3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

LƯỠI KHÔNG XƯƠNG

Ngụ ngôn Ê-dốp kể rằng: Một hôm, chủ sai Ê-dốp ra chợ chọn mua món gì sang quý nhất để thiết đãi bạn quý đến nhà. Ê-dốp tìm mua đủ thứ lưỡi của gia súc đem về khiến ông bực bội và hỏi tại sao thì Ê-dốp đáp: “Thưa ông, ông truyền cho con mua thứ gì sang quý nhất đãi bạn và con nghĩ rằng trên đời nầy không gì quý bằng lưỡi. Nhờ lưỡi, người ta có thể nói năng và truyền đạt những điều khôn ngoan; nhờ lưỡi người ta ca tụng tình yêu, thắt chặt tình huynh đệ, mang lại hòa thuận, an vui, hạnh phúc cho mọi người…”

Thế rồi, lần khác, chủ nhà sai Ê-dốp ra chợ mua thứ gì tồi tệ nhất để đãi những người khách xấu nết không mời mà đến. Ê-dốp cũng lại mua về toàn là lưỡi. Chủ nhà bực tức, quát hỏi: Tại sao mầy không mua món gì tồi tệ về cho tao? Ê-dốp trả lời: “Con thiết nghĩ: trên đời chẳng có gì tồi tệ như lưỡi: Lưỡi gây nên bất hòa bất thuận, lưỡi phun ra những lời cay đắng độc địa, lưỡi tạo nên hận thù ghen ghét chiến tranh…

 

Đúng là “Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo.” Lưỡi có thể là một bộ phận tốt đẹp để xây dựng hòa bình nhưng cũng lắm người sử dụng lưỡi để gây chiến tranh, đau thương khốn khổ cho người khác.

Lời nói phát xuất từ miệng lưỡi con người có thể gây nhiều tổn thương cho người khác nặng nề hơn cả việc dùng tay chân để đấm đá, đâm chém.

Người ta dùng lời để chê bai, nói xấu, gièm pha, phỉ báng, chửi mắng… gây đau buồn, tổn thương cho người khác rất nhiều. Ngày nay, người ta còn dùng cả mạng xã hội để tha hồ chửi bới, bôi bác nhau cho cả triệu người khắp nơi được nghe biết! Thật là chuyện hết sức đau lòng.

Thánh vịnh 64 nói về hạng người nầy như sau: “Chúng mài lưỡi như mài gươm sắc, lời thâm độc tựa tên lắp vào cung, bắn trộm người vô tội, bắn thình lình mà chẳng sợ chi…[1]”.

Để ngăn ngừa thói xấu tệ hại nầy, qua bài Tin mừng được trích đọc hôm nay, Chúa Giê-su răn dạy chúng ta đừng sử dụng miệng lưỡi để gây tổn thương cho người khác. Ngài nói: “Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng hội đồng; còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo thì đáng bị lửa hỏa ngục thiêu đốt” (Mt 5,22).

Còn đối với những người hay “nổ” hoặc dối trá, Chúa Giê-su dạy phải nói lời chân thật. Ngài nói: “Hễ có thì phải nói có, không thì nói không. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ mà ra.[2]

 

Lạy Chúa Giê-su,

Nếu miệng lưỡi chúng con thốt lên những lời xây dựng sinh ích cho người khác thì đó là phương tiện giúp chúng con đạt tới hạnh phúc thiên đàng. Trái lại, nếu dùng miệng lưỡi để gieo rắc đau khổ và thiệt hại cho người khác thì đó là duyên cớ đưa xuống hỏa ngục.

Xin cho chúng con biết khôn ngoan sử dụng miệng lưỡi mình theo đúng ý Chúa. Amen.

 

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 

CHÚA NHẬT 6 TN NĂM A

Mt 5, 20-22a. 27-28. 33-34a. 37

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Ta bảo thật các con: Nếu các con không công chính hơn các luật sĩ và biệt phái, thì các con chẳng được vào Nước Trời đâu.

“Các con đã nghe dạy người xưa rằng: ‘Không được giết người. Ai giết người, sẽ bị luận phạt nơi toà án’. Còn Ta, Ta bảo các con: Bất cứ ai phẫn nộ với anh em mình, thì sẽ bị toà án luận phạt. Ai bảo anh em là ‘ngốc’, thì bị phạt trước công nghị.

“Các con đã nghe nói với người xưa rằng: ‘Chớ ngoại tình’. Còn Ta, Ta bảo các con: Hễ ai nhìn xem phụ nữ mà ước ao phạm tội với họ, thì đã ngoại tình với họ trong lòng rồi.

“Các con cũng đã nghe có lời bảo người xưa rằng: ‘Chớ thề gian, nhưng hãy giữ trọn lời mình thề với Chúa’. Còn Ta, Ta bảo các con: Đừng thề chi cả. Nhưng lời nói của các con phải là: Có thì nói có, không thì nói không, thêm điều đặt chuyện là bởi ma quỷ mà ra”.

 

[1] Tv 64, 4-5

[2] Mát-thêu 5, 37

CON ĐƯỜNG CÔNG CHÍNH CỦA NƯỚC TRỜI

Trong Bài giảng trên núi, Chúa Giêsu tuyên bố: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ… nhưng là để kiện toàn” (Mt 5:17). Lời khẳng định này đặt nền tảng cho toàn bộ giáo huấn Kitô giáo. Chúa Giêsu không đến để xóa bỏ truyền thống Do Thái hay phá luật, mà để đưa Lề Luật đến chỗ viên mãn, làm sáng tỏ ý định nguyên thủy của Thiên Chúa khi ban Luật cho dân Ngài.

  1. Bản chất của Lề luật

Luật Môsê, tự bản chất, là thánh thiện: “Như vậy, Lề Luật là thánh, và điều răn cũng là thánh, đúng và tốt” (Rm 7: 12). Nhưng con người, vì yếu đuối và tội lỗi, thường chỉ dừng lại ở mặt chữ, ở sự tuân giữ bề ngoài. Chúa Giêsu, với thẩm quyền của Con Thiên Chúa, đã đưa việc tuân giữ Lề Luật nệ hình thức vào chiều sâu nội tâm, từ lề thói bên ngoài vào ý hướng của cõi lòng, từ việc “không làm điều xấu” sang việc “yêu mến điều thiện”. Vì thế Ngài nói tiếp: “Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành” (Mt 5: 18). Không có điều răn nào là tầm thường. Không có giới luật nào chỉ để cho có. Mỗi giới luật đều là con đường dẫn đến sự sống, nếu được hiểu và sống trong ánh sáng của tình yêu.

Sách Huấn ca cho thấy một ánh sáng quan trọng để hiểu giáo huấn của Chúa Giêsu: “Trước mặt con, Ngài đã đặt lửa và nước, con muốn gì, hãy đưa tay ra mà lấy” (Hc 15: 16). Thiên Chúa tạo dựng con người với tự do đích thực. Người không ép buộc ai nên thánh, cũng không xui khiến ai phạm tội: “Ngài không truyền cho ai ăn ở thất đức, cũng không cho phép ai phạm tội” (Hc 15: 20).

Ở đây, Kinh Thánh bác bỏ tận căn mọi kiểu biện minh cho tội lỗi: đổ lỗi cho bản năng, cho xã hội, cho hoàn cảnh, hay thậm chí cho chính Thiên Chúa. Con người tự do chọn lựa, và vì thế, chịu trách nhiệm về việc chọn lựa sự sống hay cái chết của mình.

Thánh Augustinô đã viết: “Giờ đây, Thiên Chúa đã mặc khải cho chúng ta, qua Kinh Thánh của Ngài, rằng con người có sự tự do lựa chọn. Trước hết, các điều răn của Thiên Chúa sẽ vô ích đối với con người, nếu họ không có sự lựa chọn tự do để tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa, họ không thể nhận được phần thưởng đã hứa. Bởi vì các điều răn được ban cho để không ai có thể viện cớ thiếu hiểu biết, như Chúa Giêsu đã nói về người Do Thái trong Tin Mừng: giả như Thầy không đến và không nói với họ, họ đã chẳng có tội. Nhưng bây giờ, họ không thể chữa tội được. (Ga 15: 22)” [1]

Thánh Gioan Phaolô II, trong thông điệp Veritatis Splendor, khẳng định: “Sự trọn hảo đòi hỏi sự trưởng thành trong việc hiến dâng bản thân, điều mà sự tự do của con người hướng đến. Chúa Giêsu cho thấy động lực đặc biệt của sự phát triển tự do hướng đến sự trưởng thành, và đồng thời biểu lộ mối tương quan cơ bản giữa tự do và luật của Thiên Chúa. Tự do của con người và luật của Thiên Chúa không đối lập nhau; trái lại, chúng bổ trợ cho nhau” (số 17).

Tuy nhiên, sự tự do đó vẫn là bất toàn. Thánh Gioan Phaolô II tiếp tục thông điệp bằng cách trích dẫn thánh Augustinô: “Có người hỏi tại sao đó lại không phải là tự do hoàn hảo? Bởi vì tôi nhìn thấy trong các chi thể tôi trổi dậy một luật khác chống lại luật của trí tuệ tôi… Đó là tự do một phần nào đó và là nô lệ một  phần nào đó: đó chưa phải là tự do hoàn toàn, tự do tràn đầy, bởi vì đó chưa phải là vĩnh cửu…Do vậy, bởi vì chúng ta vẫn còn một nỗi yếu đuối nào đó, tôi dám nói rằng chúng ta vẫn còn bị nô lệ tùy theo mức độ mà chúng ta lụy phục lề luật của tội” (đã dẫn trên).

Chúa Giêsu, khi kiện toàn Lề Luật, không hủy bỏ tự do con người, nhưng nâng tự do ấy lên một tầm cao mới: tự do để yêu như Thiên Chúa yêu, như thánh Phaolô xác quyết: “Chính để chúng ta được tự do mà Chúa Kitô đã giải thoát chúng ta” (Gl 5: 1) và: “Anh em đã được kêu gọi để hưởng tự do. Vậy anh em đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau” (Gl 5: 13).

  1. Sự công chính vượt trên kinh sư và người Pharisêu

Đỉnh cao của đoạn Tin Mừng là lời cảnh báo nghiêm khắc: “Vậy, Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 5: 20).

Người Pharisêu nổi tiếng vì giữ luật tỉ mỉ, nhưng vấn đề không ở sự nghiêm ngặt, mà ở ý hướng và cách giữ luật: họ giữ luật để tự đề cao bản thân và phán xét người khác, chứ không phải vì yêu mến Thiên Chúa và tha nhân. Chúa Giêsu nói về họ: “Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta… Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy” (Mt 23: 4-5). Sự công chính Chúa đòi hỏi là công chính của cõi lòng, phát xuất từ mối tương quan sống động với Thiên Chúa, như người con trong gia đình chứ không phải như người làm thuê.

Chúa Giêsu bắt đầu bằng giới răn căn bản: “Chớ giết người” (Mt 5: 21). Nhưng Ngài lập tức đi xa hơn: “Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà” (Mt 5: 22). Giết người không chỉ là hành vi thể lý, mà còn là hủy diệt người khác khỏi lòng mình bằng sự giận dữ, khinh miệt, xúc phạm. Những lời mắng chửi, nhục mạ có thể không đổ máu, nhưng chúng giết chết nhân phẩm và tình huynh đệ.

Thánh Phanxicô Salêsiô nói: “Hãy luôn dịu dàng hết mức có thể; và hãy nhớ rằng bạn sẽ bắt được nhiều ruồi hơn với một thìa mật ong hơn là với một trăm thùng giấm. Bản chất của tâm trí con người là như vậy; nó nổi loạn chống lại sự nghiêm khắc, nhưng sự dịu dàng khiến nó dễ dàng chấp nhận mọi thứ.” [2]

Vì thế, Chúa Giêsu đặt hòa giải lên trên cả việc tế tự: “Hãy đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5: 24). Không có phụng vụ nào đẹp lòng Thiên Chúa nếu thiếu tình yêu và sự tha thứ. Thánh Faustina đã nói: “Người biết tha thứ sẽ tự chuẩn bị cho mình nhiều ân sủng từ Thiên Chúa. Mỗi khi tôi nhìn thấy thập tự giá, tôi sẽ tha thứ hết lòng.” [3]

Khi nói “Chớ ngoại tình” (Mt 5; 27). Chúa Giêsu không chỉ đưa ra một quy định xã hội bên ngoài nhưng Ngài đi vào chiều sâu nội tâm: “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5: 28). Đây không phải là sự kết án cảm xúc tự nhiên, nhưng là lời mời gọi thanh luyện cõi lòng và thay đổi cách nhìn. Trong một thế giới đầy hình ảnh khiêu gợi, con người dễ biến người khác thành đối tượng để chiếm hữu, thay vì một con người để yêu thương. Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhấn mạnh: “Ngoại tình, giống như trộm cắp, tham nhũng và tất cả các tội lỗi khác, trước hết được hình thành trong sâu thẳm con người chúng ta và, một khi sự lựa chọn sai trái được đưa ra trong lòng, nó sẽ được thực hiện bằng hành vi cụ thể. Chúa Giêsu nói: người nào nhìn người phụ nữ không phải của mình với lòng tham lam thì người đó là kẻ ngoại tình trong lòng, đã bước vào con đường ngoại tình” (Kinh truyền tin, 12.02.17).

Những lời mạnh mẽ như “móc mắt ném đi”, “chặt tay ném đi” (Mt 5: 29–30) không nhằm cổ vũ bạo lực, nhưng diễn tả sự dứt khoát cần có trong cuộc chiến thiêng liêng chống lại tội lỗi. Không có sự thánh thiện nào mà không có hy sinh cần thiết.

Khi nói về ly dị, Chúa Giêsu khẳng định ý định ban đầu của Thiên Chúa về tính bất khả phân ly của hôn nhân: “Ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình…” (Mt 5:31–32). Hôn nhân không chỉ là hợp đồng xã hội, mà là giao ước thánh, phản ánh tình yêu trung tín của Thiên Chúa và của Chúa Kitô đối với Hội Thánh: “Như Hội Thánh tùng phục Chúa Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậyNgười làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Chúa Kitô yêu thương Hội Thánh” (Ep 5:24–25). Lòng trung tín trong hôn nhân phản ánh tình yêu của Thiên Chúa.

Đức Phanxicô viết: “Chúa Kitô đến gặp gỡ các đôi vợ chồng Kitô hữu qua Bí tích Hôn Phối. Ngài ở lại với họ, ban sức mạnh cho họ để họ nhận lấy thập giá của mình mà bước đi theo Ngài, chỗi dậy sau khi qụy ngã, tha thứ cho nhau, và vác lấy gánh nặng của nhau” (Amoris Laetitia, số 73). Giữ lòng trung tín không chỉ bằng hành vi, mà còn bằng tư tưởng, ước muốn và chọn lựa hằng ngày.

  1. Nói năng trong sự thật

Cuối cùng, Chúa Giêsu dạy về lời thề và sự thật. Ngài mời gọi các môn đệ sống một đời sống chân thật đến mức không cần phải thề thốt: “Đừng thề chi cả. Đừng chỉ trời mà thề, vì trời là ngai Thiên Chúa. Đừng chỉ đất mà thề, vì đất là bệ dưới chân Người. Đừng chỉ Giêrusalem mà thề, vì đó là thành của Đức Vua cao cả. Đừng chỉ lên đầu mà thề, vì anh không thể làm cho một sợi tóc hoá trắng hay đen được. Nhưng hễ có thì phải nói có, không thì phải nói không. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ” (Mt 5: 34-37). Khi lời nói phát xuất từ lòng ngay thẳng, thì chính đời sống ấy đã là một lời chứng.

Thánh Phaolô nhắc cộng đoàn Côrintô rằng Tin Mừng không phải là sự khôn ngoan thế gian, mà là lẽ khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa: “Chúng tôi giảng dạy lẽ khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa…” (1 Cr 2: 6–7). Chỉ nhờ Thần Khí, con người mới có thể hiểu và sống giáo huấn triệt để của Chúa Giêsu, vì “Thần Khí thấu suốt mọi sự” (1 Cr 2: 10). Không có Thần Khí, Luật trở thành gánh nặng; có Thần Khí, Luật trở thành con đường tự do và sự sống. Chúa Giêsu không hạ thấp đòi hỏi của Lề Luật, nhưng mời gọi con người hoán cải nội tâm, đi từ sợ hãi đến yêu mến.

Xin Thần Khí ban cho chúng ta một trái tim mới, để chúng ta có thể sống theo Lề Luật của Thiên Chúa và Hội Thánh không như gánh nặng, nhưng như con đường dẫn đến tự do và hạnh phúc đích thực trong Nước Trời.

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://www.newadvent.org/fathers/1510.htm, chương 2.

[2] https://www.catholictradition.org/Classics/wisdom2.htm

[3]  https://www.divinemercy.org/elements-of-divine-mercy/introduction/73-quotes-from-the-saints-on-mercy.html

Muối cho đời

Trong những dịp cuối năm, các bản tổng kết tình hình đều đánh giá cao những đóng góp của Giáo hội đặc biệt trong lãnh vực giữ gìn đạo đức xã hội. Nơi nào có đồng bào Công giáo sinh sống, tệ nạn xã hội không có hoặc có rất ít. Nghe những nhận định trên, tôi rất vui vì thấy anh chị em tín hữu đang sống đúng tinh thần trở thành muối cho đời như lời Chúa dạy trong bài Tin Mừng hôm nay.

Khi nói đến muối Chúa Giêsu có ý dạy các môn đệ về cách thế hiện diện trong xã hội.

Đó là một hiện diện khiêm nhường

Hạt muối thật bé nhỏ. Chẳng ai chú ý tới sự hiện diện của nó. Bên cạnh thịt, cá, rau cỏ, muối chỉ đóng vai phụ. Người ta trưng bày những món ăn đắt tiền. Người ta giới thiệu những món ăn cầu kỳ. Không thấy ai trưng bày muối. Chẳng có ai giới thiệu muối trong bữa tiệc lớn. Xét về giá trị kinh tế, muối chẳng đáng giá bao nhiêu. Đó là một hiện diện quên mình.

Muối có đó nhưng không ai thấy muối. Không chỉ vì muối bé nhỏ khiêm nhường mà vì muối phải tan biến đi. Phải tan biến đi muối mới có tác dụng. Muối ướp vào thịt cá mà không tan đi thì không thấm được vào thớ thịt, thớ cá, không giữ cho thịt tươi cá tốt được. Muối gia giảm vào cá kho, thịt rim, nước canh mà không tan đi thì khi ăn phải, người ta sẽ nhăn mặt bỏ đi. Chỉ khi tan biến đi, hoà tan vào thịt, cá, rau cỏ, muối mới có ích lợi. Muối phải hiện diện nhưng lại phải tiêu huỷ đi thì mới có ích.

Đó là một hiện diện tích cực.

Tuy bé nhỏ khiêm nhường và vắng mặt, nhưng hiện diện của muối là một hiện diện tích cực. Tích cực vì góp phần bảo trì thực phẩm khỏi hư thối, vì nâng phẩm chất món ăn. Tích cực vì là một thành phần hầu như không thể thiếu trong các món ăn. Tuy không thấy và không nói ra, nhưng ai cũng ngầm hiểu trong mỗi món ăn đều có muối.

Khi dùng muối làm hình ảnh minh hoạ, chắc chắn Chúa Giêsu cũng muốn cho các môn đệ của Người có những đặc tính của muối.

Người muốn các môn đệ của Người sống giữa nhân loại như muối ở trong thức ăn. Người muốn các môn đệ của Người hiện diện thật kiêm nhường như những hạt muối bé nhỏ. Người muốn các môn đệ của Người hiến thân mình cho nhân loại như những hạt muối hòa tan trong thực phẩm.

Nhưng để sự hiện diện bé nhỏ khiêm nhường mang yếu tố tích cực, các môn đệ phải giữ được vị mặn của muối.

Vị mặn, đó là lòng yêu mến Chúa mặn nồng, là tình yêu tha nhân mặn mà, là sống tinh thần Tám Mối Phúc như Chúa dạy trong bài Tin Mừng tuần trước.

Giữ được vị mặn của Phúc Âm và hiện diện âm thầm trong phục vụ quên mình, người môn đệ Chúa sẽ thực sự góp phần bảo vệ nền đạo đức của xã hội. Dù không muốn, họ vẫn trở thành ánh sáng soi trần gian.

Lạy Chúa, Chúa tin tưởng con, nên đã gọi con là muối trần gian. Xin cho lòng con yêu mến Chúa tha thiết, để đem cho đời hương vị tình yêu. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1-Bạn nghĩ gì về hình ảnh hạt muối?

2-Làm muối, dễ hay khó?

3-Bạn đã bao giờ cảm thấy niềm vui được chìm đi để anh em được nổi nang chưa?

 

TGM. Ngô Quang Kiệt

ĐƯỢC ĂN NO NÊ

Thứ Bảy Tuần 5 Thường Niên A

Qua Lời Tổng Nguyện của Lễ Thánh Syrilô và Thánh Mêtôđiô hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa đã dùng hai anh em thánh Syrilô và thánh Mêtôđiô, để đưa các dân tộc Xilavônia tới ánh sáng Tin Mừng. Xin Chúa mở lòng chúng ta đón nhận lời Chúa dạy, và xin Chúa biến đổi chúng ta thành dân riêng của Chúa, luôn đồng tâm nhất trí với nhau, để sống đức tin chân thật và thẳng thắn tuyên xưng. Hai anh em Côngtăngtinô và Mêtôđiô được Thượng Phụ Giáo Chủ Côngtăngtinôpôli phái sang Môravia để loan báo Tin Mừng. Năm 868, hai vị đi Rôma để trình bày với Đức Giáo Hoàng những việc các vị làm. Côngtăngtinô qua đời tại đó dưới tên trong đan viện là Syrilô (năm 869). Còn Mêtôđiô được phong làm Tổng Giám Mục Xiamium, đi loan báo Tin Mừng cho người Xilavônia (+ năm 885). Ngày 31 tháng 12 năm 1980, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II công bố hai thánh Syrilô và Mêtôđiô là bổn mạng châu Âu cùng với thánh Biển Đức.

Sống đức tin chân thật và thẳng thắn tuyên xưng, theo sự hướng dẫn của Thần Khí, như trong bài đọc một Kinh Sách, trích thư của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Galát: Hoa trái của Thần Khí: Cuộc sống và hoạt động của người Kitô hữu không phải do nỗ lực riêng, cho bằng, nhờ Thần Khí hoạt động nơi họ. Càng sống theo Thần Khí, càng để cho Thần Khí hướng dẫn, người Kitô hữu càng nhận được ân sủng, nhờ đó, có được một thứ bản năng mới, giúp mình tránh được những việc do tính xác thịt gây ra, mà gặt được hoa trái của Thần Khí… Ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy. Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu, thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát. Ai theo Thần Khí mà gieo điều tốt, thì sẽ gặt được kết quả của Thần Khí là sự sống đời đời. 

Sống đức tin chân thật và thẳng thắn tuyên xưng, trong sự hiệp nhất nên một, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, trích Hạnh Thánh Côngtăngtinô Syrilô: Xin làm cho Hội Thánh Chúa được thêm đông và xin liên kết tất cả nên một… Chúa đã phán bảo những người hiếu trung rằng: Ta đã cất nhắc một người Ta đã chọn trong dân, Ta đã tìm ra nghĩa bộc Đavít. Ta đã xức dầu thánh tấn phong người, và sẽ không ngừng đưa tay nâng đỡ. Ta sẽ cho các ngươi một vị mục tử đẹp lòng Ta, người sẽ chăn dắt các ngươi thật khôn ngoan sáng suốt. 

Sống đức tin chân thật và thẳng thắn tuyên xưng, trung thành, chứ đừng phản nghịch bất trung, như trong bài đọc một Thánh Lễ, trích sách Các Vua I: Vua Giarópam làm hai con bò mộng bằng vàng. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 105: Lạy Chúa, xin Ngài nhớ đến con, bởi lòng thương dân Ngài. Cùng các bậc tổ tiên, chúng con đã phạm tội, đã ở bất công, làm điều gian ác. Xưa bên Aicập, tổ tiên chúng con đã không hiểu những kỳ công của Chúa. 

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra. Trong bài Tin Mừng, thánh Máccô tường thuật: Đám đông đã ăn và được no nê. Lời Chúa là lương thực nuôi sống ta, đường lối thánh chỉ của Chúa làm cho ta được sống và sống dồi dào, ta hãy cúi mình thờ lạy, phủ phục trước tôn nhan Chúa, Đấng dựng nên ta, bởi chính Người là Thiên Chúa ta thờ, chứ đừng như, vua Giarópam làm hai con bò mộng bằng vàng, khiến cho nhà Giarópam phạm tội, rồi bị sụp đổ và tiêu ma khỏi mặt đất, như xưa Dân Chúa, tại Khôrếp, họ đúc một con bê, rồi phủ phục tôn thờ tượng đó. Gieo gì gặt nấy: theo tính xác thịt mà gieo điều xấu, thì, sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát; theo Thần Khí mà gieo điều tốt, thì, sẽ gặt được kết quả của Thần Khí là sự sống đời đời. Ước gì chúng ta biết noi gương hai thánh Syrilô và thánh Mêtôđiô: mở lòng đón nhận lời Chúa dạy, và luôn đồng tâm nhất trí với nhau, để sống đức tin chân thật và thẳng thắn tuyên xưng. Ước gì được như thế!

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền,OSB.

Sống với và sống cho

Dù chứng cứ là các vật hóa thạch không là bao nhưng học thuyết tiến hóa dường như thu hút nhiều người khi giải thích mối liên hệ giữa các loài. Tuy nhiên gần đây một số nhà khoa học chợt thấy một vài khập khiễng trong hệ thống học thuyết vốn được xem là thời thượng này. Học thuyết tiến hóa đề cao sự chọn lọc tự nhiên, thích nghi môi trường và sự đấu tranh sinh tồn. Như thế loài càng phát triển cao thì hẳn nhiên khả năng đấu tranh sinh tồn và thích nghi môi trường sẽ mạnh. Thế nhưng, khi phân tích dáng đứng thẳng của loài người thì người ta thấy kiểu dáng đứng thẳng của con người lại gây trở ngại cho việc sinh sản hơn so với kiểu dáng đi bốn chân của loài vật. Bên cạnh đó trẻ sơ sinh hoàn toàn như không thể tự đấu tranh sinh tồn so với nhiều loài vật bậc thấp khi chúng ra khỏi dạ mẹ là có thể tự tìm đến vú mẹ.

Qua một vài hiện tượng trên người ta có thể nói rằng con người là sinh vật sống bởi và sống nhờ kẻ khác. Không có tha nhân thì con người không thể hiện hữu, không thể tồn tại và phát triển đúng nghĩa là con người. Và ngược lại, người ta có thể nói rằng con người là sinh vật sống với và sống cho ai đó. Vì sự sống, sự tồn tại và phát triển của tôi là nhờ tha nhân thì một trong những ý nghĩa của đời tôi đó là để cho ai đó nhờ tôi mà được sống, tồn tại và phát triển. Con người không hiện hữu cho chính nó. Không ai là một hòn đảo. Đây là một trong những nội hàm của câu Thánh Kinh: “Con người ở một mình không tốt” (St 2,18)

“Chính anh em là muối cho đời… Chính anh em là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,13-14). Muối hiện hữu không cho chính nó nhưng để làm mặn các vật thể khác, để ướp cho thực phẩm được tươi lâu… Cũng thế ánh sáng không có ra cho nó mà là để chiếu sáng môi trường, chiếu sáng các vật thể chung quanh…đúng hơn là để giúp các vật thể, môi trường cũng như con người thể hiện mình ra, nghĩa là được nhận thấy. Chúa Giêsu cũng đã từng ví các môn đệ như là men. Tương tự như ánh sáng và muối, men không hiện hữu cho nó nhưng là cho bột hay vật cần dậy men.

Để hữu ích cho tha nhân thì trước tiên chúng ta phải là chính mình trong sự chính hiệu và hoàn hảo một mức nào đó. “Muối mà nhạt đi, thì lấy gì mà muối cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi” (Mt 5,13). Có thể xem như chưa xứng đáng là người, khi một ai đó bị liệt vào hàng “đồ vô tích sự”. Ngay cả những người vì lý do nào đó mà sống cảnh tàn phế về thể lý thì luôn có đó khát khao sống cuộc đời “tàn”, nhưng không “phế”, tức là dù bị tàn tật mà không phải là “đồ bỏ đi”. Trong đức tin thì sự hiện hữu và chào đời của một em bé dị tật từ lòng mẹ cũng có một ý nghĩa nào đó cho nhiều người. Có thể có nhiều em bé dị tật bẩm sinh không ý thức gì, nhưng sự hiện hữu của em là một lời mời gọi tha nhân biết cách sống “có một tấm lòng”.

Định luật vạn vật hấp dẫn minh định sự tương tác giữa các hiện hữu đời này. Với trí khôn biết phản tỉnh thì con người một cách nào đó có thể nhận ra ý nghĩa của việc làm người của mình. Không chỉ nhìn nhận như là hiện tượng mà còn xác tín “sỏi đá cũng cần có nhau”, cố nhạc sĩ họ Trịnh trong những ngày vất vả ở chốn “kinh tế mới” đã kiên định “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”. Đó là một bông hoa dại, là một nụ cười trao cho đời, cho người bên cạnh. Dù ở trong tình trạng như “bị thất sủng”, ông đã quyết tâm “chọn con đường đến với anh em, đến với bạn bè, đến với mọi người”, bởi chưng nhạc sĩ mãi vững tin vào cái lẽ sống của mình đó là “vì đất nước cần một trái tim”.

Trong số tha nhân xa gần thì những người mà chúng ta cần sống với và sống cho cách đặc biệt hơn cả là những người đang cần tình yêu của Thiên Chúa qua chính chúng ta. Ngôn sứ Isaia trong bài đọc thứ nhất cụ thể hóa điều này: “Thiên Chúa phán: Hãy chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục. Bấy giờ ánh sáng của ngươi sẽ bừng lên như rạng đông…” (Is 58,7-8).

Lẽ sống của con người cũng chính là hạnh phúc của con người. Khi biết sống với và sống cho người anh em đồng loại, nhất là những người hèn mọn, yếu thế, cô thân, thì chúng ta sẽ được hưởng nhận hạnh phúc vĩnh cửu Thiên Chúa dành sẵn từ đời đời. Chúa Kitô đã khẳng định rõ chân lý này trong dụ ngôn ngày cánh chung. “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay tự thưở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các người đã cho Ta ăn; Ta khát, các người đã cho Ta uống, Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước, Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc, Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han…Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,34-40).

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột

Subcategories