3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

Thiên Chúa ở với người bất hạnh

Tin mừng Chúa nhật hôm nay đề cập đến tên gọi mà Thiên Chúa Cha đã chọn cho Ngôi Hai Thiên Chúa khi Ngài đầu thai trong lòng Mẹ Maria. Tên gọi nầy đã được ngôn sứ I-sai-a tiên báo từ hơn bảy trăm năm trước: “Này đây, Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta"  (Mt 18,23).

Tên gọi nầy nói lên ước vọng của Thiên Chúa muốn ở mãi với loài người suốt mọi ngày cho đến tận cùng thời gian.

Liên quan đến ý tưởng nầy, Đức cha Gaillot có nhận định rất chí lý. Ngài viết:

“Sống rộng lượng là tốt, nhưng sống-với thì tốt hơn; công việc từ thiện là cần thiết, nhưng hiện-diện-bên-cạnh thì cần thiết hơn.”

Đúng thế, dù chúng ta có rộng lượng với người nghèo khổ bao nhiêu cũng không bằng đến sống-với họ, chia sẻ buồn vui cay đắng với họ. Dù chúng ta có làm bao nhiêu việc từ thiện để giúp cho người đau khổ cũng không bằng đến hiện-diện-bên-cạnh họ trong những lúc đau thương. 

Thiên Chúa mong muốn ở với loài người

Vì yêu thương loài người quá đỗi nên Thiên Chúa muốn sống-với con người, muốn hiện-diện-bên-cạnh con người mọi lúc mọi nơi. Danh hiệu Em-ma-mu-en gói trọn ước vọng này của Thiên Chúa.

Vì thế, Thiên Chúa Ngôi Hai đã hạ mình xuống thế mang kiếp người phàm, hiệp thông trọn vẹn với con người. Ngài vui với người vui, khóc với người khóc, sống khốn khổ với những người cùng khốn.

Vì khuôn khổ bài viết có hạn, chúng ta chỉ đề cập đến hai khía cạnh của sự hiệp thông này: Hiệp thông với người nghèo và hiệp thông với người tội lỗi. 

1. Chúa Giê-su sống nghèo với người nghèo

Khi thiên thần báo tin cho các người chăn chiên biết có Đấng Cứu Thế giáng sinh tại Bê-lem, thoạt đầu các mục đồng nghĩ rằng đấng ấy chắc phải là đấng siêu phàm, uy phong lẫm liệt… Thế nhưng, thật hết sức bất ngờ, Ngài ấy lại là một trẻ sơ sinh bé bỏng, yếu đuối, được bọc trong tã và đặt nằm trong máng ăn của súc vật, nơi chuồng bò hẻo lánh!

Người nghèo túng lắm cũng được sinh ra trên giường, trên chiếu, dưới một mái nhà; đằng nầy, Chúa Giê-su chấp nhận sinh ra trong chuồng súc vật giữa đồng vắng, được đặt nằm trong máng rơm!

Rồi khi lớn lên, Chúa Giê-su không liệt mình vào thành phần giàu có hay thượng lưu trong xã hội. Ngài không thuộc giai cấp tư tế của Đền thờ cho người ta bái phục, cũng chẳng là kinh sư, luật sĩ cho người ta trọng vọng nể vì, cũng không thuộc hàng biệt phái có nhiều thế giá trong dân… Ngài thuộc tầng lớp dân đen, làm nghề thợ mộc, đổ mồ hôi đổi lấy áo cơm.

Khi đi rao giảng Tin mừng, Ngài chấp nhận sống nghèo thiếu, chẳng có của riêng nên phải nhờ vả người khác. (Một số phụ nữ đã lấy của cải giúp Ngài cũng như nhóm Mười hai môn đệ). “Con chồn  có hang, chim trời có tổ, nhưng Ngài không có chỗ dựa đầu.” (Mt 8,20). 

2. Chúa Giê-su sát cánh với người tội lỗi 

Với tư cách Em-ma-nu-en, là Thiên Chúa ở với loài người, Chúa Giê-su đặc biệt yêu thương, chăm sóc và sát cánh với người tội lỗi.

Ngài không ngại đến trọ nhà người tội lỗi như Da-kêu, chọn Lê-vi thu thuế làm môn đồ, sẵn lòng ngồi đồng bàn ăn uống với người tội lỗi, để cho người phụ nữ mang nhiều tai tiếng bày tỏ lòng yêu thương quý mến mình trong bữa ăn tại nhà người biệt phái…

Ngài thân thiện và  hòa mình với thành phần tội lỗi đến nỗi người ta gọi Ngài là người “mê ăn uống, bạn bè với quân thu thuế và người tội lỗi” (Lc 7,34).

Cuối cùng, Ngài hiệp thông trọn vẹn với người tội lỗi khi chịu bắt đi giữa đêm đen như một tên đạo tặc, bị xét xử như một gã gian phi và chịu hành hình đau thương tủi nhục trên thập giá như một tên tử tội gian ác nhất đời. 

Lạy Chúa Giê-su,

Nguyện vọng tha thiết của Chúa là ở với loài người mọi ngày cho đến tận thế. Và điều đau lòng nhất của Ngài là bị nhân loại từ khước như thánh Gioan nhận định trong Tin mừng thứ tư: “Ngài ở giữa thế gian và thế gian đã nhờ Ngài mà có, nhưng lại không nhận biết Ngài. Ngài đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Gioan 1, 10-11).

Xin cho chúng con vui lòng mở cửa tâm hồn đón nhận mọi người đang sống chung quanh chúng con, đặc biệt là những anh chị em nghèo túng, quẫn bách, những người lầm lạc, đau khổ… vì họ cũng là hiện thân của Chúa. 

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà  

Tin mừng Mát-thêu (Mt 1, 18-25)

18 Chúa Ki-tô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần.   19Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. 20Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.  21Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ."  22Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ: 23Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta."   24Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. 25Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giê-su.

DÁM NGÃ

Thứ Bảy Tuần 3 Mùa Vọng A

“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa!”.

William Wilberforce viết, “Tôi đã sống quá nhiều cho chính trị; vì thế, linh hồn tôi chết đói, còm cõi và gầy gò!”. Sau một thất bại ê chề trên chính trường, ông tâm sự, “Tôi đã quá tằn tiện với Chúa”. Và ông kết luận, “Chúa cho phép tôi ngã!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Chúa cho phép tôi ngã!”. Thật không? Vâng, không để huỷ hoại, nhưng để con người dám ngã và thôi bám vào những ảo tưởng. Tin Mừng hôm nay cho thấy, Maria đã ‘dám ngã’ trong tiếng “Xin vâng”; và chính nơi đó, ơn cứu độ mở ra.

“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa!”. Tiếng “Xin vâng” ấy không được thốt lên trong hào quang quyền lực, đó là lời thưa từ đáy thân phận - một thiếu nữ nhỏ bé, không quyền lực, không bảo đảm, không lối thoát. Xưng “nữ tỳ” là chấp nhận bị sai khiến, hiểu lầm, nghi ngờ và loại trừ. Trước mắt người đời, đó là một cú trượt dài; nhưng trước Thiên Chúa, đó là một cú ngã được chấp nhận, nơi ơn cứu độ bắt đầu. “Bạn phải tiến bước bằng hai đầu gối!” - Hudson Taylor.

Thế mà, cuộc ‘dám ngã’ ấy không bộc phát. Từ ngàn xưa, qua Isaia, Thiên Chúa đã hứa một dấu chỉ, không đến từ sức mạnh, nhưng từ một trinh nữ mang thai, sinh hạ Đấng Emmanuel - Thiên Chúa ở cùng chúng ta - bài đọc một. Và ‘Đức Vua vinh hiển’ Thánh Vịnh đáp ca nói đến, đã không bước vào bằng cổng quyền lực, nhưng bằng cánh cửa khiêm hạ của một nữ tỳ với tấm lòng dám mở ra. Chúa không chọn những người hoàn hảo, Ngài chọn những con người ‘có thể gãy’; không xây dựng lịch sử bằng những kẻ không ngã, nhưng bằng những người dám để Ngài bước vào đúng chỗ mình ‘dễ sụp đổ’ nhất. Truyền Tin không xảy ra trong đền thờ, giữa cung điện, nhưng trong một không gian kín, nơi một nữ nhi đối diện với nỗi sợ sâu kín nhất của mình. “Thật dịu ngọt khi trở thành không là gì, ít hơn cả không, để Đức Kitô có thể là tất cả trong mọi sự!” - David Brainerd.

Maria không kiểm soát được điều gì sau tiếng “Xin vâng”, không biết chuyện gì sẽ xảy ra, phải giải thích làm sao, mình sẽ được bảo vệ hay bị ném đá? Nhưng chính trong sự mất kiểm soát ấy, Maria đã ‘dám ngã’ khỏi mọi bảo đảm quen thuộc, để Thiên Chúa tự do hành động. Cứu độ không bắt đầu khi con người nắm chắc mọi sự, nhưng khi họ buông tay. “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà”. Thiên Chúa không áp đảo, không chiếm đoạt, không bạo lực, Ngài bao phủ như bóng râm - không xoá đi mong manh, nhưng biến mong manh thành lối Ngài đi. Ơn cứu độ không đi vòng tránh sự mong manh của con người; nó đi xuyên qua đó!

Anh Chị em,

Chúng ta thường muốn theo Chúa mà không phải trả giá, muốn trung tín mà không phải rơi, muốn “Xin vâng” mà vẫn đứng vững. Nhưng Tin Mừng hôm nay nói rõ: không có “Xin vâng” nào mà không manh nha một rủi ro ngã xuống nào đó. Và có những cú ngã được Thiên Chúa cho phép, vì nếu không ‘dám ngã’, con người không bao giờ thuộc trọn về Ngài. “Khi chúng ta chẳng còn gì ngoài Thiên Chúa, ta mới nhận ra Ngài là đủ!” - Benson Idahosa.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con yếu, con sợ, con dễ vỡ. Nếu cần, xin cho con ‘dám ngã’ để thôi bám vào chính mình!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

VỮNG TÂM – CHÚA NHẬT 3 MÙA VỌNG

Thiên Chúa vô hình hiện diện mọi nơi và trong mọi lúc. Thiên Chúa luôn đồng hành với dân Ngài đã chọn, để chuẩn bị đón nhận ơn cứu độ. Mầu Nhiệm về Thiên Chúa Ngôi Hai được hé mở từng bước. Trải qua lịch sử cứu độ, dân chúng luôn khao khát mong chờ một chung cục là được tự do giải thoát. Qua từng giai đọan, Thiên Chúa đã sai các tiên tri đến kêu gọi lòng trung tín, sự phấn chấn và khuyến khích hướng dẫn dân chúng. Tiên tri Isaia đã khơi dậy niềm hy vọng: Nơi hoang địa cằn cỗi sẽ vui mừng, cõi tịch liêu sẽ hân hoan (Is 35, 1). Hình ảnh cảnh hoang địa trơ trọi, khô cằn và cạn nguồn mong đợi suối nguồn sự sống. Isaia khơi lên tia hy vọng của sự vui mừng và hân hoan. Dân Chúa phải trải nghiệm nhiều thăng trầm khổ ải qua các thế hệ để mong chờ Đấng Cứu Thế đến.

Trong bất cứ một dự kiến nào muốn đạt kết qủa tốt, chúng ta đều phải kiên nhẫn đợi chờ mọi sự diễn tiến. Vấn đề niềm tin sống đạo cũng thế, chúng ta không thể cắt bớt thời gian. Sự gì đến ắt sẽ đến. Thánh Giacôbê nhắc nhở các tín hữu: Anh em hãy kiên nhẫn chờ ngày Chúa đến. Kìa xem người nông phu trông đợi hoa màu quý báu của đồng ruộng, kiên nhẫn đợi chờ mưa xuân và mưa thu (Giac 5, 7). Hình ảnh của bác nông phu nơi ruộng rẫy cầy bừa trồng trọt là hình ảnh rất đẹp và chính xác. Chính xác cả về phẩm lẫn lượng, cả về thời gian và không gian. Kiên nhẫn đợi chờ là một đức tính tốt trong đời sống đạo. Mọi sinh họat của đời sống Giáo Hội trên trần thế cần phải được thử thách, tôi luyện để phát triển và trưởng thành. Thời gian là chìa khóa. Mầu nhiệm ơn cứu độ được lồng vào đời sống của con người theo sự phát triển tự nhiên của xã hội loài người.

Ông Gioan Tẩy Giả đang bị giam giữ cũng nóng lòng muốn biết Chúa Giêsu có chính thật là Đấng Cứu Thế hay không. Ông Gioan muốn các môn đệ của mình nhận biết Chúa Giêsu. Câu trả lời của Chúa không chỉ cho riêng ông Gioan, nhưng cho các môn đệ của ông. Các ông đã an tâm nhận diện ra sứ mệnh và vai trò của Chúa Giêsu trong công cuộc cứu độ qua các dấu chỉ. Chúa Giêsu đã hoàn tất mọi lời mà các tiên tri đã loan báo về Ngài.

Các dấu hiệu từ trời cao với quyền năng của Chúa đã đem lại hiệu qủa thực sự biến đổi môi trường và chữa lành toàn diện con người. Các phép lạ của Chúa Giêsu là dấu chỉ của tin mừng cứu độ. Tuy nhiên, qua mọi thời, đều có những người tự thần thánh hóa chính mình để chiêu hồn người khác. Họ cũng không khác gì các tiên tri giả và những nhà làm ảo thuật đại tài dùng kỷ xảo để dễ dàng qua mắt mọi người. Chúng ta phải luôn cảnh giác và tỉnh thức học hỏi kỹ lưỡng những hình thức mị dân này. Họ không phải là Chúa có uy quyền biến đổi chữa lành thân xác và linh hồn, mà chỉ có thể tạo gây cảm giác thân, sinh, lý và xúc động tâm linh nhất thời chóng qua.

Chúa Giêsu xác nhận Gioan Tẩy Giả là vị tiền hô dọn đường. Gioan được vinh dự giới thiệu Chúa Giêsu cho dân chúng: Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian. Biết bao người đã nghe Chúa giảng, gặp gỡ và nhận lãnh các dấu lạ, nhưng có mấy người nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Trong đám đông theo Chúa, có người chỉ tò mò nhìn xem cho biết, có người chỉ muốn được nhận lãnh ân huệ và có người ùa theo đám đông vì hiếu kỳ. Đâu có mấy người thực sự muốn đi theo Chúa để được đổi đời và canh tân cuộc sống. Xưa cũng nay, tâm trạng của chúng ta cũng chẳng khác gì dân Do-thái xưa. Chúng ta nghe, đọc, viết và suy gẫm thật nhiều lời của Chúa, các giáo huấn của Giáo Hội và chứng kiến biết bao sự lạ lùng trong cuộc sống nhưng mấy ai tin theo Chúa cho trọn.

Lạy Chúa, đời sống đạo của chúng con hầu như vẫn cứ dậm chân tại chỗ. Tinh thần thì nguội lạnh và mệt mỏi, còn thân xác nặng nề và yếu đuối kéo lôi chúng con lùi bước. Chúng con chỉ tìm kiếm sự hơn thua ở đời trọc này mà quên đi sứ mệnh cao cả là mong tìm ơn cứu độ.

 

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Vở kịch còn dang dở

Chủ đề: Thánh Gioan tiền hô là sứ giả, còn Chúa Giêsu là Ðấng Thiên Sai (Mêsia). Chúng ta phải hoàn tất công việc của hai Ðấng.

Nathaniel hawthorne là một văn sĩ người Mỹ, vào năm 1864 ông mất đi mà trên bàn viết vẫn còn bản phác thảo của một vở kịch mà không may ông chưa hoàn tất được. Vở kịch này tập trung vào một nhân vật chưa hề xuất hiện trên sân khấu. Mọi người đều nói, đều mơ, đều chờ đợi nhân vật này đến nhưng vị ấy chẳng hề đến. Tất cả các nhân vật phụ đều đồng loạt mô tả nhân vật chính ấy. Họ kể cho mọi người nhân vật chính ấy sẽ như thế nào, sẽ làm những gì. Tuy nhiên nhân vật chính ấy đã chẳng xuất hiện.

Toàn bộ Cựu ước cũng giống như vở kịch của Nathaniel Hawthorne bỏi vì Cựu ước chấm dứt mà không có đoạn kết.

Trên dòng sông Giôđan có một khúc cạn nước, cách Biển Chết không xa. Như người ta còn ghi nhớ, đây là chỗ băng qua sống thuận tiện cho các đoàn tuần hành có xe ngựa kéo, các thương buôn và các du khách từ khắp nơi trên thế giới. Ðây cũng là chỗ đại chúng thường gặp gỡ nhau để trao đổi đủ thứ tin tức từ khắp mọi nơi. Chính tại chỗ này, Gioan Tẩy Giả đã rao giảng và rửa tội cho dân chúng. Ông cũng bận áo da thú giống như các tiên tri thuở xưa. Và đám dân bắt đầu thắc mắc: “Ông này là ai vậy? Ông ta có phải là Ðấng Mesia được Chúa hứa không? Hay ông là vị sứ giả dọn đừơng cho Ðấng Mesia?”

Trong bài phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu sẽ trả lời cho những câu hỏi này.

Ngài nói với dân chúng: “Gioan là kẻ mà Thánh Kinh đã nói: “Ta sẽ sai sứ giả Ta đi trước con để mở đường cho con”. Chúa Giêsu cũng trả lời câu hỏi khác mà đám môn đệ của Gioan Tẩy Giả đặt ra cho Ngài: “Có phải Ngài là Ðấng mà Gioan bảo sẽ phải đến, hay chúng tôi còn phải mong chờ Ðấng khác?” Ðể trả lời câu hỏi này, Chúa Giêsu liền trưng ra những lời của tiên tri Isaia trong bài đọc thứ nhất hôm nay. Khi nói về Ðấng Mesia, Isaia bảo rằng những dấu hiệu sau đây sẽ là bằng cứ xác nhận lai lịch vị ấy: “Người mù sẽ thấy được và người điếc sẽ nghe được. Kẻ què sẽ nhảy múa và người câm sẽ reo vui”.

Chủ ý của Giêsu thực là rõ ràng. Ngài trình bày ra những phép lạ Ngài đã làm – cho người mù thấy, kẻ điếc nghe, người què bước, kẻ câm nói được. Ðây là những dấu hịêu mà các lời tiên tri báo trước rằng sẽ phải ứng nghiệm khi Ðấng Mesia đến.

Như vậy, bài Phúc Âm hôm nay muốn nói gì cho anh chị em cũng như cho tôi? Xin thưa đó là sứ điệp sau: Chúa Giêsu là Ðấng Mesia đã được các vị ngôn sứ tiên báo và Ngài đã thiết lập vương quốc Thiên Chúa trên trần gian đúng như các tiên tri báo trước. Tuy nhiên Chúa Giêsu uỷ thác cho chúng ta nhiệm vụ hoàn tất vương quốc ấy. Ngài giao phó cho chúng ta việc xây dựng nước Chúa trên trần gian này. Vào lúc thế mạt, Chúa Giêsu sẽ trở lại để phán xét chúng ta về công việc này.

Người Roma xưa có thời một vị thần tên là Janus. Từ đó chúng ta có danh từ January (tháng giêng). Vị thần này được các hoạ sĩ mô tả bằng hình đầu người có hai mặt: một mặt nhìn về đằng sau, mặt kia nhìn về đằng trước. Mùa vọng cũng tương tự như thế. Nó nhìn về hai phía: một đàng nhìn lại lần giáng sinh đầu tiên của Chúa Giêsu trong lịch sử, đằng khác là hướng đến cuộc tái giáng của Ngài vào cuối lịch sử.

Anh chị em cũng như tôi đang đứng ở giữa hai biến cố lịch sử trọng đại này. Phận vụ chúng ta không phải là cứ lè phè ngồi chơi trên đỉnh đồi ngoái cổ về đằng sau và ngóng trông về đằng trước, mà phải xăn tay áo lên dấn thân vào công việc Chúa Giêsu đã trao phó cho chúng ta khi Ngài đến lần đầu tiên trong lịch sử.

Nói một cách cụ thể, điều này có ý nghĩa gì? Nghĩa là chúng ta phải xây dựng nước Chúa trên trần gian, phải đem yêu thương lắp đầy ganh ghét, đem thứ tha che phủ hận thù, đem chân lý thay cho giả trá, đem sự cảm thông Kitô giáo thay cho sự vô cảm lạnh lùng. Tóm lại, chúng ta phải xây dựng một kiểu thế giới mà chính Chúa Giêsu sẽ dụng xây nếu Ngài ở vào vị trí chúng ta.

Ðó chính là sứ điệp trong các bài đọc hôm nay. Sứ điệp ấy minh chứng Chúa Giêsu là Ðấng Mesia, Ngài sẽ trở lại vào chung cục lịch sử và sẽ phán xét chúng ta về việc chúng ta đã xây dựng nước Chúa trên trần gian này như thế nào.

Vậy chúng ta hãy kết thúc với lời tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu, là Ðấng Mêsia cũng là Ðấng Cứu Ðộ chúng ta:

Lạy Chúa Giêsu,
Chúng con tin Chúa đã đến trần gian đầy ganh ghét này để giúp chúng con xây dựng nó thành thế giới của tình yêu.

Lạy Chúa Giêsu,
Chúng con tin rằng Chúa đã đến với chúng con để giúp chúng con cũng biết đến kẻ khác.

Lạy Chúa Giêsu,
Chúng con tin rằng Chúa hiểu chúng con, ngay cả khi chúng con không hiểu được chính mình.

Lạy Chúa Giêsu,
Chúng con tin rằng Chúa luôn luôn ở với chúng con cho dù chúng con không luôn luôn sống với Chúa.

Lạy Chúa Giêsu,
Chúng con tin rằng Thiên Chúa là Cha chúng con, bởi vì chính Chúa đã đối xử với chúng con như anh chị em của Chúa.

Lm. Mark Link, S.J.

NIỀM VUI KHI CHỜ ĐỢI CHÚA ĐẾN

Hôm nay, chúng ta được mời gọi hân hoan mừng Chúa Giêsu đến trong cuộc đời mình. Thánh Lễ bắt đầu bằng câu Gaudete in Domino semper. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói: “Chúa Nhật III Mùa Vọng, theo truyền thống được gọi là Chúa Nhật Gaudete. Đây thực sự là từ đầu tiên của Thánh Lễ hôm nay nghĩa là hãy vui mừng, hãy hân hoan vì Chúa đã đến gần!” (Bài giảng lễ, 13 tháng 12 năm 1998). 

  1. Người dọn đường cho đấng Mêsia

Bài Tin Mừng có một cảnh tượng đầy cảm xúc: Thánh Gioan Tẩy Giả, vị ngôn sứ vĩ đại, đang bị giam cầm. Ngài nghe nói về những công việc Chúa Giêsu làm và ngài sai môn đệ của mình đến hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?” (Mt 11: 2).

Không phải thánh Gioan nghi ngờ Chúa Giêsu, nhưng ngài muốn chỉ lối cho các môn đệ của mình đến với Đấng Mêsia thực sự. Thánh Augustinô đã giải thích rõ ràng về câu hỏi này của Thánh Gioan: “Gioan có những môn đệ riêng của mình; ông mong muốn các môn đệ của ông được chính Chúa Giêsu trả lời…Vậy hãy đi hỏi Ngài; không phải vì tôi nghi ngờ, mà để anh em được chỉ dạy. Hãy đi hỏi Ngài, hãy lắng nghe chính Ngài những nói điều tôi thường nói với anh em; anh em đã nghe ngôn sứ nói, thì bây giờ hãy để Đấng Phán Xét xác nhận. Hãy đi hỏi Ngài, Ngài có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi ai khác? Họ đã đến và hỏi, không phải vì Gioan nghi ngờ, mà vì chính họ.” [1] Như thế, thánh Augustinô nhấn mạnh rằng Gioan không nghi ngờ, nhưng ngài muốn các môn đệ của mình trực tiếp xác minh các dấu lạ của Chúa Giêsu, những dấu chỉ về Nước Trời, để họ tin và theo Ngài. Điều này thể hiện sự khiêm tốn tuyệt vời của thánh Gioan Tẩy giả, người được Chúa khen là “trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả” (Mt 11: 11), dù thánh nhân vẫn chỉ nhận mình là “tiếng người hô trong hoang địa” (Mt 3: 3).

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã suy nghĩ về đoạn này: “Chúa Giêsu, Đấng phải đến, tự mặc khải chính mình là Đấng Mêsia được mong đợi qua công trình cứu độ của Ngài: người mù được thấy, người què được đi… người nghèo được nghe Tin Mừng. Ngài đến để an ủi, để mang lại sự thanh thản và hy vọng cho những người đau khổ, cho những ai mệt mỏi và chán nản trong cuộc sống.” [2] Ngài nhấn mạnh rằng câu trả lời của Chúa Giêsu không chỉ xác nhận sứ mệnh của Ngài mà còn mời gọi người ta nhận ra các dấu chỉ Chúa đang thực hiện trong cuộc sống hàng ngày: “Ngay cả trong thời đại chúng ta, vẫn còn rất nhiều người bị bao trùm trong bóng tối của sự ngu dốt và chưa nhận được ánh sáng đức tin; nhiều người què quặt và gặp khó khăn khi bước đi trên con đường đúng đắn; nhiều người thất vọng hoặc chán nản; nhiều người bị ảnh hưởng bởi bệnh phong hủi của tội lỗi và sự dữ và đang chờ đợi được cứu rỗi” (đã dẫn trên). Trong thế giới hiện đại, nơi nhiều người chúng ta đang “bị giam giữ trong nhà tù” cô đơn, lo âu hay tội lỗi, chúng ta cần đến với Chúa, cần cầu nguyện để nhận được dấu chỉ xác nhận về sự hiện diện của Ngài.

Suy nghĩ này nhắc nhở chúng ta phải lên đường, như Thánh Gioan, chỉ cho con người thấy Chúa có mặt trong xã hội ngày nay, như Hội đồng Giám mục Việt Nam kêu mời “Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai” trong Thư chung gửi toàn thể Dân Chúa, ngày 10/10/2025 vừa qua. Trong bối cảnh chiến tranh, bất ổn kinh tế, thiên tai, nhiều người đang thắc mắc: Chúa có thực sự đến không? Câu trả lời nằm ở các việc lành chúng ta làm: giúp đỡ người nghèo, an ủi cơn đau khổ, loan báo Tin Mừng, trở nên anh chị em của mọi người. Thánh Charles de Foucauld (1858–1916) nói: “Tôi muốn tất cả những người Kitô hữu, Hồi giáo, Do Thái giáo và những người thờ ngẫu tượng coi tôi là anh em của họ, người anh em của mọi người.” [3]

  1. Sự kiên nhẫn chờ Chúa quang lâm

Thánh Giacôbê khuyến khích các tín hữu đầu tiên, đang chịu bách hại, phải chiến đấu giống như nông dân chờ mưa: “Kìa xem nhà nông, họ kiên nhẫn chờ đợi cho đất trổ sinh hoa màu quý giá: họ phải đợi cả mưa đầu mùa lẫn mưa cuối mùa” (Gc 5: 7). Trong xã hội tiêu dùng hôm nay vốn yêu cầu mọi thứ phải nhanh chóng, thì kiên nhẫn là điều bị coi là không hiệu quả, nhưng thánh Giacôbê nhắc nhở rằng: “Xin anh em cứ kiên nhẫn cho tới ngày Chúa quang lâm” (Gc 5: 7).

Thánh Padrê Piô dạy: “Đừng lo lắng đến mức đánh mất sự bình yên nội tâm. Hãy cầu nguyện với sự kiên trì, với đức tin, với sự bình tĩnh và thanh thả.n” [4] Lời này phản ánh ánh tinh thần của Thánh Giacôbê: “Anh em cũng vậy, hãy kiên nhẫn và bền tâm vững chí, vì ngày Chúa quang lâm đã gần tới” (Gc 5: 8). Đức Thánh Cha Phanxicô nói về sự kiên trì như các ngôn sứ trong các thử thách: “Trong một thế giới lúc nào cũng hối hả, chúng ta đã quen với việc muốn có mọi thứ ngay lập tức. Tính nóng vội làm mất kiên nhẫn, gây nguy hại nghiêm trọng cho con người. Thật vậy, điều đó gây ra bất khoan dung, căng thẳng, đôi khi cả bạo lực vô cớ, dẫn đến bất mãn và khép kín…Việc tái khám phá sự kiên nhẫn mang lại nhiều lợi ích cho chính mình và cho người khác…Sự kiên nhẫn, cũng là hoa trái của Thánh Thần, nuôi dưỡng và củng cố niềm hy vọng như một nhân đức và một lối sống. Vì thế, chúng ta hãy học cách thường xuyên xin ơn kiên nhẫn, vốn vừa là con đẻ của hy vọng lại vừa nuôi dưỡng niềm hy vọng” (Spes Non Confundit – Hy vọng không làm thất vọng, số 4).

Thánh Giacôbê cảnh báo: “Thưa anh em, anh em đừng phàn nàn kêu trách lẫn nhau, để khỏi bị xét xử. Kìa Vị Thẩm Phán đang đứng ngoài cửa” (Gc 5: 9) và nhắc nhở chúng ta rằng, sự kiên nhẫn phải đi đôi với tình yêu thương huynh đệ và “hãy noi gương các ngôn sứ là những vị đã nói nhân danh Chúa” (Gc 5: 10) trong tinh thần nhẫn nại và bền chí.

  1. Sa mạc nở hoa – niềm vui cứu độ

Thiên Chúa luôn có những ý định tốt lành dù Ngài có khi cho phép những người yêu mến Ngài gặp phải một số điều không mấy dễ chịu, như chúng ta từng cảm thấy trong đời mình và khắp thế giới ngày nay. Điều quan trọng cần ghi nhớ là bên kia bất cứ thử thách nào luôn có niềm hy vọng, như ngôn sứ Isaia tiên báo: “Thiên hạ sẽ nhìn thấy ánh huy hoàng của Chúa, và vẻ rực rỡ của Thiên Chúa chúng ta” (Is 35: 2).

Ngôn sứ Isaia vẽ nên bức tranh sa mạc nở hoa biểu tượng cho sự biến đổi từ tuyệt vọng sang hy vọng khi Chúa đến. Niềm hy vọng về sự quang lâm và sự cứu chuộc cuối cùng được mô tả bằng hình ảnh rực rỡ: “Vui lên nào, hỡi sa mạc và đồng khô cỏ cháy, vùng đất hoang, hãy mừng rỡ trổ bông, hãy tưng bừng nở hoa như khóm huệ, và hân hoan múa nhảy reo hò” (Is 35: 1-2). Isaia không chỉ tiên báo sự chữa lành: “Những bàn tay rã rời nên mạnh mẽ, những đầu gối bủn rủn được vững vàng…mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được…kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo hò” (Is 35: 3, 5-6) mà còn về một hành trình trở về: “Những người được Chúa giải thoát sẽ trở về, tiến đến Xion giữa tiếng hò reo, mặt rạng rỡ niềm vui vĩnh cửu” (Is 35: 10).

Cứ như Thiên Chúa đang trải thảm đỏ cho tất cả chúng ta, chỉ cho chúng ta con đường trở về với Ngài. Lời tiên tri đẹp đẽ như “sa mạc và đồng khô cỏ cháy, vùng đất hoang tưng bừng nở hoa như khóm huệ.” Đó là một thông điệp vượt thời gian về vương quốc của Chúa, nơi Ngài sẽ thiết lập công lý và tiêu diệt mọi điều ác. Trời đất cảnh vật cũng đang hân hoan: “Sa mạc được tặng ban ánh huy hoàng của núi Libăng, vẻ rực rỡ của núi Cácmen và đồng bằng Saron. Thiên hạ sẽ nhìn thấy ánh huy hoàng của Chúa, và vẻ rực rỡ của Thiên Chúa chúng ta” (Isaia 35: 2). Hoa có thể nở rộ giữa sa mạc hoang chỉ với một cơn mưa nhỏ. Hoa có thể nở rộ vào mùa xuân sau một mùa đông băng giá cây cối trơ trụi như đã chết. Sự tái sinh và đổi mới là một quang cảnh đáng chiêm ngưỡng.

Điều quan trọng là chúng ta đừng bao giờ quên lời hứa về vẻ đẹp này. Dù khi chúng ta cảm thấy thế giới đang sụp đổ chung quanh, thì vẫn còn đó những vẻ đẹp để chiêm ngưỡng. Satan làm mọi cách để thao túng tâm trí và khiến chúng ta tin rằng thế giới chỉ là lao nhọc, đau khổ, chết chóc và sau đó là hư không và tuyệt vọng. Nếu chúng ta biết tin tưởng vào lời tiên báo của ngôn sứ, vào Lời của Chúa Giêsu, thì không có gì đáng sợ: “Những người được Chúa giải thoát sẽ được hớn hở tươi cười, đau khổ và khóc than sẽ biến mất” (Isaia 35: 10).

Ngày nay, ơn gọi Kitô hữu là thực hiện cuộc hành trình gặp gỡ Chúa Giêsu. Cuộc hành trình tiến vể Xion của các Kitô hữu là một hành trình trở nên hoàn thiện về đạo đức và nội tâm, thiêng liêng, vốn không thể thực hiện được nếu không tích cực bước theo Chúa Kitô và ở lại trong Ngài. Chúng ta được kêu gọi dọn đường cho Chúa Giêsu ngự vào lòng mình, và cũng chuẩn bị lòng người khác để họ cũng được “cảm nghiệm niềm vui cứu độ”, sự chữa lành, sự thánh thiện, mà tất cả chúng ta đều khao khát, và chỉ có điều đó mới mang lại ý nghĩa đích thực cho cuộc sống chúng ta.

Chúa Kitô đã đến cách nay hơn 2000 năm, nhưng mỗi người chúng ta vẫn đang mong đợi gặp được Ngài. Dĩ nhiên, Chúa Giêsu đã hiện diện và hoạt động qua Thân Thể Ngài, là Giáo Hội, là cộng đoàn Kitô hữu. Nhưng Ngài vẫn phải đến với cuộc sống của chúng ta mỗi ngày cách trọn vẹn hơn. Chúng ta cần “cảm nghiệm niềm vui cứu độ”, sức mạnh chữa lành và sự viên mãn mà Chúa Giêsu mang đến cho cuộc sống chúng ta. Đây là điều mỗi người phải làm, với tư cách cá nhân cũng như cộng đoàn. Có thể vẫn còn nhiều người trong chúng ta chưa cảm nghiệm được niềm vui sâu xa và trọn vẹn trong Chúa Kitô.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV nói với các tín hữu Công giáo rằng: “Có lẽ không thiếu những Kitô hữu nửa mùa thỉnh thoảng làm theo cảm xúc tôn giáo hoặc tham dự những sự kiện tôn giáo. Nhưng rất ít người sẵn sàng làm việc cho mùa gặt của Chúa, vun trồng hạt giống Tin Mừng trong chính tâm hồn mình để rồi chia sẻ điều đó trong gia đình họ, tại nơi họ làm việc hay học tập, trong môi trường xã hội và với những người cần được giúp đỡ. Đó là một thực tế và thực tế này chất vấn mỗi người chúng ta: tôi có phải là tín hữu chỉ giữ đạo như nhãn hiệu bên ngoài, chỉ là tín hữu nửa mùa không?. Ước gì mỗi chúng ta trở thành môn đệ “hăng say làm việc trên cánh đồng truyền giáo, can đảm làm chứng cho Nước Chúa ở mọi nơi”, để qua những việc tốt lành chúng ta làm, người ta tôn vinh Thiên Chúa là Cha chúng ta, Đấng ngự trên trời” (Lời kết Thư chung 2025 của HĐGMVN).

Chúa đang đến gần, và niềm vui Ngài mang đến cho chúng ta là vĩnh cửu. Hãy vui mừng lên đường tìm gặp Chúa vì cuộc đời gian khổ, giống như sa mạc khô khốc, sẽ nở hoa khi Ngài đến.

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://www.newadvent.org/fathers/160316.htm, số 4.

[2] https://www.vatican.va/content/john-paul-ii/en/homilies/1998/documents/hf_jp-ii_hom_13121998.html

[3] https://www.vatican.va/content/francesco/en/speeches/2022/may/documents/20220518-fam-de-foucauld.html

[4] https://www.stpaulstmichael.com/copy-of-faith-formation-schedule

 

Subcategories