3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

ĐỆ TAM NHÃN

Hôm nay Chúa Giêsu đưa 3 môn đệ lên núi. Ở trên núi, trong lúc hiển dung sáng láng, các môn đệ thấy ba vị : Chúa Giêsu, Elia và Mosê. Phêrô mừng quá muốn dựng đúng 3 cái lều.

Ba môn đệ lên núi, thấy 3 vị trên núi, dựng 3 lều. Vì thế đề tài cũng dừng ở con số ba : ba con mắt, hay đúng hơn, con mắt thứ ba : đệ tam nhãn. 

Con người bình thường có hai con mắt. Với hai con mắt này, rất nhiều điều ta không thấy được. Cần có con mắt thứ ba : đệ tam nhãn, mới thấy được. Con mắt thứ ba là con mắt tâm hồn. Có khi gọi là con mắt đức tin.

Ví dụ, cái căn bản của con người sống trên đời là tình yêu thương. Nhưng với hai mắt thường ta nào thấy được, cần con mắt thứ ba, con mắt của tâm hồn, của con tim. Với hai con mắt thường kia, ta nào thấy được tình yêu màu gì, nó nặng bao nhiêu. Nhưng với mắt của tâm hồn, ta thấy được tình yêu của họ màu hồng hay màu xám. Màu hồng là thành thật, màu xám là mưu mô. Nó nặng hay nhẹ tênh, ta biết được nhờ con mắt tâm hồn.

Những nhà thần bí học đã đề cập đến đệ tam nhãn -con mắt thứ ba. Họ nói tới việc nhìn thấy với con mắt của tâm hồn. Họ nói cho chúng ta rằng nếu chúng ta nhìn xem bề ngoài thì chúng ta đánh mất điều cơ bản, cái thực tại ở bên trong. Có một câu đầy ý nghĩa trong sách "The Little Prince" (Hoàng Tử Bé). Câu đó là: "Điều gì cơ bản thì con mắt không thể thấy được."

Thiên Chúa là điều cơ bản, ta không thể thấy với hai mắt thường. Hình ảnh của Thiên Chúa nơi mỗi con người, ta cũng không thể thấy bằng hai mắt thường, cần con mắt thứ ba.

Muốn con mắt thứ ba sáng, không cận, không loạn, không mờ… phải tập cho nó nhìn nữa. Tập rõ nhất là lên núi cao.

Lên núi cao

Chúa Giêsu đưa các môn đệ lên núi cao, chứ không phải xuống lũng sâu, và ở trên núi cao các môn đệ mở mắt ra, -con mắt thứ ba, thấy Chúa Giêsu sáng láng lạ thường, áo Ngài mặc trắng tinh như tuyết.

Chúng ta khi đi thăm một thành phố nào, cũng cố đi lên nơi cao nhất, để thấy được cái mà nếu chỉ vật lộn với cuộc sống lè tè dưới thấp, ta không thấy nổi. Đến Paris, thế nào cũng kiếm một vé leo lên Eiffel cao hơn 300m. Đến Chicago thế nào cũng ghé toà nhà Sears (nay đã đổi chủ) cao hơn 410m. Ở Việt Nam, đi Châu Đốc, lên núi Sam; đi Tây Ninh leo núi Bà Đen. Lên cao mới thấy rõ. Đalat cao 1500 mét rồi, nhưng nếu không lên đồi Du Sinh cũng khó trông thấy toàn Đalat.

Lên núi cao, đối với chúng ta người có Đạo, đích thị là lên với Chúa, đến với Ngài ở nơi Ngài thường ngự là Nhà Thờ.

Kinh Thánh cho ta những dữ liệu :Giêrusalem, nơi Chúa ngự, cũng nằm trên núi Sion. Môse cũng lên núi Sinai mới gặp được Chúa. Elia đi 40 ngày lên núi Horeb để thấy Chúa. Vì thế lên núi cao là đến với Chúa, đối với chúng ta không có núi cao, sẽ là đến Nhà Thờ.

Đến với Ngài ở Nhà Thờ sẽ dễ mở ra con mắt thứ ba hơn cả.

Chắc nhiều người trong chúng ta cũng đã cảm được điều này. Đến Nhà Thờ, mà phải quỳ kìa, còn chỉ đứng quan sát chẳng thấy Chúa đâu. Quỳ trong Nhà Thờ, tuy không thấy phép lạ “trắng gì mà trắng thế, sao mà sáng thế” của chiếc áo Chúa mặc, nhưng ta thấy được Chúa là nguồn tình yêu và nhất là nguồn bình an, để rồi chắc chắn ta có được một chút bình an khi ra về.

Có hai người lái buôn và cũng là hai người bạn thân quyết chí lên đường đi tìm cho kỳ được điều quí giá nhất trên trần gian này. Mỗi người ra đi một ngã và thề thốt sẽ gặp lại nhau sau khi đã tìm được điều quí giá nhất ấy.

Người thứ nhất lặn lội đi tìm cho kỳ được viên ngọc mà ông cho là quí giá nhất trên trần gian này. Ông trở lại quê hương và chờ đợi người bạn của ông.

Nhiều năm trôi qua mà người bạn của ông vẫn biệt vô âm tín. Thì ra điều ông kia đi tìm kiếm không phải là vàng bạc, châu báu, mà là chính Chúa. Ông đi khắp nơi để thọ giáo những bậc thánh hiền. Ông cặm cụi đọc sách, nghiền ngẫm, nhưng vẫn không tìm gặp được Chúa.

Ngày nọ, ông ngổi thần thờ bên một giòng sông. Nhìn giòng nước trôi lững lờ, ông bỗng thấy một con vịt mẹ và một đàn con đang bơi lội. Đàn vịt con tinh nghịch cứ muốn rời mẹ để đi kiếm ăn riêng. Còn vịt mẹ cứ phải lặn lội đi tìm hết con này đến con kia mà không hề tỏ dấu giận dữ hay gắt gỏng... Nhìn thấy cảnh vịt mẹ cứ mãi đi tìm con như thế, người đàn ông mỉm cười và đứng dậy trở về quê hương.

Vừa gặp nhau, người bạn đã tìm được viên ngọc quí mới buột miệng hỏi trước: “Cho tôi xem thử điều quí giá nhất mà anh đã tìm được. Tôi nghĩ đó phải là điều tuyệt diệu, bởi vì gương mặt anh dường như đang nở nụ cười mãn nguyện chưa từng thấy”.

“Tôi đã đi tìm Chúa và cuối cùng tôi đã khám phá ra rằng chính Chúa là Đấng đi tìm tôi

Với cặp mắt thường (dẫu đeo kính) chỉ thấy vịt mẹ tìm vịt con. Nhưng với con mắt thứ ba, sẽ thấy Chúa đi tìm con người. Tôi lên núi cao, tôi tới Nhà Thờ tìm Chúa, và chắc chắn sẽ nghiệm ra rằng Chúa đang tìm tôi, kiên trì không mệt mỏi tìm tôi. Và khi tìm ra tôi rồi Ngài không giữ lại trên núi, mà nói tôi hãy xuống núi đi.

Xuống khỏi núi

Chúa biến hình chốc lát trên núi cao, rồi cũng chẳng ở trên núi cao lâu, Ngài cùng ba đồ đệ hạ san. Xuống núi. Nhưng cái nhìn sẽ khác với ở dưới núi khi chưa lên núi.

Và khi đã hạ san xuống chân núi, về với đời thường, ta sẽ thấy Chúa, thấy hình ảnh của Chúa nơi con người.

Một người Nga, lao động cải tạo, gặp tai nạn bị gù lưng. Ông kể : Một ngày kia có một cậu bé nhìn tôi thật lâu rồi hỏi một cách ngây thơ: “Chú ơi, chú mang cái gì trên lưng thế?”. Tôi nghĩ rằng cậu bé có ý chế nhạo tôi, dù vậy tôi bình thản trả lời: “Cục bướu đấy cháu ạ”.

Tôi chờ đợi cậu bé sẽ tiếp tục trò chơi gian ác của nó... Nhưng không, nó nhìn tôi một cách trìu mến và nói: “Không phải thế đâu chú ạ. Chúa là tình yêu. Ngài không cho ai hình thù kỳ dị cả. Không phải chú có cục bướu đâu. Chú đang mang trên lưng một cái hộp đó. Trong cái hộp, có giấu đôi cánh của thiên thần... Rồi một ngày nào đó, cái hộp mở ra và chú sẽ bay lên trời với đôi cánh đó”. Ý nghĩ ngộ nghĩnh của cậu bé đã làm tôi sung sướng đến khóc thành tiếng.

Biết nhìn xa hơn đằng sau hình hài của mỗi người: đó là cái nhìn của thánh nhân. Thánh nhân là người biết nhìn thấy Thiên Chúa trong những nỗi bất hạnh, là người biết nhìn thấy sự may mắn ngay cả trong những mất mát thua thiệt, và nhất là biết nhìn thấy hình Thiên Chúa trong những người không ai muốn nhìn đến... Dĩ nhiên cần có con mắt thứ ba mới nhận ra như vậy.

Xin Chúa cho chúng ta con mắt thứ ba, để nhìn thấy Chúa đang tìm ta, và nhìn người ta như là hình hài của Chúa, đặc biệt nơi những người nghèo khổ mà chính Chúa Giêsu Kitô đã đồng hoá Ngài với họ. Amen

Anphong Nguyễn Công Minh

LỘT BỎ THÓI HƯ

Khi đến Thái Lan, du khách thường tìm đến chùa Vàng ở Wat Traimit tại Bangkok để chiêm ngắm bức tượng Phật ở tư thế ngồi cao đến 3 mét, nặng 5 tấn rưỡi !

Theo sử sách thì bức tượng nầy được đúc bằng vàng nguyên khối, vào khoảng từ thế kỷ 13 đến 15. Trong thời chiến tranh nổ ra giữa Thái Lan và Miến Điện, người Thái sợ bức tượng quý báu nầy lọt vào tay người Miến nên đã trát bê tông bao bọc tượng, che giấu khối vàng bên trong nhằm đánh lừa quân địch. Thế là những thế hệ người Thái sau nầy cứ tưởng đây chỉ là bức tượng bê tông tầm thường nên có thời bị đặt vào nơi bất xứng và bị lãng quên.

Vào năm 1955, bức tượng được di dời đến một ngôi đền mới. Trong khi vận chuyển, một số giây thừng ràng quanh tượng bị đứt làm cho tượng ngã lăn xuống đất, lớp bê tông bọc tượng bị nứt ra, cho thấy ánh vàng lấp lánh bên trong. Thế là nhờ sự cố không may nầy, người ta phát hiện ra đây là bức tượng vàng nguyên khối rất đẹp và quý báu đã bị che phủ bằng bê tông suốt hàng trăm năm qua.

Thế là từ đó, bức tượng trước đây bị xem thường, rẻ rúng vì bị bọc bởi một lớp bê tông xấu xí, giờ đây trở nên bức tượng vàng rất đáng quý trọng, được nhiều Phật tử chiêm ngưỡng, ái mộ, được du khách khắp nơi thăm viếng, được xem là quốc bảo của Thái Lan.

Trong 33 năm sống ở dương gian, Chúa Giê-su cũng sống trong hoàn cảnh tương tự. Mặc dù Ngài vốn là Thiên Chúa toàn năng uy quyền vinh hiển, nhưng đã hạ mình xuống thế, mặc lấy thân xác người phàm, trở nên người bình dị. Vì thế Ngài bị xem thường.

Thế rồi qua biến cố hiển dung trên núi, vinh quang rạng ngời được ẩn giấu nơi Chúa Giê-su được biểu lộ, nên ba môn đệ thân tín là Phê-rô, Gia-cô-bê và Gioan mới thấy được sự sáng láng vinh hiển của Ngài, mới biết được Ngài là Con chí ái của Thiên Chúa Cha.

Hôm nay, Ki-tô hữu chúng ta cũng gặp hoàn cảnh tương tự.

Nhờ lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chúng ta trở thành con Thiên Chúa, thành chi thể của Chúa Giê-su, là đền thờ của Chúa Thánh Thần… có giá trị cao quý hơn bất cứ báu vật nào trên thế gian.

Tuy nhiên, sự cao quý tốt đẹp nầy thường bị bao bọc bởi một “lớp bê tông”, tựa như bức tượng Phật vàng ở Thái Lan, làm cho chúng ta bị mất giá trị trước mặt người đời.

Nơi người nầy, lớp “bê tông” bao bọc có thể là tính kiêu căng, tự phụ, tham lam, ích kỷ… Nơi người khác là lòng ghen ghét, hận thù… Những “lớp bê tông” nầy làm cho người ta trở nên tầm thường, xấu xa, mất giá…

Tiếc thay, nhiều người không muốn phá bỏ “lớp bê tông” xấu xí nầy, cứ để cho nó đeo bám vào người cho đến chết.

Còn chúng ta, hôm nay mỗi người hãy tự hỏi mình: Đến bao giờ tôi mới quyết tâm đục bỏ lớp vỏ xấu xí nầy để nét đẹp của người Ki-tô hữu được tỏ ra?

Lạy Chúa Giê-su,

Xưa kia trên núi cao, Chúa để cho vinh quang của Chúa, vốn bị che phủ bởi thân xác phàm trần, được biểu lộ… để cho ba môn đệ thân tín được thấy chân dung đích thực của Chúa.

Xin Chúa cũng giúp chúng con lột bỏ những thói hư tật xấu đang bao bọc chúng con, để dung mạo người con Thiên Chúa nơi chúng con được tỏ ra trước mặt mọi người. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

TIN MỪNG MAT-THÊU 17, 1-9

Khi ấy, Chúa Giêsu đã gọi Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông này, và Người đưa các ông tới chỗ riêng biệt trên núi cao. Người biến hình trước mặt các ông: mặt Người chiếu sáng như mặt trời, áo Người trở nên trắng như tuyết. Và đây Môsê và Êlia hiện ra, và đàm đạo với Người. Bấy giờ ông Phêrô lên tiếng, thưa Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm. Nếu Thầy ưng, chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia". Lúc ông còn đang nói, thì có một đám mây sáng bao phủ các Ngài, và có tiếng từ trong đám mây phán rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người". Nghe thấy vậy, các môn đệ ngã sấp xuống, và hết sức sợ hãi. Bấy giờ Chúa Giêsu đến gần, động đến các ông và bảo: "Các con hãy đứng dậy, đừng sợ". Ngước mắt lên, các ông thấy chẳng còn ai, trừ ra một mình Chúa Giêsu. Và trong lúc từ trên núi đi xuống, Chúa Giêsu đã ra lệnh cho các ông rằng: "Các con không được nói với ai về việc đã thấy, cho tới khi Con Người từ cõi chết sống lại".

 

CHỦ QUAN ĐẠO ĐỨC

Thứ Sáu Tuần 1 Mùa Chay A

“Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời!”.

“Sự kiêu ngạo rất tinh tế, đến nỗi - nếu không cẩn thận - với những chủ quan đạo đức, chúng ta sẽ tự hào về sự khiêm tốn của mình. Khi điều này xảy ra, tốt trở nên xấu; nhân đức trở thành tệ nạn; công chính trở nên bất chính!” - Paul W. Powell.

Kính thưa Anh Chị em,

“Sự kiêu ngạo rất tinh tế”. Lời Chúa hôm nay vạch trần một căn bệnh: ‘chủ quan đạo đức’, thứ bệnh đã ăn sâu nơi các kinh sư và người Pharisêu - những kẻ cho mình là công chính.

Cần bao nhiêu công chính để vượt qua họ? Có lẽ… chẳng bao nhiêu! Bởi lẽ, công chính của họ là thánh thiện bên ngoài, nghĩa là chẳng có gì thánh. Bên trong những linh hồn ấy là gì? Là tự mãn, là sự lừa dối bản thân bằng những ‘chủ quan đạo đức’ khi họ cho mình thánh hơn người. Đọc Phúc Âm, chúng ta dễ nhăn mũi trước những biệt phái hợm hĩnh ấy; nhưng trong thực tế, bạn và tôi cũng rất dễ mù loà với chính mình! “Đừng ném đá hàng xóm nếu cửa sổ nhà mình làm bằng kính!” - Louise Slater.

Người thời Êzêkiel cũng vấp ngã vì một ảo tưởng ấy. Họ nghĩ mình ngay thẳng, còn Thiên Chúa thì không! Vì thế, Ngài phán, “Phải chăng đường lối của Ta không ngay thẳng hay đường lối của các ngươi mới không ngay thẳng?” - bài đọc một. Lằn ranh giữa chính trực và giả chính trực mỏng hơn chúng ta tưởng. Đôi khi, chỉ cần thêm một chút tự mãn, một lời biện hộ khéo léo, chúng ta đã bước qua lằn ranh ấy mà không hề hay biết. “Giữa điều được nói mà không có ý, và điều có ý mà không được nói, phần lớn tình yêu bị đánh mất!” - Kahlil Gibran.

Đó là lý do chúng ta phải xét mình với một ý thức sâu sắc về sự giới hạn và khốn cùng của bản thân mỗi ngày. Tôi đang theo đuổi thánh thiện thực, hay chỉ ruổi theo một thứ thánh thiện ảo để bảo vệ cái tôi? Tôi thích vờ làm thánh hay muốn nên thánh thật? Đừng quên, Chúa thấu suốt tâm can từng gang tấc. Vì thế, thái độ đúng đắn nhất của chúng ta vẫn là xin Ngài xót thương. Thánh Vịnh đáp ca thưa thay chúng ta, “Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng?”.

Anh Chị em,

“Nếu như Ngài chấp tội!”. Mùa Chay là mùa tháo cởi những lớp vỏ đạo đức và ném xa các ‘chủ quan hợm hĩnh’. Hãy chiêm ngắm Giêsu Toàn Thánh - Đấng hiền lành và khiêm nhượng - cũng là Đấng từng nói, “Nào ai bắt tôi được lỗi gì!”. Kiêu ngạo và thánh thiện như dầu với nước, không bao giờ hoà tan. Thiên Chúa không ở chung với cái tôi phình to. Hoặc tôi hạ mình xuống, hoặc Ngài rút lui khỏi đời tôi. Ở đâu cái tôi chiếm chỗ, ở đó - rất ít - nếu có chỗ cho Chúa! Ân sủng và tình bạn nghĩa thiết với Chúa không thể kết hợp trong một tâm hồn kiêu căng! Không thể có một thoả hiệp nào giữa Thiên Chúa và một linh hồn kiêu hãnh! Hoặc linh hồn sẽ tự buông bỏ, hoặc Chúa ‘sẽ không còn’ là Thiên Chúa!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con tự hào về một điều gì ngoài tội lỗi của con; cứu con khỏi những huyễn danh; giúp con liệng xa những chủ quan hợm hĩnh!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

 

Hoàn thiện như Cha trên trời

Thứ Bảy Tuần 1 Mùa Chay A

Chúa yêu thương ta biết bao. Vì yêu thương nên Chúa muốn ta là của riêng Chúa. Là dân riêng của Chúa. Là con riêng của Chúa. Cũng vì yêu thương mà Chúa đòi hỏi ta hơn người khác. Ta phải “trổi vượt mọi dân tộc, xẻt về vinh dự, danh tiếng và vinh quang…” Và vì thế ta phải trổi vượt cả về đức độ. Vì ta phải hoàn thiện như Chúa là Cha chúng ta ở trên trời là đấng hoàn thiện. Đó là phải yêu như Chúa.

Ai cũng cảm thấy hạnh phúc khi được yêu thương. Ai cũng cảm thấy đau buồn khi bị ghét bỏ. Nhưng lòng ghen ghét vẫn tồn tại. Và tình yêu vẫn thiếu thốn. Đó là vì chúng ta yêu thương theo cảm tính, theo liên hệ bình thường. Yêu những người dễ yêu. Yêu những ai yêu mình. Đó là cảm tính. Đó là vụ lợi. Đó chưa phải là tình yêu. Vì tình yêu như thế không tùy thuộc vào ta nhưng tùy thuộc vào đối tượng. Đối tượng đó quyết định tình yêu của ta. Như thế chưa phải là tình yêu. Như thế là tình yêu có điều kiện.

Chúa Giêsu dạy ta biết thế nào là tình yêu thực sự. Tình yêu thực sự không phải là cảm tính nhưng là lý trí. Tình yêu thực sự phát xuất từ trái tim mình chứ không bị điều kiện hóa bởi đối tượng. Tôi yêu vì tôi yêu chứ không phải vì đối tượng dễ yêu hay vì đáp lại tình yêu của người khác. Tình yêu như thế cứ bừng nở, dàn trải, tỏa lan, bất chấp đối tượng có đón nhận hay không, có dễ thương hay không, có đáp lại hay không.

Yêu thương đến bao phủ mọi người trong tình yêu. Yêu thương đến hoán cải mọi người nên tình yêu. Vì thế không phân biệt kẻ thân người sơ. Vì thế cầu nguyện cho những ai chưa yêu để họ được biết yêu.

Yêu thương như thế là nên giống Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu cho mặt trời mọc lên soi sáng tất cả mọi người, cho mưa xuống trên tất cả mọi người. Tình yêu như thế sẽ lan tỏa khắp nơi. Ai lấy tay che được mặt trời. Ai có thể ngăn chặn không cho mưa rơi. Hãy là mặt trời bừng sáng bất chấp quanh ta có bóng tối hận thù. Hãy là cơn mưa tràn trề để không một loài cỏ cây hoa lá nào, không một miền nào dù đất thịt hay cát sỏi, cũng đều được mưa nhuần thấm đượm.

Yêu thương như thế là tiến đến con đường hoàn thiện. Là mang trái tim Thiên Chúa bao phủ ấp ủ cả thế giới. Yêu thương như thế là biến đổi thế giới. Vì chẳng có cái ác nào có thể ngăn chặn được tình yêu ấy. Chẳng có chia rẽ hận thù nào có thể cản trở trái tim ấy mở ra.

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

CÁM DỖ - MẠNH MẼ - CHIẾN THẮNG

Cám dỗ không là tội. Trái lại, khi rơi vào cám dỗ mà hết sức chống trả bằng cầu nguyện, cậy dựa vào ơn Chúa và nghị lực bản thân, sẽ càng nên thánh, càng chứng minh lòng trung tín với Thiên Chúa, càng mạnh mẽ trong linh hồn.

Cám dỗ là chuyện xưa như trái đất. Từ khi có con người, đã có cám dỗ. Cơn cám dỗ đầu tiên đánh sập lòng trung thành dành cho Thiên Chúa của nguyên tổ.

Nguyên tổ thất bại, kéo theo thất bại hết lần này đến lần khác của con cháu. Vì thế, tội lỗi cứ triền miên, ngày càng tinh vi, ghê gớm. Sự tàn bạo, độc ác của kẻ dấn thân vào tội trong thế giới loài người, nhiều lần cho thấy, không phải cấp số nhân, nhưng hình như cấp lũy thừa.

Chúa Giêsu, một khi đã làm người, Người nếm trải đầy đủ mọi kinh nghiệm của thân phận làm người, kể cả cám dỗ, ngoại trừ tội lỗi.

Ba cơn cám dỗ của Chúa mà Tin Mừng hôm nay cho biết, là đại diện của mọi thứ cám dỗ của đời người.

  1. Cám dỗ về vật chất:

Ăn chay thì phải đói. Vì thế cần lương thực, cần bánh ăn. Thế là xuất hiện lời dụ dỗ ngọt ngào, hợp thời, hợp lý: “Hãy biến đá này thành bánh mà ăn đi”.

Cơn cám dỗ đầy thực tiễn: Cứ đói, cho bánh; Nghèo, phải làm mọi cách để thoát nghèo, bất chấp lương thiện hay không. Thiếu vắng hạnh phúc, phải mau chóng đòi bằng được hạnh phúc cá nhân mình…

Một cơn cám dỗ thực tiễn đến nỗi thực dụng như thế dễ đánh ngã chúng ta, vì nó đụng trực tiếp vào chính sự sống của mình.

  1. Cám dỗ tập trung vào quyền lực.

Ai cũng ham muốn quyền lực, muốn mình hơn người khác, cho nên cơn cám dỗ quyền lực là xoáy đúng chỗ yếu của con người: “Tôi sẽ cho ông quyền thống trị cả thế giới này, nếu ông quỳ xuống mà lạy tôi”.

Hấp dẫn quá. Chỉ một cái lạy, một thái độ khuất phục, chịu lụy, không mất một công sức nào, không mất một xu lẻ, trong nháy mắt, mọi quyền hành nằm trong tay mình.

Xưa tổ tông ham muốn quyền hành đến nỗi dù ảo tưởng vẫn ham muốn: đòi bằng Đấng Tạo Hóa. Tổ tông đã chìu theo sự dữ. Tổ tông đã phải cúi đầu nô lệ sự dữ.

Bạn và tôi không bao giờ được phép quên một sự thật: khi lụy phục ai, kẻ nắm quyền chính là người được lụy phục.

Còn kẻ có chút quyền, dẫu quyền ấy chỉ do nô lệ mà có, dễ lạm quyền, dễ hành xử theo quyền hành, dễ đi đến tàn bạo, hóng hách, phủi bỏ sự hiện diện của người bên cạnh. Bởi phải thao túng quyền mới có thể khẳng định cái uy, cái mạnh của bản thân.

Thao túng quyền hành còn là nhu cầu để che lấp tình trạng tưởng là quyền, nhưng thực chất là nô lệ của mình.

Bởi thế, một khi đã nghe theo sự dữ, đã để mình lệ thuộc sự  dữ, sự dữ sẽ thống trị lòng mình. Một khi sự dữ đã có cơ hội tác oai, sự tàn bạo của lòng người khó lường.

Bởi đó, quyền lực dễ làm người ta đánh mất tính người, bỏ rơi tình người. Càng có quyền bao nhiêu, sẽ càng sử dụng quyền để thống trị người khác bấy nhiêu.

  1. Cám dỗ về danh vọng.

Cũng giống như quyền lực, địa vị, ai cũng hám danh, thích trọng vọng. Đôi khi đó chỉ là danh ảo, vẫn ham hố. Vì dẫu có ảo, vẫn tìm được sự nổi nan, tiếng tăm, ảnh hưởng và thế giá nào đó. Dẫu có ảo, vẫn được biết đến, vẫn nhận được sự tôn vinh nào đó, cho dù chỉ là tôn vinh hình thức.

Nếu Chúa Giêsu chiều theo lời cám dỗ đầy ham hố danh vọng: “Ông hãy nhảy từ trên núi cao xuống, vì Thiên Chúa sẽ truyền cho các thiên thần gìn giữ ông”, thì sau đó Chúa nhận được gì?

Cứ thử tưởng tượng, nếu Chúa sa chước cám dỗ thật, nếu đúng là Chúa nhảy từ trên núi xuống, nhờ các thiên thần gìn giữ cho được bình yên vô sự, chắc chắn ngay lập tức, Chúa nổi như cồn. Và chắc chắn, Người không cần bôn ba rao giảng chi cho cực lòng. Thiên hạ sẽ ào ạt kéo theo vị thầy thuộc hàng siêu nhân.

Như thế, sự thành công cuối cùng chẳng thuộc về Chúa, lại thuộc về ma quỷ, vì thực chất, người ta theo Chúa, nhưng đàng sau đó thực quyền lại chính là ma quỷ.

Chỉ tưởng tượng thôi, ta đã phát rùng mình khiếp sợ. Vì hôm nay, trên danh nghĩa là bước theo Chúa Giêsu, nhưng đúng hơn, ta cùng với Chúa của mình nô lệ ma quỷ.

Nhưng đó chỉ là tưởng tượng.

Qua cơn cám dỗ của mình, Chúa Giêsu để lại cho ta tấm gương tuyên chiến với ma quỷ: quyết liệt, mạnh mẽ, bất khoan nhượng.

Chúa còn để lại bài học của người biết sống Lời Chúa, biết  đặt niềm tin vào Lời Chúa, lấy Lời Chúa làm nghị lực, làm sức mạnh vượt lên trên mọi cám dỗ, dẫu là cám dỗ căn bản của cuộc đời mỗi người.

Qua bài học chay tịnh và cám dỗ của Chúa Giêsu cho thấy mùa chay là mùa của sa mạc, của thử thách và cám dỗ.

Nhưng đừng quên, đó cũng là mùa của ân sủng, của dịp thuận tiện để người thiện chí bước vào trong cõi tâm của mình khám phá lại mình, làm mới mình, chỉnh sửa chỗ chưa đúng, phát huy cái hay, cái đúng.

Đó cũng là mùa nêu cao và sống tình thương, sự bác ái, lòng vị tha, gạt bỏ ganh ghét, hận thù, hiềm khích, đi tới gắn kết, đại lượng, hiệp nhất, thân tình.

Trên hết, đó là mùa nhắc nhở ta luôn kết hiệp mật thiết với Chúa trong siêng năng cầu nguyện, lãnh nhận bí tích, nhất là bí tích giao hòa, nhằm đạt tới lý tưởng của ơn phục sinh mà Chúa Giêsu đã đi trước và mời gọi.

Lm JB NGUYỄN MINH HÙNG

Subcategories