3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

Suy tư và cầu nguyện: ĐỀN THỜ MỚI - NỀN PHỤNG TỰ MỚI

Mừng Lễ Cung Hiến Đền Thờ Latêranô, Đền Thờ Mẹ của các Đền Thờ, thay vì, tập trung vào mình, lo thanh tẩy, gìn giữ đền thờ tâm hồn của mình, thì, ta nên tập trung vào Đức Kitô, Đền Thờ Mới, Nền Phụng Tự mới, bởi vì, ơn cứu độ của ta đến từ Đức Kitô, là Đầu của Hội Thánh, chứ, không phải đến từ công trạng hay những của lễ chúng ta dâng cho Chúa.

Câu in nghiêng của Bài Tin Mừng Lễ Cung Hiến Thánh Đường Latêranô là: Đền thờ Đức Giêsu muốn nói là chính thân thể Người. Đức Kitô là Đầu, còn, chúng ta là các chi thể, nên, trong Bài đọc 2 Thánh Lễ, thánh Phaolô nói: Anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa. Tung hô Tin Mừng: Đức Chúa phán: Ta đã chọn và thánh hóa nhà này, để Danh Ta ngự nơi đây đến muôn đời. Đức Giêsu chính là Đền Thờ Mới, từ bên phải Đền Thờ, từ cạnh sườn bị đâm thâu: máu cùng nước chảy ra khai sinh Hội Thánh, Bí Tích Cứu Độ Phổ Quát cho toàn thể nhân loại, như trong Bài đọc 1 Thánh Lễ, ngôn sứ Êdêkien nói: Tôi đã thấy dòng nước từ cửa đông Đền Thờ tuôn ra, và tất cả những ai được nước ấy thanh tẩy đều hưởng ơn cứu độ. Đáp Ca, Thánh Vịnh 45: Một dòng sông chảy ra bao nhánh đem niềm vui cho thành của Chúa Trời: đây chính là đền thánh Đấng Tối Cao. Thiên Chúa ngự giữa thành, thành không lay chuyển. 

Đức Giêsu đã đuổi những người bán chiên, bò, bồ câu ra khỏi Đền Thờ, nền phụng tự cũ, hy lễ cũ, phải nhường chỗ cho một nền phụng tự mới, hy lễ mới. Đức Giêsu chính là Đền Thờ Mới, Hy Lễ Mới, là Chiên Thiên Chúa, không có hy lễ nào làm nguôi lòng, làm đẹp lòng Chúa Cha cho bằng hy lễ của Đức Giêsu, Con Một của Người. Đức Giêsu đã đổ máu mình ra để mua của lễ dâng tiến Chúa Cha thay cho chúng ta, chúng ta không cần phải đổ máu mình, chỉ cần chúng ta ký tên mình vào lễ vật để được thông phần với Đức Kitô, như Ca Hiệp Lễ cho thấy: Anh em được dùng như những viên đá sống động, để xây dựng đền thờ của Thánh Thần, và được nâng lên hàng tư tế thánh. 

Đừng biến Nhà Cha Ta thành nơi buôn bán, ơn cứu độ không phải là một cuộc mua bán đổi chát, dâng chiên, bò, bồ câu cho Chúa thì cứ dâng, nhưng, không được phép biến Chúa thành con nợ, phải ban ơn cứu độ cho chúng ta. Ơn cứu độ là ơn hoàn toàn nhưng không, không phải do công trạng của chúng ta, cũng không phải do chúng ta cướp bóc, Nhà Cha Ta không phải nơi buôn bán, không phải hang trộm cướp, nhưng là, Nhà Cầu Nguyện của muôn dân, ơn cứu độ là do tình yêu, lòng thương xót của Thiên Chúa, vì thế, toàn thể nhân loại phải tha thiết cầu xin ơn cứu độ của Thiên Chúa. 

Nước từ bên phải Đền Thờ, từ nơi cạnh sườn Đức Giêsu chảy ra khai sinh Hội Thánh. Trong Đức Kitô Giêsu, tất cả nhân loại được kêu gọi gia nhập Hội Thánh, và trong Hội Thánh, nhờ ơn Thiên Chúa, chúng ta đạt tới sự thánh thiện. Quả thật, khi được giương cao khỏi mặt đất, Đức Kitô đã lôi kéo mọi người lên với mình; khi trỗi dậy từ cõi chết, Người đã cử Thần Khí của mình, Đấng ban sự sống đến với các môn đệ; và nhờ Thần Khí, Người thiết lập Thân Thể của mình là Hội Thánh, như Bí Tích Phổ Quát sinh ơn cứu độ. Cuộc phục hồi mà chúng ta đang mong đợi theo lời hứa, đã khởi sự nơi Đức Kitô, được triển khai, khi Thánh Thần được cử đến, và đang tiếp diễn trong Hội Thánh nhờ Thánh Thần. Trong khi đợi chờ xuất hiện trời mới, đất mới, nơi công lý ngự trị, Hội Thánh lữ hành phải mang lấy khuôn mặt thế gian đang qua đi. Hội Thánh sống giữa các thụ tạo, cho đến nay, vẫn đang rên siết và quằn quại như sắp sinh nở, và mong đợi ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người. 

Tóm lại, qua các Bản Văn Phụng Vụ, các Nhà Phụng Vụ muốn chúng ta tập trung vào Thân Thể của Đức Kitô là Hội Thánh, là Đền Thờ Mới, Bí Tích Cứu Độ Phổ Quát. Nhà Cha Ta là Nhà Cầu Nguyện, chứ không phải nơi buôn bán, hang trộm cướp, vì thế, chúng ta cần phải có lòng tin cậy mến, để tha thiết cầu xin ơn cứu độ cho mình và cho người khác, như Lời Tổng Nguyện: Chúa đã muốn cho Dân Chúa được gọi là Hội Thánh, xin nhìn đến chúng con đang tụ họp nơi đây nhân danh Chúa, mà ban cho chúng con biết kính thờ, yêu mến và phụng sự Chúa cho phải đạo, hầu đạt tới phúc lộc quê trời Chúa hứa ban.

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền,OSB.

THỜ PHƯỢNG THIÊN CHÚA THEO CUNG CÁCH CHÚA GIÊSU

Hành động thanh tẩy Đền Thờ của Chúa Giêsu là một tuyên ngôn mạnh mẽ về sự thánh thiêng tuyệt đối của Ngài và là lời tiên tri về sự Phục Sinh của Ngài. Đây là một hành vi ngôn sứ công khai, công bố một kỷ nguyên mới. Chúa Giêsu Kitô đánh dấu một thay đổi lớn trong lịch sử cứu độ. Đền thờ bằng đá ở Giêrusalem được thay thế bằng chính Thân Mình Ngài: “Đền Thờ Chúa Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Ngài” (Ga 2:21). Đền thờ - Thân Mình Ngài cũng là Giáo hội và mỗi người tín hữu: “Đền Thờ ấy chính là anh em” (1 Cr 3:17).

  1. Đền thờ mới, trung tâm của ơn cứu độ

Vào Lễ Vượt Qua, người Do Thái từ khắp nơi tụ họp về Giêrusalem để thực hiện giới luật kính viếng Đền Thờ. Luật quy định việc dâng lễ vật: bò, cừu, bồ câu và chim gáy. Tuy nhiên, không mấy ai mang theo động vật từ xa đến để làm lễ vật. Những người hành hương cũng phải nộp thuế Đền Thờ hàng năm bằng tiền Do Thái. Vì người Israel sống rải rác khắp các quốc gia vào thời điểm đó, mỗi quốc gia có đồng tiền riêng, nên họ buộc phải tìm người đổi tiền khi đến nơi. Họ mang theo cả tiền La Mã lẫn tiền Do Thái; tiền La Mã cho phép họ giao dịch với tất cả mọi người, trong khi tiền Do Thái cho phép họ giao dịch với đồng bào của họ.

Những yêu cầu thờ phượng như trên đã dẫn đến việc lập ra một chợ động vật thực sự và một trung tâm đổi chác ngoại tệ tại tiền sảnh của Đền thờ, được gọi là Sân của Dân Ngoại, nơi người nước ngoài được phép đi vào. Sự náo động giống như một khu chợ hoặc như một hội chợ nhộn nhịp ngày nay, được tô điểm bởi bầu không khí giao tiếp phương Đông, những bài hát quảng cáo sản phẩm, những tiếng tranh cãi giá cả... Tất cả những yếu tố này kết hợp lại thành một sự náo động không thể chấp nhận được trong không gian linh thiêng lẽ ra phải được tôn kính của đền thờ. Tất cả tạo ra một quang cảnh bát nháo của một Đền thờ bị phạm thánh. Người ta sẽ cảm nhận và hiểu rõ hơn sự phạm thánh này khi thử hình dung một nhà thờ ngày nay đầy những người bán hàng rong rao bán sản phẩm, la hét lớn tiếng và phá vỡ sự yên tĩnh cần có. Đền Thờ đã bị biến tướng thành nơi để trục lợi của lòng tham và làm ô uế không gian cầu nguyện, biến nơi thánh thiêng thành nơi buôn bán phàm tục. Trên thực tế, tình trạng này, vốn đã tồn tại qua nhiều năm, là một nguồn lợi nhuận bất chính, không chỉ cho những người bán hàng và đổi tiền, mà trước hết là cho các thành viên của Tòa Công Luận, đặc biệt là những người thuộc gia đình tư tế Anna. Họ đã tổ chức một hệ thống độc quyền kiểm soát thương mại tất cả các giao dịch trong khu vực đó. Không bị đe dọa bởi sự cạnh tranh, họ đã lợi dụng các quy định của lề luật để áp đặt giá trị bị thổi phồng, thiết lập các hoạt động gian lận và moi tiền của người dân với đủ loại phí.

Chúa Giêsu bị khuấy động bởi lòng nhiệt thành mà Ngài đã thể hiện đối với Nhà Cha, như Ngài đã xác định từ xưa: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2: 39). Chúa Giêsu thấy Nhà Cha bị xúc phạm bởi kiểu buôn bán hỗn loạn, trục lợi, bất kể sự linh thánh. Ngài thấy hết mọi chuyện và Ngài phản ứng “Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa” (Ga 2:17). Thánh Gioan mô tả: “Ngài liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Ngài đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ” (Ga 2:15). Cơn thịnh nộ chính đáng của Chúa Giêsu là vì những người bán hàng độc quyền đang dùng hàng hóa của mình để móc hầu bao của các khách hành hương, nhất là ăn chặn cắt cổ khi đổi tiền. Lời tuyên bố của Chúa Giêsu là một mệnh lệnh dứt khoát: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán” (Ga 2:16).

Những kẻ chống đối Chúa Giêsu không thể hiểu rằng đền thờ sẽ không còn là nơi thờ phượng Thiên Chúa nữa. “Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại”vì “Đền Thờ Chúa Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Ngài” (Ga 2: 19, 21). Hơn nữa, các con vật dùng để hiến tế, và phương tiện để mua chúng, dù sao cũng sẽ không còn cần thiết nữa vì Chúa Giêsu là của lễ hy sinh tối thượng. Thiên Chúa ngự trong con người Chúa Giêsu. Ngài là đền thờ mới. Thánh Augustinô diễn giải: “Chúa Giêsu đã nói về Đền thờ là Thân thể Ngài. Hãy xét đến quyền năng này mà Ngài đã phán rằng Ngài sẽ tỏ bày cho loài người, bởi vì thân thể của Ngài, chính là Đền Thờ của Thần Tính ẩn giấu bên trong. Người Do Thái nhìn thấy Đền Thờ bên ngoài, nhưng Thần Tính ngự bên trong thì họ không thấy. Lời Chúa phán đã đề cập đến Sự Phục Sinh trong tương lai khi nói về Đền Thờ.” [1]

Nhờ Bí tích Rửa tội, chúng ta cũng là đền thờ của Thiên Chúa, như Thánh Phaolô thừa nhận: “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?” (1 Cr 3:16). Thánh nhân còn khẳng định thân thể chúng ta là thân thể của Chúa Kitô: “Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Chúa Kitô sao?” (Cr 6:15). Thật kỳ diệu.

Thánh nhân nói những điều này, ám chỉ rằng “thân thể chúng ta” ở trong sự thánh thiện và tinh khiết, vì là “các chi thể của Chúa Kitô.” Và vì lý do này, ngài nói: “Vậy ai phá huỷ Đền Thờ Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ huỷ diệt kẻ ấy” (1 Cr 3: 17). Thánh nhân đặt câu hỏi: “Vậy thì, không phải là một sự phạm thượng tột độ sao, khi nói rằng đền thờ Thiên Chúa, nơi Thánh Thần của Chúa Cha ngự trị, và các chi thể của Chúa Kitô, không được dự phần vào sự cứu rỗi, mà bị đưa đến sự hư mất? Hơn nữa, thân thể chúng ta được sống lại không phải bởi bản tính riêng của nó, mà bởi quyền năng của Thiên Chúa. Do đó thánh nhân khuyên bảo các tín hữu Côrintô: thân xác con người không phải để gian dâm, mà để phụng sự Chúa, vì Chúa làm chủ thân xác. Thiên Chúa đã làm cho Chúa Kitô sống lại; chính Ngài cũng sẽ dùng quyền năng của mình mà làm cho chúng ta sống lại” (1 Cr 6: 13-14). [2]

Hành động này cảnh tỉnh chúng ta về Đền Thờ tâm hồn của mỗi người. Nếu Chúa Giêsu phẫn nộ vì người Do Thái đã tục hóa Đền Thờ, thì Ngài sẽ còn phẫn nộ hơn nếu chúng ta cho phép những ham muốn tội lỗi, ích kỷ, và những toan tính trần tục chiếm ngự tâm hồn chúng ta, là đền thờ nơi Thánh Thần Thiên Chúa ngự trị.

  1. Đền thờ đích thực là thân thể phục sinh của Chúa Kitô

Khi Người Do Thái đòi một “dấu lạ” chứng tỏ quyền năng, Chúa Giêsu đã đưa ra dấu lạ vĩ đại nhất: “Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại” (Ga 2:19).

Sự nhầm lẫn của họ: “Đền Thờ này phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong, thế mà nội trong ba ngày ông xây lại được sao?” (Ga 2:20) cho thấy sự hạn chế của cách nhìn vật chất. Thánh sử Gioan đã giải thích một cách rõ ràng: “Nhưng Đền Thờ Chúa Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Ngài” (Ga 2:21). Lời tuyên bố này báo trước cuộc Khổ Nạn, cái Chết và sự Phục Sinh vinh hiển của Chúa Kitô, là giao ước mới và vĩnh cửu, là một cuộc cách mạng thay đổi tất cả.

Chỉ sau khi Chúa Kitô “từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Ngài đã nói điều đó, Họ tin vào Kinh Thánh và lời Chúa Giêsu đã nói” (Ga 2:22). Cái chết và sự Phục Sinh của Chúa Kitô là ánh sáng soi rọi toàn bộ kế hoạch cứu độ. Chính Chúa Kitô đã làm cho mọi hy tế và nghi thức cũ của đền thờ cũ trở nên trọn vẹn trong Hy tế Thập giá và sự Phục sinh vinh hiển của Ngài.

Đền Thờ bằng đá được thiết lập để dâng các hy tế là các con vật. Đền Thờ Thân Thể Chúa Kitô được thiết lập để dâng Hy Tế hoàn hảo và duy nhất trên Thập Giá. Khi Thân Thể Chúa Kitô trỗi dậy, Ngài trở thành trung tâm mới của sự thờ phượng, là nơi gặp gỡ đích thực giữa Thiên Chúa và con người.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô suy ngẫm về thân thể Chúa Giêsu là đền thờ của Thiên Chúa: “Thân xác Ngài, bị hủy diệt trên Thập Giá bởi bạo lực của tội lỗi, sẽ trở thành nơi gặp gỡ phổ quát giữa Thiên Chúa và loài người trong sự Phục Sinh. Và chính Chúa Kitô Phục Sinh là nơi gặp gỡ phổ quát cho tất cả mọi người, giữa Thiên Chúa và loài người.” [3]

  1. Cộng Đoàn tín hữu là Đền Thờ

Chúa Kitô Phục Sinh trở thành Đền Thờ mới, Ngài trao quyền năng này cho cộng đoàn Giáo hội. Thánh Phaolô sử dụng hình ảnh ngôi nhà để mô tả Giáo hội như một công trình xây dựng của Thiên Chúa: “Anh em là ngôi nhà Thiên Chúa xây lên” (1 Cr 3: 9). Thánh Phaolô giảng dạy về trách nhiệm xây dựng cộng đoàn Giáo hội trên nền móng vững chắc và thánh thiện không thể lay chuyển là Chúa Kitô.

Thánh Phaolô nhận thức rõ ràng công việc của con người là hợp tác với Thiên Chúa trong việc xây dựng Giáo hội: “Thật vậy, chúng tôi là cộng sự viên của Thiên Chúa” (1 Cr 3:9). Thánh nhân, với tư cách là “kiến trúc sư lành nghề” (1 Cr 3:10), đã đặt nền móng. Ngài nhấn mạnh nền móng đó là một thực tại không thể thay đổi: “Vì không ai có thể đặt nền móng nào khác ngoài nền móng đã đặt sẵn là Chúa Giêsu Kitô” (1 Cr 3:11).

Đây là sự hoàn tất lời tiên tri về Đền Thờ. Sau khi Chúa Kitô Phục Sinh, Thánh Thần được sai đến để biến mỗi cá nhân và toàn bộ cộng đoàn thành Đền Thờ sống động của Thiên Chúa. Thân thể mỗi người là nơi Thánh Thần ngự trị, đòi hỏi sự thánh thiện và tôn trọng. Giáo hội là Ngôi Nhà, là Đền Thờ, trong đó sự chia rẽ, bất hòa, hoặc làm suy yếu sự hiệp nhất của Thân Thể Đức Kitô là hủy hoại Đền thờ của Thiên Chúa.

Giáo hội không thể tồn tại nếu không dựa trên Chúa Kitô. Mọi giáo huấn, mọi hoạt động mục vụ, mọi công việc tông đồ phải bắt nguồn từ Chúa Kitô, như Giáo lý Công giáo khẳng định: “Hội Thánh là Thân Thể của Chúa Kitô. Nhờ Thần Khí và nhờ hành động của Ngài trong các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, Chúa Kitô, Đấng đã chết và đã sống lại, làm cho cộng đoàn các tín hữu nên Thân Thể của Ngài…Hội Thánh là một Thân Thể có Đức Kitô là Đầu: Hội Thánh sống do Ngài, trong Ngài, và cho Ngài; chính Ngài sống với Hội Thánh và trong Hội Thánh” (GLHTCG, 805, 807).

Gần đây nhất, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV kêu gọi mọi người xây dựng Giáo hội bằng những hành động phục vụ và yêu thương cụ thể: “Chúng ta phải mơ ước và xây dựng một Giáo Hội khiêm nhường hơn; một Giáo Hội không đứng thẳng như người Pharisêu, đắc thắng và tự mãn, nhưng cúi xuống rửa chân cho nhân loại; một Giáo Hội không xét đoán như người Pharisêu đã làm với người thu thuế, nhưng trở thành nơi chào đón tất cả mọi người; một Giáo Hội không khép kín trong chính mình, nhưng luôn lắng nghe Thiên Chúa để có thể lắng nghe mọi người. Chúng ta hãy dấn thân xây dựng một Giáo Hội hoàn toàn hiệp nhất, phục vụ và hướng về Chúa Kitô, và do đó dấn thân phục vụ thế giới” (Bài giảng Thánh lễ mừng Năm Thánh của các Nhóm Thượng Hội đồng và các Cơ quan Tham gia, 26 tháng 10 năm 2025).

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] số 31, https://www.catholiccrossreference.online/fathers/index.php/John%202:19

[2] số 2, đã dẫn trên

[3] https://www.retreathousebandra.in/let-jesus-cleanse-your-heart-pope-francis-says

ĐỨC GIÊSU – NGƯỜI QUẢN LÝ BẤT LƯƠNG

Thứ Sáu Tuần 31 TN C

Dụ ngôn “Người Quản Lý Bất Lương” được đặt trong Bối Cảnh Phụng Vụ của Thứ Sáu Tuần 31 Thường Niên Năm Lẻ, cho ta thấy gương mặt của Đức Kitô – Người Tôi Trung của Thiên Chúa, được sai đến chỉ để thi hành ý muốn của Chúa Cha. Đức Giêsu nói: Người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm; vì điều gì Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy (Ga 5,19). Đức Giêsu có một Người Cha phung phí: Người phung phí khi gieo hạt giống cả trên vệ đường, sỏi đá và bụi gai; Người phung phí khi đối xử nhân hậu với người con hoang đàng phung phá hết tài sản; Người phung phí đến nỗi, hiến cho nhân loại cả Người Con Một Yêu Dấu, tài sản quý giá nhất của Người.

Ơn cứu độ chính là kho tàng, là sản nghiệp Chúa dành cho ta. Tất cả là của Chúa, ta chỉ là người quản lý, ta hãy bắt chước và nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, Người Quản Lý bất lương hoang phí nguồn ơn cứu độ của Chúa Cha, đến nỗi, phí luôn giọt Máu cuối cùng trên thập giá để cứu độ ta, như cây hương mộc vẫn tỏa hương thơm cho chiếc rìu chặt nó, tình yêu, lòng thương xót của Đức Giêsu vẫn tuôn đổ dạt dào trên những kẻ chống đối, bách hại và đóng đinh Người. Đức Kitô, Người Quản Lý bất lương, đã phung phí hết tài sản của Chúa Cha, là chính mình, cho một nhân loại bất lương, bất hiếu, bất trung; Người đã phung phí đến hơi thở cuối cùng, để cứu sống, và chữa lành một nhân loại phung hủi nhơ uế vì tội lỗi. Ước gì ta biết nên giống Đức Kitô, để cũng được Chúa Cha khen là “người quản lý bất lương”.

Tung hô Tin Mừng: Ai giữ lời Đức Kitô dạy, thì nơi kẻ ấy, tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn hảo. Lời Chúa phán là lời chúc bình an cho Dân Người, lời Đức Kitô là lời cứu độ, là lời ban sự sống; tình yêu của Thiên Chúa thực sự nên hoàn hảo nơi chúng ta, khi lời hứa cứu độ được thành toàn nơi chúng ta và nơi tất cả mọi người. Chúng ta là người quản lý kho tàng ơn cứu độ của Thiên Chúa, vì thế, chúng ta phải làm cho mình và cho người khác được hưởng ơn cứu độ của Chúa, như Đáp Ca, Thánh Vịnh 97: Chúa đã biểu dương ơn Người cứu độ, mặc khải đức công chính của Người trước mặt chư dân. Toàn cõi đất này đã xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu, mừng vui lên, reo hò đàn hát. Trong Bài đọc 1 Thánh Lễ, thánh Phaolô tự nhận: Thiên Chúa đã cho tôi làm người phục vụ Đức Giêsu Kitô, để các dân ngoại trở nên lễ phẩm đẹp lòng Thiên Chúa, để những kẻ đã không được loan báo về Người, sẽ thấy; những kẻ đã không được nghe nói về Người, sẽ hiểu.

Chúng ta, không chỉ, lo cho những người đang sống được hưởng ơn cứu độ của Chúa, mà còn, phải cầu nguyện cho những người đã chết, như trong Bài đọc 1 Kinh Sách, ông Giuđa Macabê đã quyên tiền gửi về Giêrusalem xin dâng lễ đền tội cho những chiến binh tử trận. Cầu nguyện cho kẻ chết được thứ tha tội lỗi, quả là việc thánh thiện và tốt lành. Ai làm như vậy sẽ được một phần thưởng vô cùng quý giá. Trong Bài đọc 2 Kinh Sách, thánh Ghêgôriô Nadien cũng nói: Cầu nguyện cho người quá cố là một ý tưởng lành thánh, Đức Kitô là Chúa và Thiên Chúa chúng ta, Người sẽ đón nhận những anh chị em chúng ta đã qua đời, vì Người đã đổ máu đào cứu chuộc họ.

Tất cả đều do bởi ơn Chúa, vì thế, tự sức mình, chúng ta không thể tin nhận Đức Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất của chúng ta, chúng ta rất cần ơn Chúa, để có thể hưởng ơn cứu độ của Người, như Lời Tổng Nguyện: Chỉ nhờ Chúa ban ơn, các tín hữu Chúa mới có thể thờ Chúa cho phải đạo, xin giúp đỡ chúng con thẳng tiến về cõi trời Chúa hứa mà không bị vấp ngã trên đường. Ca Nhập Lễ: Lạy Chúa, xin đừng bỏ mặc, đừng nỡ xa con, xin Ngài mau phù trợ. Ca Hiệp Lễ: Lạy Chúa, Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống: Trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề.

 Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền,OSB.

 

MÙI ĐẤT, MÙI TRỜI

Thứ Bảy Tuần 31 TN C

“Thiên Chúa thấu biết lòng các ông!”.

“Tôi làm hết sức những gì có thể. Nếu kết thúc của nó tốt đẹp, tôi an lòng, những lời chống đối sẽ không là gì cả. Nếu tôi sai, thì dẫu mười thiên thần cho rằng, ‘Tôi đúng’, điều đó vẫn không tạo nên một sự khác biệt. Chúa biết mọi sự!” - A. Lincoln.

Kính thưa Anh Chị em,

“Chúa biết mọi sự!”, xác tín của Lincoln được gặp lại qua Tin Mừng hôm nay. Chúa Giêsu nói với các biệt phái, “Thiên Chúa thấu biết lòng các ông!” - những người sống theo ‘thói đất’, đánh bóng chính mình. Ngài muốn họ thanh thoát - rũ ‘mùi đất’, ngát ‘mùi trời!’.

Trong cuộc sống, có những sai lầm khi chúng ta nghĩ về người khác, và cũng bao điều không đúng khi người khác nghĩ về chúng ta. Kết luận của Chúa Giêsu nhắm đến một khuynh hướng chung của nhiều người - tô hồng một bản ngã giả tạo - một ảo tưởng khiến con người khép kín trước chân lý, tha nhân và Thiên Chúa. Ai không dám nhìn vào lòng mình dưới ánh sáng của Ngài, người ấy chỉ lệt đệt ‘ngang đất’. “Nếu không biết mình, bạn sẽ chẳng đâm rễ nơi bản thân; bạn có thể chịu đựng một thời, nhưng khi gặp đau khổ hay bách hại, đức tin của bạn sẽ lung lay!” - Henry Newman.

Chúa Giêsu ‘biết tỏng’ lòng dạ các biệt phái, Ngài cũng ‘biết tỏng’ lòng dạ bạn và tôi! Chúng ta thường tự đề cao, tạo nên một hình ảnh lệch lạc về bản thân. Nhiều đổ vỡ khởi đi từ đó! Vì thế, mấu chốt của đời sống thiêng liêng chính là “biết mình trong ánh nhìn của Thiên Chúa” - cũng là cánh cửa nơi ân sủng đi vào. ‘Biết mình’ giúp chúng ta không còn bận tâm điều Thiên Chúa không bận tâm, nhưng bận tâm những gì Ngài nghĩ về tôi, cuộc sống tôi, linh hồn tôi. “Một khi dám để Thiên Chúa đi vào toàn bộ bản thân run rẩy của mình, bạn càng cảm nhận được rằng, Tình Yêu Ngài - tình yêu hoàn hảo - đuổi hết mọi sợ hãi!” - Henri Nouwen.

Phaolô hiểu rõ điều ấy, ngài nhận ra sự yếu hèn của mình và biết ơn những người đã nâng đỡ ngài trong sứ vụ, “Họ đã liều mất đầu để cứu mạng tôi. Không chỉ mình tôi, mà còn các Hội Thánh!” - bài đọc một. Nhờ sự cộng tác đó, danh Thiên Chúa được chúc khen, “Lạy Thiên Chúa con thờ là Vua của con, xin chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời!” - Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

“Chúa biết mọi sự!”. Ngài biết chúng ta ‘từ đất’, ‘thuộc về đất’ và lòng luôn ‘dính đất’; vì thế, với những tiêu chí ‘ngang đất’, chúng ta luôn tìm cho mình những ‘trọng vọng’ theo ‘thói đất’. Không được như vậy, chúng ta chắp vá, vay mượn… chỉ để tạo nên một ‘giá trị rẻ tiền’ nào đó trước người đời. Kết quả, cuộc sống chúng ta đượm ‘mùi đất’ - nặng nề, giả tạm - hơn là toả ‘mùi trời’ - thanh thoát, chân thật. Nhưng ân sủng - không phá huỷ tự nhiên, mà kiện toàn nó - có thể thánh hoá đất ấy. Chính từ ‘phận đất’, Chúa muốn làm bừng dậy ‘hồn trời’; Ngài mơ về chúng ta luôn nhìn vào Chúa Kitô, nên giống Ngài, Đấng sẽ chỉ cho mỗi người cách sống tư cách con trai, con gái của Trời; phần còn lại, Ngài lo!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con sống theo thói đất, đượm mùi đất; cho con vương hương mùi trời, xứng với phẩm tính con cái Vua Trời!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

Thắp lên niềm tin – Nhắc nhở ngày 2/11

Khi những cơn gió se lạnh đầu mùa khẽ lướt qua, mang theo chút hơi sương bảng lảng của đất trời đang chuyển mình, lòng người dường như cũng lắng lại trong một cõi tâm tư sâu thẳm. Phụng vụ của Mẹ Giáo hội, trong sự khôn ngoan thiêng liêng, đã sắp đặt một cách tuyệt vời khi dành trọn tháng Mười Một để mời gọi con cái mình hướng lòng về cõi vĩnh hằng, đặc biệt với việc khởi đầu bằng ngày Lễ Các Thánh (1/11) và ngay sau đó là ngày Lễ Cầu Cho Các Tín Hữu Đã Qua Đời (2/11). Đây không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, mà là một bài giáo lý sâu sắc về mầu nhiệm Các Thánh Thông Công. Ngày 2/11, bầu khí của toàn thể Giáo hội dường như chùng xuống trong sự tưởng niệm, nhưng không phải là một sự bi lụy hay tuyệt vọng, mà là một sự tưởng niệm được thắp sáng bởi niềm tin Phục Sinh. Chúng ta không chỉ nhớ về những người đã khuất, mà chúng ta còn chủ động "thắp lên niềm tin" – niềm tin vào sự sống lại, niềm tin vào sự hiệp thông, và niềm tin vào sức mạnh của lời cầu nguyện có thể xuyên thấu bức màn ngăn cách giữa cõi sống và cõi chết. Ngày hôm nay nhắc nhở chúng ta về một món nợ ân tình, một mối dây liên kết không thể bị cắt đứt bởi sự chết thể lý, đó là mối liên kết giữa chúng ta với ông bà, cha mẹ, và những người thân yêu đã đi trước chúng ta vào cõi vĩnh hằng.

Bước vào Tháng Linh Hồn, bắt đầu từ ngày mồng 2/11, là chúng ta bước vào một cuộc hành hương của trái tim. Cuộc hành hương này không cần phải đi đâu xa, mà là một cuộc hành hương trở về với cội nguồn, với ký ức, và với chân lý đức tin căn bản nhất của người Kitô hữu. Các nghĩa trang, vốn thường ngày tĩnh lặng, bỗng trở nên ấm áp hơn bởi ánh nến lung linh, rực rỡ hơn bởi muôn ngàn sắc hoa tươi thắm, và thơm ngát hương trầm bay quyện trong gió. Những hình ảnh đó không chỉ là một nét văn hóa, một truyền thống tốt đẹp, mà còn là một biểu hiện sống động của đức tin. Mỗi ngọn nến được thắp lên là một lời tuyên xưng: "Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vậy. Amen." Ngọn nến ấy là biểu tượng của chính Chúa Kitô, Ánh Sáng Phục Sinh đã chiến thắng bóng tối tử thần. Nó cũng là biểu tượng cho niềm hy vọng của chúng ta, rằng những người thân yêu, dù đang trong đêm tối của sự thanh luyện, cũng sẽ sớm được Ánh Sáng Vĩnh Cửu của Thiên Chúa chiếu soi. Mỗi nén hương được đốt lên là một lời kinh nguyện thầm lặng, một sự hiệp thông chân thành, mang theo lòng hiếu thảo và tình yêu thương của con cháu gởi đến các bậc tiền nhân. Chúng ta đến nghĩa trang không phải để tìm một sự ủy lị, nhưng để tìm thấy sự bình an, để củng cố niềm tin, và để nhắc nhở chính mình về thân phận lữ hành của cuộc đời này.

Tháng Mười Một mời gọi chúng ta sống "trọn hiếu thảo thiêng liêng". Lòng hiếu thảo của người Kitô hữu không dừng lại ở bờ bên này của sự chết. Khi cha mẹ, ông bà còn sống, chúng ta phụng dưỡng, chăm sóc, yêu thương. Khi các ngài đã qua đời, lòng hiếu thảo ấy được thăng hoa, được chuyển hóa thành một hình thức cao đẹp hơn: đó là lòng hiếu thảo thiêng liêng. Chúng ta không còn có thể mang đến cho các ngài những bữa ăn vật chất, nhưng chúng ta có thể mang đến cho các ngài "bữa ăn" thiêng liêng quý giá hơn vạn bội: đó chính là Thánh Lễ Misa. Mỗi Thánh Lễ chúng ta tham dự, mỗi lần chúng ta dâng ý lễ cầu nguyện cho các linh hồn, là chúng ta đang trao cho các ngài chính Máu Thịt cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô. Đó là hành động bác ái cao cả nhất, là sự giúp đỡ thiết thực nhất mà chúng ta có thể làm cho những người đã khuất. Ngoài Thánh Lễ, còn có biết bao phương thế khác: chuỗi Mân Côi, những lời kinh nguyện tắt, những việc hy sinh hãm mình, những việc bác ái tông đồ. Mỗi lời kinh, mỗi việc lành chúng ta làm với ý hướng cầu nguyện cho các linh hồn, đều trở thành "nhịp cầu nối dài yêu thương", bắc từ trần thế lên cõi vĩnh hằng, rút ngắn thời gian thanh luyện và đưa các linh hồn mau chóng về hưởng nhan thánh Chúa.

Trong dòng chảy của tình yêu thương và sự tưởng nhớ ấy, chúng ta không thể không chạnh lòng nghĩ đến "các linh hồn mồ côi". Đó là những linh hồn, vì một lý do nào đó, không còn ai trên trần thế này nhớ đến để dâng lễ, cầu kinh cho họ. Có thể họ là những người đã sống một cuộc đời âm thầm, cô độc; có thể dòng dõi của họ đã không còn ai giữ đạo; hoặc đơn giản là thời gian đã xóa nhòa mọi ký ức. Những linh hồn này đang khao khát lòng thương xót của Chúa biết bao, và họ cũng đang mong chờ lòng bác ái của chính chúng ta. Giáo hội, trong tình mẫu tử, luôn khuyến khích con cái mình hãy quảng đại cầu nguyện cho "các linh hồn được mồ côi". Khi chúng ta dâng một lời kinh, một Thánh lễ cho họ, chúng ta đang hành động như chính lòng thương xót của Thiên Chúa. Và chúng ta có thể tin chắc rằng, những linh hồn "mồ côi" ấy, khi được giải thoát nhờ lòng bác ái của chúng ta, sẽ trở thành những người bạn, những người bầu cử tri ân và đắc lực nhất cho chúng ta trước tòa Chúa. Đây là một sự đầu tư thiêng liêng khôn ngoan nhất, một sự "cho đi" mà chắc chắn sẽ "nhận lại" gấp bội phần, không chỉ ở đời này mà nhất là ở đời sau.

Vậy, khi chúng ta bước vào những ngày đầu tiên của Tháng Linh Hồn, với tâm điểm là ngày 2/11, chúng ta được mời gọi hãy làm mới lại đức tin của mình. Đừng để tháng này trôi qua như một thói quen, một tập tục văn hóa rỗng tuếch. Hãy biến nó thành một cơ hội thực sự để lớn lên trong tình mến Chúa và yêu người, cả người sống lẫn người đã khuất. Hãy gọi tên những người thân yêu đã ra đi trong lời kinh tối nay của gia đình. Hãy thắp lên một ngọn nến trong góc phòng nguyện, không chỉ như một dấu chỉ của sự tưởng nhớ, mà còn là dấu chỉ của sự hiệp thông và hy vọng. Ngọn nến ấy sẽ nhắc nhở chúng ta rằng, dù đang sống ở hai cõi khác nhau, chúng ta vẫn là một trong mầu nhiệm Giáo hội hiệp thông. Sự chết không phải là dấu chấm hết, mà chỉ là một cánh cửa mở ra một cuộc sống mới, cuộc sống vĩnh cửu trong tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Mỗi lời kinh, mỗi việc bác ái của chúng ta trong tháng này là một hành động cụ thể để thắp lên niềm tin cho chính mình, cho gia đình, và để chiếu dọi ánh sáng hy vọng vào cõi thanh luyện, nơi các linh hồn đang mong chờ ngày được giải thoát. "Tôi tin hằng sống vậy" – ước gì lời tuyên xưng đức tin này không chỉ dừng lại trên môi miệng, nhưng thực sự trở thành kim chỉ nam cho mọi suy nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta trong suốt Tháng Linh Hồn này và trong cả cuộc đời.

Lm. Anmai. CSsR

Subcategories