấu nhất chính là những nơi tối tăm xấu xa nhất. Nhưng đó cũng là những nơi cần mang ánh sáng tới nhất.

b/ Mang ánh sáng đến chỗ tối tăm

Một ngày kia Mẹ Têrêsa Calcutta đến Melbourne, Australia. Mẹ đi thăm một người nghèo không ai biết đến. Ông sống trong một căn phòng rất tồi tệ, đồ đạc dơ bẩn ngổn ngang. Phòng không có cửa sổ mà cũng chẳng có lấy một bóng đèn.

Mẹ Têrêsa bắt tay vào thu dọn đồ đạc. Ông gắt lên : "Cứ để yên mọi thứ cho tôi". Nhưng Mẹ cứ tiếp tục. Sau khi mọi thứ đã ngăn nắp, Mẹ Têrêxa tìm thấy một chiếc đèn trong một góc phòng. Đèn bám đầy bụi, chứng tỏ lâu lắm rồi không ai đụng đến. Mẹ lau chùi sạch sẽ rồi hỏi :

- Sao lâu nay ông không thắp đèn lên ?

- Thắp làm chi. Có ai đến thăm tôi đâu. Tôi đâu cần thấy mặt ai.

- Thế ông có hứa sẽ thắp đèn lên khi một nữ tu của tôi đến thăm ông không ?

- Vâng, nếu tôi nghe có tiếng ai đến thì tôi sẽ thắp đèn lên.

Từ đó, mỗi ngày, hai nữ tu của Mẹ Têrêxa đều đến thăm ông và giúp đỡ ông. Một hôm ông nói với một trong hai nữ tu ấy :

- Bây giờ tự tôi đã biết thu dọn phòng tôi rồi. Nhưng xin làm ơn về nói với nữ tu đầu tiên rằng ngọn đèn mà Bà đã thắp lên đến nay vẫn sáng.

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

CT : Anh chị em thân mến

Đức Giêsu là ánh sáng trần gian. Ai theo Người sẽ không phải đi trong bòng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống. Với quyết tâm sống như con cái sự sáng, chúng ta cùng dâng lời cầu xin.

1. Đức Kitô đã dùng các tông đồ làm nền móng xây dựng Hội Thánh / và đã làm cho Hội Thánh lan rộng khắp hoàn cầu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các Giám mục / Linh mục / phó tế / biết chu toàn sứ mạng Chúa trao cho / là nhiệt thành và khôn ngoan lãnh đạo dân Chúa.

2. Từ hai ngàn năm nay / có biết bao kitô hữu đã nhiệt tình đáp lại lời mời gọi của Đức Kitô / hăng say rao giảng Tin Mừng cứu độ / xả thân phục vụ những kẻ bần cùng đói rách / cũng như những người bất hạnh nhất trong xã hội / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những anh chị em ấy / luôn giữ được niềm phấn khởi lúc ban đầu.

3. Chúa Giêsu kêu gọi / "Anh em phải sám hối vì Triều đại Thiên Chúa đã đến gần" / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi tín hữu hiểu rằng / sám hối là việc phải làm thường xuyên suốt cả cuộc đời / nếu muốn được hiệp thông với Thiên Chúa / vì mang lấy thân phận con cháu Ađam / con người rất dễ phạm tội mà khó làm việc lành.

4. Thánh Phaolô viết / "Anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói / và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em / nhưng hãy sống hòa thuận / một lòng một ý với nhau" / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết luôn cố gắng thực hiện trọn vẹn lời khuyên tha thiết của Thánh Phaolô tông đồ.

CT : Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa đã gọi chúng con làm môn đệ Chúa. Xin ban ơn giúp chúng con luôn sống xứng đáng với tình thương hải hà của Chúa. Chúng con cầu xin…

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Kinh Tiền Tụng : Nên dùng Kinh Tiền Tụng Chúa nhựt thường niên I, vì có nói tới Giáo Hội, Nước Trời ở trần gian.

- Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta hãy đọc kinh Lạy Cha trong tâm tình hiệp nhất với Đức Giêsu và với tất cả những kitô hữu khác cùng một niềm tin vào Ngài.

VII. GIẢI TÁN

Anh chị em đã được ánh sáng Đức Giêsu soi sáng, anh chị em hãy cố gắng sống như con cái sự sáng, và cùng Đức Giêsu xây dựng Nước Thiên Chúa ở trần gian này.

 

Subcategories