3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

BỜ BÊN KIA

Thứ Bảy Tuần 3 Thường Niên A

“Chúng ta sang bờ bên kia đi!”.

“Cuộc sống bắt đầu nơi vùng an toàn của bạn kết thúc!” – Neale Walsch.

Kính thưa Anh Chị em,

Như vậy, rời vùng an toàn, bạn mới thực sự sống! Lời Chúa hôm nay cho thấy, thật cần thiết để rời vùng an toàn; tin giữa sóng gió; và lớn lên trong ân sủng, để tới ‘bờ bên kia!’.

Nhưng ‘bờ bên kia’ không là một chuyến du ngoạn; vì vừa rời bến, bão nổi. Thuyền chao đảo, nước tràn vào, kinh nghiệm bao năm trở nên bất lực. Có những cơn bão xảy đến không vì chúng ta đi sai đường, nhưng vì đi đúng đường; không vì bất tuân, nhưng vì vâng phục. Để rồi, điều làm hoảng sợ không chỉ là sóng lớn, mà là sự im lặng của Thiên Chúa, Đấng hiện diện mà dường như không can thiệp theo cách được mong đợi. “Chúng ta chết mất!” – bật ra khi nỗi sợ lớn hơn niềm tin. Nhưng Ngài đã nói “qua”, thì không thể “chìm!”. Đức tin không bảo đảm hành trình êm ả; nhưng bảo đảm đích đến! “Từ những gì đã thấy, tôi học cách an tâm về những gì chưa thấy trong tay Đấng Tạo Hoá!” – Ralph Emerson.

Vậy mà có những bờ bên kia không ở phía trước, mà ở bên trong. Đavít sau khi phạm tội không đối diện với bão biển, nhưng với bão lòng. Khi ngôn sứ Nathan vạch trần sự thật, con người quyền lực bỗng trơ trọi – bài đọc một – vinh quang không trấn an nổi một tâm hồn đã lệch hướng. Thuyền đời đầy nước! Giữa đổ nát, Đavít không chạy trốn, nhưng cầu xin, “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng!” – Thánh Vịnh đáp ca. “Từ đau khổ đã xuất hiện những tâm hồn mạnh mẽ nhất!” – Kahlil Gibran. Đó là cố qua ‘bờ bên kia’ – từ che đậy sang thú nhận, từ tự mãn sang sám hối, từ cứng cỏi sang mềm mại. Một hải trình không đổi chỗ, nhưng đổi lòng; không vượt sóng gió, nhưng vượt qua chính mình.

Cũng thế, chúng ta thường xin Chúa dẹp yên hoàn cảnh, nhưng Ngài muốn tái tạo trái tim. Chúng ta xin sóng lặng; Ngài xin chúng ta mở lòng. Bão tố ngoài biển hay bão tố trong tim, cả hai đều có thể trở thành nơi con người gặp Chúa sâu hơn. Khi trái tim đổi mới, chúng ta nhận ra ‘bờ bên kia’ không còn xa. “Thế giới làm mọi người tan vỡ; và rồi, có những người trở nên mạnh mẽ ngay nơi đã từng tan vỡ!” – Ernest Hemingway.

Anh Chị em,

“Sang bờ bên kia đi!”. Đức Kitô không chỉ dạy; chính Ngài đã sang trước. Ngài rời “bờ” vinh quang, bước vào biển động phận người. Và ‘bờ bên kia’ cuối cùng của Ngài là Calvariô. Ở đó, con thuyền nhân tính tưởng như chìm; Chúa Cha lặng thinh; bóng tối phủ kín. Nhưng chính trong sự im lặng ấy, một cuộc vượt qua âm thầm diễn ra. Thập giá không là đắm tàu, nhưng là cập bến, mở ra sự sống mới. Vậy mỗi khi sợ hãi trước sóng gió hay tội lỗi mình, hãy nhớ, Ngài đã đi qua biển sâu nhất của khổ đau và tội lỗi để mở lối. Đi về phía Ngài, bạn và tôi không chỉ qua một bờ khác, mà được đưa vào chính sự sống của Đấng Phục Sinh!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi biển đời nổi sóng, xin giữ con bình an; khi lương tâm dậy bão, xin giúp con sám hối; khi con la đà vì tội lỗi, xin rửa con để nên sạch trong!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

CON ĐƯỜNG NGHỊCH THƯỜNG CỦA NƯỚC TRỜI

Thánh Matthêu thuật lại một khung cảnh vừa đơn sơ vừa mang chiều kích mặc khải sâu xa: “Thấy đám đông, Chúa Giêsu lên núi. Ngài ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên” (Mt 5: 1). Trong Kinh Thánh, núi luôn là nơi Thiên Chúa tỏ mình: Sinai với Môsê, Khôrếp với Êlia, và nay là ngọn núi nơi Chúa Giêsu công bố Hiến chương của Nước Trời. Thánh Gioan Kim Khẩu nhận xét: “Ngài không giảng dạy trong thành, nhưng trên núi, để dạy rằng: ai muốn nghe lời này phải rời xa sự ồn ào của thế gian” (In Matthaeum Homiliae, XV,1).

  1. Tinh thần nghèo khó là nền tảng của mọi mối phúc

Chúa Giêsu ngồi xuống trong tư thế của một Rabbi chính thức và cất tiếng giảng dạy (Mt 5: 2). Điều Ngài công bố không phải là một bộ luật pháp lý mới, nhưng là một lối sống mới, một cách hiện hữu hoàn toàn khác với logic thông thường của thế gian. Trọng tâm của lời giảng ấy là tám mối phúc, khởi đầu và kết thúc bằng cùng một lời hứa: “vì Nước Trời là của họ” (Mt 5: 3.10). Điều này cho thấy toàn bộ Tám Mối Phúc được xây dựng trong viễn tượng Nước Trời, chứ không chỉ là những lời khuyên đạo đức riêng lẻ.

Mối phúc đầu tiên không chỉ đứng đầu các mối phúc, nhưng còn là nền tảng nội tại của tất cả các mối phúc khác: “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Thánh Augustinô khẳng định: “Những người nghèo khó về tâm linh ở đây được hiểu đúng là những người khiêm nhường và kính sợ Chúa, tức là những người không có lòng kiêu ngạo. Phúc lành cũng không bắt đầu ở bất cứ điểm nào khác, nếu thực sự muốn đạt đến sự khôn ngoan cao nhất.” [1]

“Nghèo khó trong tinh thần” không hẳn chỉ là thiếu thốn vật chất, nhưng là ý thức triệt để rằng mình hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa. Đó là thái độ nội tâm của người không đặt niềm tin vào quyền lực, tiền bạc hay công trạng riêng, nhưng chỉ cậy dựa vào ân sủng.

Điều này vang vọng mạnh mẽ với lời ngôn sứ Xôphônia: “Ta sẽ cho sót lại giữa ngươi một dân nghèo hèn và bé nhỏ; chúng sẽ tìm nương ẩn nơi danh Chúa” (Xp 3: 12). Trong viễn tượng Kinh Thánh, nghèo hèn không phải là lời nguyền, nhưng là dấu chỉ của dân được tuyển chọn, bởi họ là những người còn biết trông cậy, còn biết giang tay khẩn cầu Thiên Chúa trong sự tín thác vào Ngài.

  1. Hiền lành, sầu khổ và khát khao công chính phải là nội tâm của người môn đệ

Phúc thay ai hiền lành…Phúc thay ai sầu khổ…Phúc thay ai khát khao nên người công chính…” (Mt 5: 4–6). Ba mối phúc này vẽ nên nội tâm của người môn đệ Chúa Kitô. Hiền lành không phải là yếu đuối, nhưng là sức mạnh được linh hoạt bởi Đức ái, là tình yêu thương của Thiên Chúa dành cho mọi người. Sầu khổ không phải là tuyệt vọng, nhưng là nỗi đau buồn của người yêu mến công lý và chân lý trước những bất công, bóc lột, đàn áp, gian dối vẫn còn tràn lan trong các hoàn cảnh sống hiện tại. Khát khao công chính là khát vọng sâu xa được sống đúng với ý định của Thiên Chúa, sống trong sự công bằng, hòa bình, an yên, hòa hợp với mọi người.

Thánh Tôma Aquinô giải thích: “Sự hiền lành giúp con người hướng đến sự hiểu biết về Chúa bằng cách loại bỏ một chướng ngại. Nó làm cho con người tự chủ hơn bằng cách làm giảm bớt cơn giận của họ. Sự hiền lành có nghĩa là con người không mâu thuẫn với lời chân lý, vốn là điều mà nhiều người mắc phải do bị xáo trộn bởi cơn giận.” [2]

  1. Thương xót và trong sạch là con đường để gặp gỡ Thiên Chúa

Phúc cho những ai hay thương xót người… Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa” (Mt 5: 7–8). Lòng thương xót là dấu chỉ hữu hình của tình yêu Thiên Chúa nơi trần thế. Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói: “Một chút lòng thương xót làm cho thế giới bớt lạnh lùng và công bằng hơn” (Kinh Truyền tin, Chủ nhật, ngày 17 tháng 3 năm 2013).

Trong khi đó, lòng trong sạch không chỉ liên quan đến luân lý, nhưng là sự thống nhất nội tâm, nơi con tim không bị chia cắt giữa Thiên Chúa và ngẫu tượng.

Thánh Gioan Maria Vianey dạy: “Chỉ cần nhìn vào một người, chúng ta biết người đó có trong sạch hay không. Đôi mắt của người đó mang vẻ chân thành và khiêm nhường dẫn bạn đến với Thiên Chúa tốt lành. Ngược lại, một số người trông hoàn toàn rực lửa đam mê... Satan đặt mình vào mắt họ để khiến người khác sa ngã và dẫn họ đến điều ác.” [3]

  1. Người kiến tạo hòa bình và người bị bách hại trở nên đồng hình dạng với Chúa Kitô

Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà… Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính” (Mt 5: 9-10). Hòa bình không phải là thỏa hiệp dễ dãi, nhưng là hoa trái của sự thật và công lý. Người kiến tạo hòa bình là người dám mang lấy giá của thập giá.

Thánh Phanxicô Assisi đã sống mối phúc này cách triệt để khi cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa” (Kinh Hòa Bình).

Đỉnh cao của các mối phúc là bị bách hại vì Chúa Kitô. Chúa Giêsu không che giấu thực tại này, nhưng còn khẳng định: “Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời” (Mt 5: 12).

  1. Nước Trời đảo ngược các giá trị

Thánh Phaolô, trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, đã diễn tả cùng một chân lý ấy dưới dạng thần học thập giá: “Điều mà thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn… điều mà thế gian cho là yếu hèn, thì Thiên Chúa đã chọn” (1 Cr 1: 27). Đây chính là cuộc đảo ngược triệt để của Tin Mừng. Nước Trời không được xây dựng trên nền tảng của sự khôn ngoan thế gian, nhưng trên sự tự hạ của Thiên Chúa nơi thập giá của Chúa Kitô. Chỉ những ai trống rỗng chính mình, như người nghèo trước mặt Thiên Chúa, mới có khả năng đón nhận vinh quang ấy. Vì thế, Thánh Phaolô kết luận: “Ai tự phụ, thì hãy tự phụ trong Chúa” (1 Cr 1: 31).

Lời ngôn sứ Xôphônia khép lại suy niệm bằng cách mở ra một viễn tượng đầy an ủi: “Kẻ sống sót của Israel… sẽ được chăn dắt và nằm ngủ không bị quấy rầy” (Xp 3: 13). Đây là hình ảnh của dân nghèo vào thời cánh chung, những người không cậy dựa vào sức riêng, nhưng hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa.

Công đồng Vaticanô II khẳng định: “Giáo Hội được kêu gọi bước đi trên con đường nghèo khó và khiêm hạ của Chúa Kitô” (Lumen Gentium, số 8). Bát Phúc không phải là một thứ lý tưởng ảo ảnh, nhưng là chân dung sống động của chính Chúa Giêsu Kitô. Ngài là Đấng nghèo khó, hiền lành, đau buồn, thương xót, trong sạch, kiến tạo hòa bình và bị bách hại. Ai bước theo Ngài, dù đi trên con đường hẹp, nhưng đã thuộc về Nước Trời ngay từ bây giờ.

Nguyện xin cho mỗi chúng ta, giữa một thế giới tôn thờ sức mạnh và vinh quang chóng qua, dám chọn con đường ngược dòng của các mối phúc, để trở nên dân nghèo của Thiên Chúa, và ngay trong đời này được nếm trước hạnh phúc đích thật của Nước Trời.

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://www.newadvent.org/fathers/16011.htm, số 3.

[2] Summa Theologiae, câu hỏi 157, số 4 https://www.newadvent.org/summa/3157.htm

[3] https://saintsworks.net/Modesty%20and%20Purity%20-%20Quotations%20Pertaining%20to%20Modesty%20and%20Purity%20-%20III.html

Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến

Bước vào Chúa nhật thứ III thường niên, chúng ta thấy Chúa Giêsu sau khi chịu phép rửa tại sông Giorđan, được Gioan giới thiệu cho mọi người biết Người là : "Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian " (Ga 1, 29). Điều các ngôn sứ đã báo trước nay được thực hiện : "Tại Galilêa các dân tộc và dân chúng thấy một ánh sáng vĩ đại" (Is 9, 1-4  (Hr 8, 23b - 9, 3). Ánh sáng vĩ đại ấy là ai nếu không phải là Chúa Giêsu. Thật thế, Chúa Giêsu xuất hiện giữa dân chúng, như ánh bình minh rạng ngời buổi sáng, xua tan bóng tối đêm đen. Dân chúng thấy Ngài như thấy ánh sáng huy hoàng… xuất hiện cho người ngồi trong bóng tối sự chết (x.Mt 12, 16), ánh sáng ấy nay tỏ rạng công khai khi rao giảng : "Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến" (Mt 12, 17).

Ánh sáng ấy là Chúa Giêsu

Matthêu giải thích, Chúa Giêsu "rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải, thành Capharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali". Với địa danh chính xác như thế, nhưng mục đích của tác giả không phải là cung cấp cho chúng ta những chỉ dẫn du lịch. Ý tưởng thần học của Matthêu được giải thích ngay : "Để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia" (Bài đọc I).

Ứng nghiệm điều gì? Giabulon và Nepthali là hai vùng thuộc miền Bắc lúc ấy đang bị sát nhập vào vương quốc Asyri. Thật là hổ người khi nhớ lại quá thất bại và bị đuổi ra ngoài. Tuy nhiên, vị tiên tri với niềm tin vững mạnh đã tuyên bố : "Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng". Nói cách khác, Isaia muốn khơi lên niềm hy vọng nơi những người tin cậy Chúa, Đấng giải thoát họ, nên ông không ngần ngại nói về ơn cứu rỗi. Đó là sức mạnh của Lời Chúa, Lời thực hiện những gì đã tuyên bố, Isaia gợi lên niềm vui đến từ đức tin : "Dân chúng vui mừng trước nhan Chúa như nhà nông vui mừng trong mùa gặt". Thánh Vịnh một lần nữa vang lời động viên : "Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa". Niềm tin này khiến chúng ta vui mừng vì lời hứa của Thiên Chúa được thực hiện : "Chúa là sự sáng và là Đấng cứu độ tôi ". Sự sáng ấy nay cụ thể hóa nơi con người Đức Giêsu Kitô, thánh Matthêu xác định : Chúa Giêsu lui về Galilêa. Người rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải, thành Capharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali, để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia rằng: "Hỡi đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển, bên kia sông Giođan, Galilêa của ngoại bang! Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng; ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng sự chết".

Bước theo Chúa Giêsu cần phải hối cải

Ánh bình minh đã ló rạng, từ trên cao chiếu soi dân ngồi trong bóng tối là chính Chúa Giêsu Kitô. Ai bước vào trong ánh sáng ấy cần phải : "Hối cải" nghĩa là đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ tội lỗi sang đời sống là con cái Chúa, từ tuyệt vọng đến hy vọng, từ chán nản đến vui mừng. Và Chúa muốn ánh sáng ấy chiếu soi mọi người; nên Chúa đã chọn các môn đệ như những người phụ tá.

Khi Chúa Giêsu gọi các môn đệ của mình "Hối cải". Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta rằng, dù thuộc về Phaolô, Phêrô hay Apôlô cũng chỉ có một Đức Kitô. Mọi con mắt phải hướng về Ngài, chính Ngài cứu chuộc chúng ta. Vì thế, khi gọi các môn đệ, là để các ông trở nên những chứng nhân của Tin Mừng, nên thánh Phaolô có thể nói : "Đức Kitô không sai tôi đi rửa tội, mà là đi rao giảng Tin Mừng, không phải bằng lời nói khôn khéo, kẻo thập giá của Đức Kitô ra hư không". Phaolô được chọn, để loan báo một Đấng Cứu Thế bị đóng đinh cho thế gian.

Ngày nay Chúa cũng mời gọi chúng ta mang vào thế giới sứ điệp sự thật và tình thương của Ngài. Chúng ta hãy sẵn sàng tham gia vào sứ mạng này và nhất là cầu nguyện xin Chúa đừng để những chia rẽ và tranh chấp giữa các tín hữu Kitô làm lu mờ khả năng chiếu tỏa của Tin Mừng.

Hối cải để hiệp nhất

Lời Chúa mời gọi chúng ta : "Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến", vẫn luôn có tính chất thời sự của Tin Mừng. Sự quyết tâm hoán cải, trở về cùng Chúa Kitô là con đường dẫn đưa Giáo Hội đến sự hiệp thông hữu hình trọn vẹn vào thời kỳ Thiên Chúa thiết định. Các cuộc gặp gỡ đại kết trong thời gian gần đây gia tăng trên thế giới là một dấu chỉ chứng tỏ điều đó.

Trước giờ Kinh Truyền Tin trưa Chúa nhật 23/1/2011, Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI đưa ra lời kêu gọi sau đây : "Ngày nay cũng vậy, để trở thành dấu chỉ và phương thế kết hiệp sâu xa với Thiên Chúa trong thế giới, các tín hữu Kitô chúng ta phải xây dựng cuộc sống trên 4 cột trụ, đó là: cuộc sống trên nền tảng đức tin của các Tông Ðồ được chuyển lại trong Truyền Thống sinh động của Giáo Hội, tình hiệp thông huynh đệ, Thánh Thể và kinh nguyện. Có thế, Giáo Hội mới được kết hiệp bền vững với Chúa Kitô và chu toàn sứ mạng của mình, dù có những chia rẽ như thánh Phaolô Tông Ðồ nói đến : "Hỡi anh em, tôi khuyên nhủ anh em tất cả hãy đồng tâm hiệp ý trong lời nói, để không có sự chia rẽ nơi anh em, nhưng hãy kết hiệp trọn vẹn trong tư tưởng và cảm thức" (1 Cr 1,10). Thực ra Thánh Tông Đồ đã biết trong cộng đoàn Kitô ở Côrintô, đã nảy sinh những bất thuận và chia rẽ; vì vậy, ngài nghiêm nghị viết thêm rằng: "Phải chăng Chúa Kitô bị chia rẽ sao?" (1,13). Ngài quả quyết mọi chia rẽ trong Giáo hội là làm xúc phạm đến Chúa Kitô, Thủ Lãnh duy nhất và là Chúa, chúng ta luôn luôn có thể tái hiệp nhất, nhờ sức mạnh vô tận của ơn thánh Chúa.

Theo giáo huấn của thánh Phaolô, chúng ta được mời gọi loại bỏ gương mù chia rẽ nơi chúng ta để mang sứ điệp của Chúa Kitô Phục Sinh cho tất cả mọi người. Chúng ta hãy cầu nguyện xin Chúa cho sớm đến ngày Giáo Hội được hoàn toàn hiệp nhất. Amen. 

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

BÌNH MINH CỦA MỘT THỜI ĐẠI MỚI: NƯỚC TRỜI ĐÃ ĐẾN GẦN

"Từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu rao giảng…"(Mt 4,17)

Sợi chỉ đỏ :

- Bài đọc 1 : lời tiên tri của Isaia "Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng ; đám người sống lầm than trong vùng bóng tối nay được thấy ánh sáng bừng lên chiếu rọi"

- Đáp ca : "Chúa là nguồn ánh sáng, là Đấng cứu độ tôi, tôi sợ gì ai nữa".

- Tin Mừng : Đức Giêsu thực hiện lời tiên tri của Isaia. Ngài đến miền Galilê, một miền có rất đông lương dân, bắt đầu rao giảng rằng "Hãy sám hối, vì triều đại Thiên Chúa đã đến gần". Ngài cũng bắt đầu tuyển chọn môn đệ để cùng Ngài đi loan truyền tin vui ấy.

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Các kitô hữu đầu tiên đã cảm thấy rất hạnh phúc vì được gia nhập gia đình Giáo Hội. Mỗi ngày Chúa nhựt, họ họp nhau lại trong tâm tình kính mến Chúa và yêu thương nhau. Gương đoàn kết yêu thương của họ đã thu hút thêm rất nhiều người xin gia nhập Giáo Hội.

Hôm nay, chúng ta cũng họp nhau lại như cộng đoàn kitô hữu đầu tiên ấy. Nhưng có lẽ chúng ta không cảm thấy hạnh phúc bằng họ, vì chúng ta không mến Chúa bằng họ, không thương nhau bằng họ. Xin Đức Giêsu, Đấng đã tập họp chúng ta, ban thêm tình yêu trong lòng chúng ta.

Đặc biệt tuần này là tuần lễ Giáo Hội cầu nguyện cho sự hợp nhất các kitô hữu. Chúng ta tha thiết nài xin Chúa cho những người cùng tin một Chúa Kitô biết đoàn kết yêu thương nhau hơn.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

- Chúng ta hãy xin Chúa tha thứ vì những chia rẽ, đố kị, ganh ghét trong cộng đoàn họ đạo chúng ta.

- Chúng ta hãy xin Chúa tha thứ vì cuộc sống của chúng ta chưa thực sự là ánh sáng trước mặt muôn dân.

- Chúng ta hãy xin Chúa tha thứ vì chưa quan tâm mang ánh sáng Tin Mừng đến cho lương dân.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1 : Is 8,23--9,3

Bối cảnh lịch sử : năm 721, đế quốc Assyria chiếm miền Bắc xứ Palestina (vương quốc Israel, về sau được gọi là miền Galilê, trong đoạn Tin Mừng này nó được gọi là "đất Dabulon và Néptali"). Assyria bắt thành phần ưu tú của xứ này đi lưu đày và đem nhiều dân ngoại từ các xứ khác đến lập cư ở xứ này, vì thế Galilê lại được gọi là vùng đất của lương dân, là vùng đất tối tăm.

Nhưng ngôn sứ Isaia đã tiên báo rằng sẽ tới ngày Ánh sáng sẽ bừng lên ở miền đất đó, và đám dân lầm than trong bóng tối ấy sẽ được ánh sáng chiếu rọi.

2. Đáp ca : Tv 26

Ý chính của Tv này là ánh sáng hy vọng loé lên từ cảnh khốn cùng : cho dù khốn khổ có nặng nề đến đâu, thử thách có khắc nghiệt thế nào, thì vẫn có một điều chắc chắn, đó là : Thiên Chúa vẫn là ánh sáng và ơn cứu độ. Đó chính là niềm hy vọng của mọi tín hữu khiến họ luôn đứng vững : "Chúa là nguồn ánh sáng và Đấng cứu độ tôi. Tôi sợ gì ai nữa".

3. Tin Mừng : Mt 4,12-23

Đoạn Tin Mừng này đánh dấu kết thúc sứ mạng của Gioan Tẩy giả và bắt đầu sứ mạng của Đức Giêsu. Đức Giêsu bắt đầu sứ mạng tại Galilê, một miền đất vốn được coi là tối tăm, là đất của lương dân. Chính tại miền đất này, Đức Giêsu tuyên bố "Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần". Như thế, Đức Giêsu thực hiện lời tiên tri của Isaia.

Đức Giêsu cũng kêu gọi 4 môn đệ đầu tiên (Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan) để cùng Ngài rao giảng Tin Mừng Nước Trời.

4. Bài Thánh Thư : 1 Cr 1,10-13.17

Sau khi mở đầu bức thư bằng những lời chào hỏi (đoạn được trích đọc Chúa nhựt trước), Phaolô đi ngay vào tệ nạn thứ nhất của tín hữu Côrintô là sự chia rẽ nhau.

- Tín hữu Côrintô đã chia ra thành 4 nhóm, mỗi nhóm dựa vào một thừa sai và chống lại các nhóm kia : nhóm theo Phaolô, nhóm theo Apollô, nhóm theo Phêrô (Kêpha) và nhóm theo Đức Kitô.

- Phaolô lập luận để cho thấy việc chia bè phái như thế là sai : tất cả đều thuộc về Đức Kitô, mà Đức Kitô không thể bị chia năm xẻ bảy như thế. Và Phaolô kêu gọi họ hãy hòa thuận, một lòng một ý với nhau.

IV. GỢI Ý GIẢNG

1. Cuộc phiêu lưu vĩ đại từ một vùng đất bị khinh khi

Đối với dân thủ đô, Galilê chỉ là tỉnh lẻ. Đối với người mộ đạo sùng tín, miền Bắc thật đáng ngờ vực. Đó là miền hầu như thuộc ngoại bang, nơi hội tụ dân ngoại. Một dân cư pha tạp, nông dân và ngư dân có giọng nói nặng chịch vốn là đề tài phong phú cho các câu chuyện diễu cợt hằng ngày…

Trong khi những tín đồ chính thống ở kinh đô nghiền ngẫm sự khinh khi, chiêm ngưỡng sự siêu việt của mình, chế diễu và tránh xa những người bị loại trừ ở phía Bắc, thì Đức Messia, Cứu Chúa, ánh sáng muôn dân, tới cư ngụ tại Capharnaum, bên bờ hồ. Xa khỏi kinh đô vĩnh hằng, khỏi thói ngạo mạn, tự tôn, và sự mù quáng của họ….

Chính trên bờ hồ chứ không phải trên các bậc cấp của đền thờ, giữa đám ngư phủ bận rộn chứ không phải nơi những vị tư tế chuyên lo phụng tự mà Đức Giêsu sẽ chọn các môn đệ của Người. Đúng là một nước cờ ngược lại mọi logic.

Chính những người ít khả năng nhất, ít được chuẩn bị nhất lại là những người đầu tiên nhận được ánh sáng và đi theo Đấng là "đường, sự thật và sự sống".

Ngay tức khắc, thành phần lao động đơn sơ chất phác nhưng có trái tim nhạy bén đã tin tưởng vào ngôn sứ… Những người tội lỗi bỗng nhiên bị chất vấn, đã cảm thấy ánh sáng mà ngay những kẻ rắc rối khó tính nhất cũng phải nhượng bộ… và họ đã đi theo Người.

Cuộc phiêu lưu vĩ đại đã khởi đi từ một miền đất bị nguyền rủa. Thế giới mới đã ăn rễ sâu vào vùng đất nhơ uế nhưng cởi mở đón tiếp mọi bất ngờ của Thánh Thần, của Thiên Chúa… (F. Delectos, được trích bởi Fiches dominicales, trang 169-170).

2. Con đường sáng

Cuộc đời chúng ta đầy dẫy bóng tối :

- tối tăm về sự thật : cho dù có nhiều phương tiện truyền thông, Nhưng khó mà biết sự thật.

- tối tăm về tương giao : ngay cả những người sống cạnh nhau cũng chưa hiểu nhau.

- tối tăm do tội lỗi, do mù quáng, do cố chấp hẹp hòi…

- tối tăm do hoàn cảnh bên ngoài nhiều bất công, gian dối, thù hận…

Trong khung cảnh tối tăm ấy, chúng ta hãy nhớ những lời của Đức Giêsu : "Ta là ánh sáng thế gian" (Ga 9,12) ; "Hãy tin vào ánh sáng và các ngươi sẽ trở thành con cái sự sáng" (Ga 12,36).

Nhưng tin vào ánh sáng là gì ? Là tin vào mặc khải của Đức Giêsu, cũng như 4 môn đệ đầu tiên trong bài Tin Mừng hôm nay. Họ đã nghe tiếng gọi của Ngài, đã từ bỏ tất cả để đi theo Ngài. Ngài sẽ giải đáp cho tất cả những băn khoăn thắc mắc của chúng ta ; Ngài sẽ cho ta biết ý nghĩa cuộc đời ta là gì ; Ngài cho chúng ta biết chúng ta có một người Cha trên trời hết lòng yêu thương chúng ta ; Ngài sẽ dạy cho chúng ta biết sống yêu thương như thế nào ; và cuối cùng Ngài sẽ dẫn chúng ta về nhà Cha trên trời.

3. Sự hiệp nhất các kitô hữu

Chúa nhựt hôm nay nằm trong tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất các kitô hữu. Các bài đọc trong Thánh lễ hôm nay cung cấp nhiều chất liệu cho chúng ta suy nghĩ về sự hiệp nhất này :

- Bài đọc 1 : Đức Giêsu là ánh sáng bừng lên giữa thế gian. Ngài muốn soi sáng tất cả mọi người, kể cả các anh em ly khai, những người lạc giáo, những người lương và những người vô thần…

- Bài đọc 2 : Đức Giêsu đã chịu chết vì mọi người và cho mọi người. Nếu các kitô hữu chia rẽ nhau thì chẳng khác gì Đức Giêsu bị chia năm xẻ bảy sao !

- Bài đáp ca : "Điều tôi tìm kiếm khấng xin, là luôn được ở trong nhà Chúa tôi". Tại sao những anh em cùng tin Đức Kitô lại không sống hòa thuận với nhau trong cùng một ngôi nhà của Chúa ?

- Bài Tin Mừng : "Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần". Tất cả mọi người, dù là công giáo hay tin lành, chính thống v.v. đều phải sám hối về những tội lỗi của mình để có thể được vào Nước Chúa.

4. Chuyện minh họa : "Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng"

a/ Làm phép nhà

Một bà kia mời Linh mục đến làm phép nhà mình. Bà hướng dẫn Cha đi rảy nước thánh mọi nơi trong nhà : phòng khách, phòng ngủ, nhà bếp, phòng ăn… Cha thấy chỗ nào cũng sạch sẽ và ngăn nắp. Cho nên chỗ nào Cha cũng rảy nước thánh, kể cả cầu thang. Ngay cả hai con mèo đang nằm ngủ trên một bậc thang cũng được Cha rảy nước thánh, khiến nó giật mình thức dậy kêu meo meo và chạy vội đi nơi khác, và mọi người hiện diện phải phì cười.

Sau khi làm phép xong mọi nơi ở nhà trên thì đến hầm kho. Bà chủ nhà chần chừ không muốn dẫn Cha xuống. Vị Linh mục hỏi :

- Sao thế ?

- Dưới đó dơ lắm.

- Càng dơ thì càng phải làm phép chứ.

- Nhưng nó lộn xộn lắm.

- Càng lộn xộn càng phải làm phép.

- Và nó tối tăm lắm.

- Cho nên phải mang ánh sáng đến cho nó.

Lời bàn : Con người chúng ta cũng giống như một gian nhà. Những nơi mình muốn che dấu nhất chính là những nơi tối tăm xấu xa nhất. Nhưng đó cũng là những nơi cần mang ánh sáng tới nhất.

b/ Mang ánh sáng đến chỗ tối tăm

Một ngày kia Mẹ Têrêsa Calcutta đến Melbourne, Australia. Mẹ đi thăm một người nghèo không ai biết đến. Ông sống trong một căn phòng rất tồi tệ, đồ đạc dơ bẩn ngổn ngang. Phòng không có cửa sổ mà cũng chẳng có lấy một bóng đèn.

Mẹ Têrêsa bắt tay vào thu dọn đồ đạc. Ông gắt lên : "Cứ để yên mọi thứ cho tôi". Nhưng Mẹ cứ tiếp tục. Sau khi mọi thứ đã ngăn nắp, Mẹ Têrêxa tìm thấy một chiếc đèn trong một góc phòng. Đèn bám đầy bụi, chứng tỏ lâu lắm rồi không ai đụng đến. Mẹ lau chùi sạch sẽ rồi hỏi :

- Sao lâu nay ông không thắp đèn lên ?

- Thắp làm chi. Có ai đến thăm tôi đâu. Tôi đâu cần thấy mặt ai.

- Thế ông có hứa sẽ thắp đèn lên khi một nữ tu của tôi đến thăm ông không ?

- Vâng, nếu tôi nghe có tiếng ai đến thì tôi sẽ thắp đèn lên.

Từ đó, mỗi ngày, hai nữ tu của Mẹ Têrêxa đều đến thăm ông và giúp đỡ ông. Một hôm ông nói với một trong hai nữ tu ấy :

- Bây giờ tự tôi đã biết thu dọn phòng tôi rồi. Nhưng xin làm ơn về nói với nữ tu đầu tiên rằng ngọn đèn mà Bà đã thắp lên đến nay vẫn sáng.

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

CT : Anh chị em thân mến

Đức Giêsu là ánh sáng trần gian. Ai theo Người sẽ không phải đi trong bòng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống. Với quyết tâm sống như con cái sự sáng, chúng ta cùng dâng lời cầu xin.

1. Đức Kitô đã dùng các tông đồ làm nền móng xây dựng Hội Thánh / và đã làm cho Hội Thánh lan rộng khắp hoàn cầu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các Giám mục / Linh mục / phó tế / biết chu toàn sứ mạng Chúa trao cho / là nhiệt thành và khôn ngoan lãnh đạo dân Chúa.

2. Từ hai ngàn năm nay / có biết bao kitô hữu đã nhiệt tình đáp lại lời mời gọi của Đức Kitô / hăng say rao giảng Tin Mừng cứu độ / xả thân phục vụ những kẻ bần cùng đói rách / cũng như những người bất hạnh nhất trong xã hội / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những anh chị em ấy / luôn giữ được niềm phấn khởi lúc ban đầu.

3. Chúa Giêsu kêu gọi / "Anh em phải sám hối vì Triều đại Thiên Chúa đã đến gần" / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi tín hữu hiểu rằng / sám hối là việc phải làm thường xuyên suốt cả cuộc đời / nếu muốn được hiệp thông với Thiên Chúa / vì mang lấy thân phận con cháu Ađam / con người rất dễ phạm tội mà khó làm việc lành.

4. Thánh Phaolô viết / "Anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói / và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em / nhưng hãy sống hòa thuận / một lòng một ý với nhau" / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết luôn cố gắng thực hiện trọn vẹn lời khuyên tha thiết của Thánh Phaolô tông đồ.

CT : Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa đã gọi chúng con làm môn đệ Chúa. Xin ban ơn giúp chúng con luôn sống xứng đáng với tình thương hải hà của Chúa. Chúng con cầu xin…

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Kinh Tiền Tụng : Nên dùng Kinh Tiền Tụng Chúa nhựt thường niên I, vì có nói tới Giáo Hội, Nước Trời ở trần gian.

- Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta hãy đọc kinh Lạy Cha trong tâm tình hiệp nhất với Đức Giêsu và với tất cả những kitô hữu khác cùng một niềm tin vào Ngài.

VII. GIẢI TÁN

Anh chị em đã được ánh sáng Đức Giêsu soi sáng, anh chị em hãy cố gắng sống như con cái sự sáng, và cùng Đức Giêsu xây dựng Nước Thiên Chúa ở trần gian này.

 

LỜI MỜI GỌI CỦA CHÚA GIÊSU VANG LÊN GIỮA ĐỜI THƯỜNG

Hãy theo Ta.” Ba từ ngắn ngủi ấy, vang lên trên bờ Biển Galilê năm xưa, đã làm thay đổi lịch sử nhân loại. Và điều đáng ngạc nhiên hơn: ba từ ấy vẫn đang vang lên hôm nay, giữa đời sống rất đỗi bình thường của chúng ta.

Tin Mừng theo thánh Mátthêu mở đầu sứ vụ công khai của Chúa Giêsu bằng một lời rao giảng vừa đơn sơ vừa quyết liệt: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4: 17). Ngài nói với các ông Simon và Anrê, cũng như hai ông Gioan và Giacôbê: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mt 4: 19).

Không phải là một bài diễn văn dài, không phải là một bài giáo lý hệ thống phức tạp. Chỉ là một lời mời gọi: hãy sám hối, hãy tin tưởng và hãy bước theo. Nhưng chính từ lời mời gọi ấy, một cuộc đổi đời tâm linh đã khởi sự.

  1. Thiên Chúa bước vào thời gian của con người

Mùa Phụng vụ Thường niên mà chúng ta đang sống nghe có vẻ…rất “ ngày thường”. Không còn ánh đèn Giáng Sinh, cũng chưa có tiếng Alleluia Phục Sinh rộn ràng. Chỉ là màu xanh lá cây, màu của tăng trưởng âm thầm, kiên trì.

Nhưng chính trong cái “ngày thường” ấy, một chân lý sâu xa được mạc khải: Thiên Chúa không chỉ hành động trong những khoảnh khắc phi thường, mà Ngài bước vào đời sống thường ngày của con người.

Chúa Giêsu không bắt đầu sứ vụ tại Giêrusalem, không ở Đền Thờ, không giữa giới lãnh đạo tôn giáo. Ngài đến Galilê, vùng đất bị coi thường, nơi dân chúng sống bằng lao động tay chân, nơi nhịp sống xoay quanh biển, lưới và con cá.

Nước Trời đã đến gần” không phải là một thời điểm trừu tượng. Đó là khoảnh khắc Thiên Chúa quyết định đến gần con người đến mức có thể chạm vào, nghe thấy, và bước theo.

Và điều ấy vẫn đang tiếp diễn. “Nước Trời đã đến gần” không chỉ trong một ngày hay một mùa nào đó trong lịch phụng vụ. “Nước Trời đã đến gần” là bất cứ lúc nào con người mở lòng ra cho Thiên Chúa.

  1. Lời rao giảng khẩn thiết: hoán cải và tin

Chúa Giêsu không nói: “Hãy cải thiện bản thân trước đã, rồi hãy đến với Ta.” Ngài nói: “Anh em hãy sám hối.”

Hoán cải không chỉ là từ bỏ tội lỗi bề ngoài. Hoán cải là thay đổi hướng đi của đời mình, là quay lại để nhìn cuộc sống bằng ánh mắt của Thiên Chúa. Chúng ta thường nghĩ mình không cần hoán cải nhiều, vì vẫn sống đạo, vẫn đi lễ, vẫn cầu nguyện. Nhưng Tin Mừng nhắc chúng ta rằng: hoán cải là một hành trình mỗi ngày, không phải một biến cố đã xong.

Tin cũng không chỉ là chấp nhận một mệnh đề đúng sai. Tin là dám phó thác đời mình cho một Đấng mà ta chưa hoàn toàn hiểu hết, giống như các môn đệ đầu tiên. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả thư Do Thái viết: “Không có đức tin, thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa” (Dt 11: 6).

Đức tin luôn đi kèm với sự bấp bênh. Ngay cả Tôma, người đã sống ba năm bên Chúa Giêsu, vẫn có lúc nghi ngờ. Nhưng Chúa Giêsu không loại bỏ ông. Ngài đến và cho ông chạm vào vết thương của Ngài.

Điều Chúa tìm kiếm không phải là một đức tin đã hoàn hảo, nhưng là một con tim dám tin ngay cả khi còn run sợ.

  1. “Hãy theo Ta” là lời mời gọi giữa công việc dang dở

Chúa Giêsu gặp Simon và Anrê khi họ đang thả lưới. Ngài gặp Giacôbê và Gioan khi họ đang vá lưới cùng cha mình. Không có dấu hiệu chuẩn bị, không có thời gian suy tính. Và điều đáng kinh ngạc là: “Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Ngài” (Mt 4: 20).

Chúng ta có thể tự hỏi: tại sao các ông lại có thể làm như vậy?

Bởi vì khi Chúa mời gọi, thì ân sủng của Ngài đã đi trước. Lời mời gọi ấy không chỉ vang lên bên ngoài, mà chạm đến tận sâu thẳm lòng họ.

Ngày nay, Chúa cũng gọi chúng ta giữa những lúc chúng ta đang bận bịu với những “tấm lưới” của riêng mình: công việc, gia đình, trách nhiệm, thói quen, vùng an toàn.

Chúa không khinh thường những điều ấy. Nhưng Ngài hỏi: “Con có sẵn sàng đặt Ta lên trên tất cả không?”

Theo Chúa không nhất thiết là bỏ nghề, nhưng là để cho Ngài định hướng lại mọi sự trong đời mình.

  1. Được biến đổi, không phải tự mình nên hoàn hảo

Chúa Giêsu không nói: “Hãy theo Ta vì các ngươi xứng đáng.” Ngài nói: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mt 4: 19).

Chính Chúa là Đấng hành động. Ngài không đợi chúng ta hoàn hảo rồi mới kêu mời cộng tác, mà Ngài dùng chính sự yếu đuối của chúng ta để làm nên điều lớn lao. Phêrô từng chối Thầy ba lần. Nhưng khi đức tin của ông được đặt đúng chỗ và được Thánh Thần nâng đỡ, ông đã làm thay đổi thế giới.

Điều này nhắc chúng ta rằng: Thiên Chúa không đòi hỏi chúng ta phải mạnh mẽ, chỉ cần chúng ta sẵn sàng. “Này chính Ta là Chúa, Thiên Chúa của mọi phàm nhân, đối với Ta, hỏi có điều gì là không thể làm được chăng?” (Gr 32: 27)

Đối với Thiên Chúa, không có hoàn cảnh nào quá rắc rối, không có tâm hồn nào quá khô cằn, nếu chúng ta dám mở lòng cho Ngài.

Chúng ta không từ chối Chúa cách công khai, nhưng vẫn còn đó những rào cản vô hình trong lòng chúng ta. Rất nhiều lần, chúng ta trì hoãn.

– Để mai rồi hoán cải

– Để ổn định hơn rồi dấn thân

– Để bớt bận rộn hơn rồi cầu nguyện

Nhưng Tin Mừng luôn nói về cuộc sống thường ngày. Những rào cản lớn nhất thường không phải là tội lỗi nặng, mà là sự thoải mái, thói quen, và đủ mọi thứ làm tâm hồn chúng ta phân tán.

Chúng ta có thể dâng hiến vật chất, công việc, thời gian… nhưng luôn ưu tiên giữ lại cho mình lối sống qui về cái tôi vị kỷ riêng mình. Trong khi điều Chúa mong muốn nhất chính là con tim trọn vẹn. Chúng ta có dám nói: “Lạy Chúa, chúng con dâng hiến cõi lòng mình…”

  1. Đức tin nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện

Cầu nguyện không phải là công cụ để chúng ta đạt được điều mình muốn. Cầu nguyện là đặt mình trước mặt Thiên Chúa với trọn niềm tin.

Khi đức tin gia tăng, lời cầu nguyện trở nên sâu sắc hơn, không phải vì chúng ta nói hay hơn, mà vì chúng ta tin tưởng vào Chúa hơn. Ngay cả khi còn nghi ngờ, hãy đem sự nghi ngờ ấy đến với Chúa. Chính nơi đó, Ngài gặp gỡ chúng ta. Cũng như bên bờ Galilê năm xưa, hôm nay Chúa Giêsu đang đứng rất gần chúng ta. Không ồn ào, không áp đặt. Chỉ là một lời mời: “Hãy theo Ta” (Mt 4: 19).

Không phải ngày mai. Không phải khi mọi sự đã hoàn hảo. Ngay bây giờ. “Hôm nay” là khoảnh khắc không được để trôi qua.

Lạy Chúa Giêsu, giữa những nhịp sống thường ngày, xin cho con nhận ra tiếng Ngài đang gọi. Xin kéo con vào “thời điểm viên mãn” của Ngài, ngay hôm nay, ngay lúc này. Xin cho con một con tim biết ăn năn, một đức tin dám phó thác, và một sự tự do để bước theo Ngài không do dự, không sợ hãi. Con tin rằng không có gì là quá khó đối với Ngài. Con tin cậy nơi Ngài. Amen.

Phêrô Phạm Văn Trung

Subcategories