3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

ÁNH SÁNG CỦA CHÚA KITÔ SOI CHIẾU CUỘC ĐỜI CHÚNG TA

Khi Chúa Giêsu đi ngang qua Đền Thờ, Ngài thấy một người mù từ thuở mới sinh. Các môn đệ hỏi: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù?” (Ga 9: 2). Câu hỏi ấy phản ánh quan niệm phổ biến thời bấy giờ rằng đau khổ và bệnh tật là hậu quả trực tiếp của tội lỗi: “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu” (Ga 9: 34).

  1. Chúa Kitô là Ánh sáng của thế gian

Nhưng Chúa Giêsu phá vỡ hoàn toàn cách suy nghĩ ấy. Ngài trả lời: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh” (Ga 9: 3).

Lời này khẳng định Thiên Chúa không gây ra đau khổ để chứng tỏ quyền lực của mình. Giáo lý Kitô giáo luôn khẳng định rằng Thiên Chúa không phải là tác giả của sự dữ. Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo dạy: “Thiên Chúa không bao giờ, bằng bất cứ cách nào, một cách trực tiếp hay gián tiếp, là nguyên nhân của sự dữ luân lý. Tuy nhiên Ngài cho phép điều đó, vì tôn trọng sự tự do của thụ tạo của Ngài, và một cách bí nhiệm, Ngài biết từ sự dữ dẫn đưa tới điều thiện” (GLHTCG, số 311).

Điều Chúa Giêsu muốn nói là: ngay cả trong những hoàn cảnh tối tăm nhất, Thiên Chúa vẫn chiếu tỏa ánh sáng của Ngài. Đau khổ không phải là điểm kết thúc; đau khổ có thể trở thành nơi Thiên Chúa bày tỏ tình yêu và quyền năng cứu độ.

Sau khi trả lời các môn đệ, Chúa Giêsu tuyên bố một câu rất quan trọng: “Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian” (Ga 9:5). Trong sách Tin Mừng theo thánh Gioan, ánh sáng là biểu tượng của sự sống, chân lý và sự hiện diện của Thiên Chúa. Ngay từ đầu Tin Mừng, thánh Gioan đã viết: “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1: 5).

Người mù từ thuở mới sinh là hình ảnh của nhân loại sống trong bóng tối của tội lỗi và sự vô minh tâm linh. Con người có thể có đôi mắt sáng rõ thể lý nhưng vẫn mù lòa trước chân lý. Điều đặc biệt là cách Chúa Giêsu chữa lành: “Ngài nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù” (Ga 9: 6). Hành động này gợi lại công trình sáng tạo trong sách Sáng Thế: “Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người” (St 2: 7). Chúa Giêsu, Ngôi Lời nhập thể, đang thực hiện một “cuộc sáng tạo mới”. Ngài không chỉ mở mắt một con người, nhưng tái tạo tất cả nhân loại.

Đức Phanxicô giải thích rằng phép lạ này không chỉ là việc chữa lành thể xác mà còn là dấu chỉ thiêng liêng soi rọi tất cả mọi người: “Chúa Giêsu ban ơn thương xót của Ngài cho tất cả những ai Ngài gặp: Ngài kêu gọi họ, kéo họ đến với chính mình, quy tụ họ, chữa lành họ và soi sáng họ, tạo nên một dân tộc mới, là tất cả những những người ca ngợi những điều kỳ diệu của tình yêu thương xót của Ngài.” [1]

  1. Con đường đức tin: từ không biết đến tuyên xưng

Tin Mừng Gioan cho thấy một tiến trình rất đẹp nơi người mù được chữa lành. Đức tin của anh phát triển từng bước.

  • Bước 1: Chúa Giêsu chỉ là một “người tên là Giêsu.” Khi bị hỏi ai đã chữa lành mình, anh trả lời: “Người tên là Giêsu đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi…” (Ga 9: 11). Ở giai đoạn này, anh chỉ biết Chúa Giêsu như một người bình thường.
  • Bước 2: Chúa Giêsu là “một vị ngôn sứ”. Sau khi bị các người Pharisêu chất vấn, anh nói: “Ngài là một vị ngôn sứ!” (Ga 9: 17). Anh bắt đầu nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu.
  • Bước 3: Chúa Giêsu “bởi Thiên Chúa mà đến.” Anh lập luận mạnh mẽ trước các Pharisêu: “Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì” (Ga 9: 33).
  • Bước 4: Chúa Giêsu là “Con Người”, Đấng đáng được tôn thờ. Cuối cùng, khi gặp lại Chúa Giêsu, anh tuyên xưng: “Thưa Ngài, tôi tin. Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Ngài” (Ga 9: 38). Đây là đỉnh cao của câu chuyện: một người mù không chỉ được sáng mắt thể lý mà còn nhận ra Đấng Cứu Thế.

Trái lại, những người Pharisêu, những “kẻ xem thấy lại nên đui mù!” (Ga 9: 39). Đây là nghịch lý lớn nhất: người mù thì thấy, còn những người tưởng mình thấy lại trở nên mù. Các Pharisêu có kiến thức Kinh Thánh, có uy tín tôn giáo, nhưng họ không nhận ra Thiên Chúa đang hành động trước mắt mình. Họ chỉ quan tâm đến luật ngày sabát: “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sabát” (Ga 9: 16). Họ đặt luật lệ lên trên con người.

Thánh Gioan Phaolô II từng nói: “Cùng với việc chữa lành người mù, Tin Mừng cũng nêu bật sự hoài nghi của những người Pharisêu, từ chối thừa nhận phép lạ, vì Chúa Giêsu đã làm điều đó vào ngày Sabát, theo phán xét của họ là vi phạm luật Môsê. Như vậy, một nghịch lý hùng hồn xuất hiện, mà chính Chúa Kitô đã tóm tắt bằng những lời: Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù(Ga 9: 39)” (Kinh Truyền tin, ngày 10 tháng 3 năm 2002, số 2). Bi kịch của sự mù lòa thiêng liêng không phải là thiếu kiến thức, nhưng là đóng chặt tâm hồn.

  1. Thiên Chúa nhìn vào trái tim

Con người thường nhìn nhận và đánh giá theo bề ngoài: địa vị, tài năng, vẻ đẹp, sức mạnh. Nhưng Thiên Chúa nhìn vào trái tim, như câu chuyện Thiên Chúa chọn Đavít làm vua. Khi Samuel nhìn thấy Êliáp, ông nghĩ ngay: “Đúng rồi! Người Chúa xức dầu tấn phong đang ở trước mặt Chúa” (1 Sm 16: 6). Nhưng Thiên Chúa nói: “Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Thiên Chúa thì thấy tận đáy lòng” (1 Sm 16: 7). Thiên Chúa nhìn thấy cậu bé Đavít, “người con út đang chăn chiên” (1 Sm 16: 11), và chọn cậu làm vua. Điều này giúp ta hiểu sâu hơn câu chuyện người mù trong Tin Mừng. Những người Pharisêu nhìn bằng đôi mắt phàm nhân; họ thấy người mù là một người vi phạm luật sabát. Nhưng Thiên Chúa nhìn thấy một con người đang được biến đổi bởi ân sủng.

Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Êphêsô viết: “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng” (Ep 5: 8). Thánh nhân nói thêm: “Ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật” (Ep 5: 9). Kitô hữu không chỉ đi trong ánh sáng mà còn được mời gọi trở thành ánh sáng.

Ánh sáng của Chúa Kitô biến đổi cách chúng ta sống: sống lương thiện, sống công chính, sống chân thật. Đó là dấu chỉ của đời sống mới. Ánh sáng của Chúa Kitô tỏa ra qua những việc nhỏ bé của tình yêu, vì phép lạ lớn nhất Chúa làm cho ta chính là mở mắt tâm hồn để ta biến đổi chính mình, và xã hội chung quanh, như thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói: “Đừng ai khép kín tâm hồn mình với Chúa Kitô! Ngài ban cho người đón nhận Ngài ánh sáng đức tin, ánh sáng có thể biến đổi tấm lòng, và do đó, biến đổi cả tư duy, tình hình xã hội, chính trị và kinh tế, vốn bị chi phối bởi tội lỗi” (đdt, số 3).

Điều đáng chú ý là sau khi được chữa lành, người mù phải đối diện với nhiều khó khăn. Anh bị chất vấn, bị nghi ngờ, “Rồi họ trục xuất anh” (Ga 9: 34). Nhưng chính lúc đó Chúa Giêsu đến gặp anh. Đây là một chi tiết rất đẹp của Tin Mừng: khi thế giới loại trừ anh, Chúa Kitô tìm đến anh (Ga 9: 35). Nhiều khi theo Chúa có thể dẫn đến hiểu lầm, cô lập, hay mất mát. Nhưng chính trong những lúc đó, chúng ta lại gặp Chúa sâu xa hơn, như Thánh Bênađô (1090-1153) khẳng định: “Ngọn lửa bùng cháy dữ dội, nhưng Chúa ở cùng chúng ta trong cơn hoạn nạn… Chính Chúa Kitô đã xuống thế gian để ở gần những người đang buồn rầu trong tâm hồn, để ở cùng chúng ta trong cơn hoạn nạn.” [3]

  1. Lời mời gọi của Mùa Chay

Trong phụng vụ, bài Tin Mừng này được đọc vào Chúa nhật IV Mùa Chay, Chúa nhật “Laetare”, Chúa nhật của niềm vui. Tại sao lại là niềm vui? Bởi vì Mùa Chay không chỉ là thời gian sám hối; đó còn là hành trình từ bóng tối đến ánh sáng. Thánh Phaolô kêu gọi: “Tỉnh giấc đi, hỡi người còn đang ngủ! Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào! Chúa Kitô sẽ chiếu sáng ngươi!” (Ep 5: 14). Có những lúc chúng ta sống như người ngủ mê: quen với tội lỗi, quen với giả dối, quen với đời sống đức tin hời hợt. Chúa Kitô đến để đánh thức chúng ta.

Câu cuối cùng của bài Tin Mừng hôm nay rất mạnh: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: Chúng tôi thấy, nên tội các ông vẫn còn!” (Ga 9: 41). Tội lớn nhất không phải là mù thể lý, nhưng là kiêu hãnh tưởng mình thấy rõ trong khi thực ra là đang mù, mù tâm linh. Kiêu ngạo là nguồn gốc của mọi tội lỗi, vì nó làm cho con người đóng chặt lòng mình lại trước chân lý. Người mù được chữa lành có một thái độ hoàn toàn khác: anh khiêm tốn và thành thật. Anh chỉ nói: “Tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được!” (Ga 9: 25). Đức tin đơn giản như vậy: một kinh nghiệm gặp gỡ sống động với Chúa. Chúng ta đang thấy hay đang mù?

Câu chuyện người mù cũng là câu chuyện của chúng ta. Nhiều khi chúng ta mù trước tình yêu Thiên Chúa, trước sự thật, trước phẩm giá của người khác. Chúa Kitô đã chạm vào mắt chúng ta qua Lời Chúa, các Bí tích và những biến cố của cuộc đời và vẫn mời gọi: “Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa” (Ga 9: 7), nghĩa là hãy bước ra khỏi bóng tối để ánh sáng của Ngài chiếu rọi vào cuộc đời chúng ta.

Thế giới hôm nay có rất nhiều ánh sáng: công nghệ, tri thức, khoa học. Nhưng đồng thời cũng có rất nhiều bóng tối: chiến tranh, bạo lực, sự cô đơn, khủng hoảng ý nghĩa. Đức Bênêđíctô XVI từng nói: “Xét cho cùng, bóng tối thực sự đe dọa nhân loại, chính là việc con người có thể nhìn thấy và nghiên cứu những thứ vật chất hữu hình, nhưng lại không thể thấy thế giới đang đi về đâu hay từ đâu đến, cuộc sống của chính chúng ta đang hướng về đâu, điều gì là tốt và điều gì là xấu…Những điều thuộc về Thượng đế và vấn đề về điều thiện, chúng ta không còn có thể nhận ra được nữa. Đức tin, vốn soi sáng cho chúng ta thấy ánh sáng của Chúa, chính là sự soi sáng đích thực, giúp ánh sáng của Chúa chiếu rọi vào thế giới của chúng ta, mở mắt chúng ta ra để nhìn thấy ánh sáng chân thật” (Bài giảng lễ Vọng Phục Sinh, ngày 7 tháng 4 năm 2012).

“Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin mở mắt con” để con nhận ra ánh sáng chân lý của Chúa giữa trần gian. Xin biến con trở thành ánh sáng của Chúa chiếu tỏa cho người khác, cho xã hội hôm nay, để thế giới này, từng chút một, được ánh sáng Chúa soi chiếu.

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://www.ncregister.com/news/pope-when-jesus-healed-blind-man-who-cried-out-to-him-it-was-an-encounter-of-mercy

[2] https://www.vatican.va/content/john-paul-ii/en/angelus/2002/documents/hf_jp-ii_ang_20020310.html

[3] https://www.catholicace.com/suffering/số 13, 19.

VỰC BẤT XỨNG

Thứ Bảy Tuần 3 Mùa Chay A

“Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ!”.

“Khiêm tốn là sợi dây liên kết con người với Chúa, là cây cầu bắc qua mọi vùng vịnh, đưa bạn vượt mọi thung lũng hiểm nguy! Chúa không cần những con người vĩ đại, Chúa cần những con người dám chứng tỏ sự vĩ đại của Ngài. Vì thế, lời cầu mạnh nhất của linh hồn là lời cầu nguyện khởi đi từ vực bất xứng của nó!” – A. Simpson.

Kính thưa Anh Chị em,

Cao trào của Lời Chúa hôm nay là hình ảnh trơ trọi của ‘một vai phụ’ trong dụ ngôn – người thu thuế! Và rất có thể, đó cũng là hình ảnh của bạn và tôi trước mặt Thiên Chúa. Anh đã dâng một lời cầu nguyện khởi đi từ ‘vực bất xứng’ của linh hồn!

Với những gì người thu thuế bộc lộ, Chúa Giêsu mách cho chúng ta điều Thiên Chúa yêu thích nơi con người – “tình yêu và chỉ tình yêu” – mà không cần bất cứ điều gì khác! Thiên Chúa thấu suốt lòng dạ con người, “Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ!” – bài đọc một. Thánh Vịnh đáp ca cũng chỉ lặp lại ngần ấy!

Vậy mà người biệt phái đã dâng Chúa một điều gì đó hoàn toàn khác! Lời cầu của ông khởi đi từ ‘vực kiêu hãnh’ khi ông coi Ngài như ‘Con nợ’; tệ hơn, coi ‘kỳ tích’ của mình là chiến công. Ông không phải là người xấu; nhưng lòng kiêu hãnh đã khiến ông mù loà đến độ xúc phạm tình yêu; ông sống tôn giáo ở ‘mức tối thiểu trần!’. Lời cầu của ông là ‘vô trùng’ khi ông quên Ngài chỉ muốn “tình yêu và chỉ tình yêu!”. “Thiên Chúa ghét lời cầu nguyện của kẻ tự mãn!” – Gioan Kim Khẩu.

Người thu thuế cũng lên đền thờ cầu nguyện! ‘Vai phụ’ này “khi ra về thì được nên công chính”. Không phải vì anh đã làm những điều đúng đắn, nhưng vì đã khiêm nhường nhận ra tội mình. Lời cầu của anh khởi đi từ ‘vực bất xứng’ trước Đấng Toàn Năng để rồi, dốc chút tàn hơi, anh chỉ đủ sức đấm ngực thều thào, “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi!”. Lạ thay, chính lời thú nhận tội lỗi ấy lại làm Chúa đẹp lòng! “Một tiếng kêu xin lòng thương xót có sức mạnh hơn ngàn lời biện minh!” – Bernard Clairvaux.

“Nơi nào có quá nhiều cái “tôi”, nơi đó rất ít Chúa. Ở nước tôi, người ta gọi những người này là “Tôi, chính tôi và tôi” – tên của những người đó. Người ta từng nói về một linh mục tự cho mình là trung tâm và thường bông đùa rằng: ‘Mỗi khi xông hương, ngài xông ngược – xông chính mình!’” – Phanxicô.

Anh Chị em,

“Ta muốn tình yêu, chứ không cần hy lễ!”. Với Chúa Giêsu, mọi sự đều thuộc về Cha, Cha cần gì lễ dâng của ai; vì thế, Chúa Con đã dâng hết cho Cha trên thập giá! Chúa Cha cần tình yêu từ trái tim mỗi người. Đừng quên, “Lời cầu mạnh nhất là lời cầu khởi đi từ ‘vực bất xứng’ của nó!”. Chính ở đó, kinh nguyện của chúng ta mới có sức mạnh! Mùa Chay, mùa chìm vào ‘vực bất xứng’ để chỉ biết khấn xin lòng Chúa xót thương! “Không có vực sâu tội lỗi nào mà lòng thương xót Thiên Chúa không thể chạm tới!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con ‘xông hương ngược!’. Chúa không cần sự vĩ đại của con; Chúa chỉ cần con dám nhìn thấy lũng bất xứng của mình, để lòng thương xót Ngài được hiển lộ!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

Gặp Gỡ Đức Kitô Biến Đổi Cuộc Đời Mình

Suy niệm Chúa nhật III Mùa Chay – năm A

(Ga 4, 5 - 42)

Bước vào Chúa nhật III Mùa Chay, chúng ta nghe lại cuộc đối thoại nổi tiếng của Ðức Giêsu với người thiếu phụ Samaria, được tường thuật bởi Thánh Sử Gioan. Người thiếu phụ hằng ngày đi lấy nước từ một giếng nước cổ xưa, có từ thời của tổ phụ Giacóp. Và ngày hôm ấy, chị gặp Ðức Giêsu đang ngồi trên bờ giếng, mệt mỏi sau một chặng hành trình đường xa (x. Ga 4,5-42). Chúa Giêsu chính là Nước Hằng Sống, Người đến làm cho con người khỏi khát nước Thánh Thần.

Chúa Giêsu là Nước Hằng Sống

Vào những thế kỷ đầu của Kitô giáo, Các Giáo phụ đã sớm nhận ra nới « nước hằng sống » biểu tưởng của phép Rửa tội, mà Đức Kitô là chính Nguồn Nước ấy (9). Chúa Giêsu xin người đàn bà xứ Samaria nước uống, không phải lý do khát về thể lý cho bằng khát đức tin, khát sự sống đời đời, khát một linh hồn khô héo. Đấng Cứu Thế giả vờ khát nước đến xin người đàn bà nước để trao ban thứ nước ân sủng khỏi khát đời đời. Đó chính là nguồn nước mà Tin Mừng nói tới khi Người xin nước của người đàn bà xứ Samaria… Thực ra, nguồn nước ấy không bao giờ cạn, Đấng là Nước Hằng Sống không thể uống nước bị ô nhiễm ở vùng đất này. Câu hỏi được đặt ra :

Phải chăng Đức Kitô khát nước ?

Thưa, Người khát, nhưng không khát nước trên mặt đất này, hay khát thức uống của con người, mà khát các linh hồn, khát sự cứu chuộc nhân loại. Thánh Ephrem viết : “Khi khát nước, Chúa chúng ta đã ngó đầu vào miệng giếng; Ngài xin người đàn bà nước uống. Từ giếng nước, Ngài đã câu được một tâm hồn. Nhưng tâm hồn ấy đã lại câu tiếp được cả dân trong thành” (Thánh Thi Giáng sinh số 4, 43-44).

Tại sao Chúa Giêsu lại xin người đàn bà xứ Samaria nước uống khi bà đến kín đầy vò nước, không những thế, Người còn khẳng định mình có thể trao ban mạch nước dồi dào hơn từ giếng thiêng liêng nếu ai đến xin Người ?

Thưa, vì dân Samaria thờ ngẫu tượng, tâm trí họ hướng về địa giới, nên Chúa khát đức tin không chỉ của người đàn này mà cả và nhân loại. Chúa Giêsu nói : “Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà : ‘xin cho toi uống nước’, thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống (...) Tất cả những ai uống nước này sẽ còn khát : nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa ; vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời” (Ga 4, 10-14). Đúng như lời Kinh Tiền Tụng thánh lễ hôm nay diễn tả  : “Lạy Chúa là Cha chí thánh ... Khi người phụ nữ xứ Samari cho nước uống, Người đã ban cho bà đức tin. Vì Người tha thiết ước mong bà tin vững mạnh, nên đã đốt lên trong lòng bà ngọn lửa yêu mến Chúa…”

Hình ảnh người tân tòng

Người đàn bà xứ Samaria là hình ảnh của người tân tòng, còn đang chịu sự ràng buộc của ma quỷ, năm đời chồng bà đã từ bỏ, người đàn ông thứ sáu đang sống với bà là tượng trưng. Giếng nước Giacóp thể hiện tiệc cưới của tâm hồn bà cử hành với Thiên Chúa đã được thanh tẩy bằng nước Rửa tội. Theo M. Dulaey thì : “Giữa thế kỷ thứ III, Origène giải thích rằng, giếng nước này là dấu chỉ giao ước giữa Thiên Chúa với dân Người và hiệp nhất tâm hồn với Thiên Chúa.” Từ nay, bà tuyên xưng đức tin trước mặt mọi người và đi loan báo Đức Kitô cho dân làng bà, kết quả là : “Một số đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng rằng : Ông ấy đã nói với tôi mọi việc tôi đã làm” (Ga 4, 39). Theo Origène  “Vị Hôn Phu đích thực là Chúa Kitô (Ga 13, 181). Một khi người đàn bà này tìm thấy Ngài, bà liền chạy về loan báo cho dân làng biết; người đàn bà này là hình ảnh của người kitô hữu tuyên xưng đức tin của mình.”

Nguồn suối cứu độ là chính Đức Kitô

Đức Kitô, Đấng ngồi nghỉ trên miệng giếng chính là nguồn nước, từ cạnh sườn bên phải Ngài, tuôn trào suối nước trường sinh; một phụ nữ có sáu đời chồng đã được tẩy sạch bằng dòng nước hằng sống ấy. Thật ngưỡng mộ biết bao : một người phụ nữ nhẹ nhàng đến giếng Samaria kín nước, bà múc nước từ giếng Giêsu ! Tìm được nước, bà ra đi với sự tiết hạnh. Ngay lập tức bà xưng thú các lỗi mà Đức Giêsu ám chỉ, bà nhận ra Đức Mêssia và loan báo Đấng Cứu Thế. Bà để vò nước xuống, mang ơn sủng vào thành ; vai nhẹ bớt tội lỗi, nhưng tràn đầy sự thánh thiện… Đúng là ai đến trong tội lỗi sẽ trở về với sứ mạng tiên tri.

Nước hằng sống này đối với chúng ta là nguồn suối dâng trào sự sống đời đời. Nước này không phải là nước hòa với Máu Chúa Kitô, đã chảy ra từ cạnh sườn bị đâm thâu trên cây Thánh giá đó sao ? Đây không phải là các bí tích của Giáo hội mà Phép rửa trình bầy mầu nhiệm của nước ấy, để ám chỉ rằng nước đó phát sinh từ cái chết cứu độ của Đấng Cứu Thế đó hay sao? Trong mọi trường hợp, các Giáo phụ thấy nước tuôn chảy từ tảng đá do Môisen đập ra (Xh 17, 3-7) là hình ảnh tiên trưng của nước chẩy ra từ cạnh sườn Đấng Cứu Thế bị đóng đinh.

Mỗi người chúng ta đều có thể nhìn thấy chính mình nơi hình ảnh của người thiếu phụ Samari: Ðức Giêsu chờ đợi chúng ta, nhất là trong thời điểm của Mùa Chay, để đối thoại với chúng ta, nói với con tim của chúng ta. Người thiếu phụ Samari gặp được Chúa, bà xin Chúa, “Xin cho tôi nước ấy để tôi chẳng còn khát” (Mt 4, 15). Chúa đã cho bà, nhưng nước ấy, vò của bà không thể chứa được, bà phải để vò nước lại, đi loan báo cho dân làng, những người vẫn khước từ bà vì cái vò cũ (đời sống tội lỗi) nay bỏ vò đi họ liền đón nhận lời bà loan báo.

Phần chúng ta, để tiếp tục hành trình trong Mùa Chay Thánh, chúng ta cũng phải bỏ lại vò thói quen tội lỗi, chúng ta mới kín múc từ giếng Giêsu, Nước Hằng Sống, đựng vào trong tâm hồn trong sạch (vò đã được hoán cải), có thế, chúng ta mới kính múc được ân sủng của Thiên Chúa toàn năng. Như người đàn bà xứ Samria, chúng ta được mời gọi làm chứng cho người thời nay về niềm vui gặp gỡ Chúa, một cuộc gặp gỡ linh thiêng và cứu chuộc.

Lạy Ðức Nữ Ðồng Trinh Maria, xin giúp chúng con biết tận dụng cơ hội gặp gỡ này, là nơi chúng con có thể kín múc nguồn hạnh phúc đích thực cho cuộc đời chúng con. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Quảng cáo hấp dẫn quá

Người Việt mình có câu “thấy vậy mà không phải vậy”. Đây là câu nói nhằm cảnh giác chúng ta trước một sự kiện đừng đánh giá, nhận xét vội vàng. Hãy kiểm chứng kẻo thiệt thân. Nhất là trên phương diện quảng cáo. Người ta quảng cáo một cách tùy tiện và vô tội vạ. Bạ đâu cũng quảng cáo. Hoàn cảnh nào cũng quảng cáo. Kể cả lợi dụng bia mộ để quảng cáo.

Chuyện kể rằng : Ông bố của một người thợ đục đá ốm nặng. Trước khi qua đời, ông dặn người con khắc một tấm bia cắm trên mộ. Người con sau đó mang hết tâm huyết khắc một tấm bia thật đẹp với dòng chữ: “Mộ cụ Phạm X. cha của thợ đá Phạm Y. Chuyên khắc bia mộ, đục cối đá, cối xay bột. Bảo đảm. Giá rẻ”.

Có rất nhiều người “há miệng mắc quai”, hay ngậm bồ hòn bởi tin vào quảng cáo. Vì quảng cáo thường nói thêm mắm thêm muối, quảng cáo thường tìm cách thuyết phục người tiêu dùng bằng mọi cách. Thế nên, nhiều khi tin vào quảng cáo mà “tiền mất tật mang” hay ân hận suốt đời.

Một nhà kinh doanh kia chẳng may chết trong một tai nạn ôtô. Ông ta đến cửa thiên đàng và gặp Thánh Phê-rô ở đó:

- Thánh Phê-rô nói: Để ta cho ngươi xem cái này. Ngươi sẽ chọn được nơi ở thích hợp với mình.

- Thánh Phê-rô dẫn ông ta đến một bãi cỏ lớn. Ở đó, hàng trăm thiên thần thổi sáo véo von và hàng nghìn người tha thẩn đi qua đi lại, chốc chốc họ lại ngáp ngắn ngáp dài.

- Thánh Phê-rô giải thích: Đó là thiên đường. Còn bây giờ ta sẽ cho ngươi xem địa ngục.

- Họ đến một cuộc hội hè lớn, náo nhiệt, điên loạn. Tất cả đều nhảy nhót và sự hoan hỉ hiện rõ trên khuôn mặt từng người.

- Đó là địa ngục! Ngươi chọn nơi nào?

- Ngài hỏi gì mà ngốc nghếch thế! Tất nhiên là tôi chọn địa ngục rồi.

- Liền đó, hai con quỷ dữ tợn lôi kẻ mới đến về phía vạc dầu sôi sùng sục.

- Ấy ấy! nhà kinh doanh kêu thất thanh - Thánh lừa tôi! Địa ngục không phải như tôi vừa trông thấy lúc nãy!

- Thánh Phê-rô vừa nói vừa bỏ đi: Ồ! Cảnh ta cho ngươi xem lúc nãy là quảng cáo ấy mà!

Có thể nói ngày nay ra đường là gặp quảng cáo, mở mắt ra là gặp tiếp thị. Dường như quảng cáo, tiếp thị được tận dụng trong mọi môi trường, trong mọi thời cơ. Quảng cáo và tiếp thị luôn tạo ra niềm tin rằng cứ mua mấy thứ sản phẩm đó là thế nào cũng ngon lành hạnh phúc. Trong quảng cáo, ai cầm lon nước Coca uống cũng vui vẻ yêu đời quá sức; ai dùng loại xà bông gội đầu đó thì tóc cũng óng mượt bay bay như mây trời.

Đây là lý do khiến chúng ta thường mua những thứ dư thừa. Thấy quảng cáo hay là hoa mắt, là mua liền mà chẳng cần suy tính có cần thiết để mua hay không?

Trên phương diện luân lý, ma quỷ hằng ngày vẫn tiếp thị cho chúng ta biết bao danh lợi thú. Nó khiến ta mê mệt. Tâm hồn chao đảo vì những thứ ấy thật quyến rũ. Nhưng có ở “trong chăn mới biết chăn có rận”. Có đi vào thực tế mới thấy sự thật phũ phàng. Có mấy ai công thành danh toại bởi cờ bạc hay chỉ là “bác thành bần” đến thân tàn ma dại, thế nhưng nhiều người đã hoa mắt vì tiền để rồi lao vào cuộc đỏ đen . . . Có mấy ai thỏa mãn trong những thú vui trần tục hay chỉ cảm thấy mệt mỏi, chán chường sau những lần vụng trộm và trụy lạc, thế nhưng nhiều người vẫn bị mê hoặc bởi ái tình lăng nhăng.

Người phụ nữ trong bài Tin mừng hôm nay, bà đã lao vào vòng xoáy của đam mê nhục dục. Bà tìm thỏa mãn xác thịt với 5 người đàn ông không phải chồng mình. Nhưng xem ra bà đã bị ma quỷ phỉnh lừa. Thú vui xác thịt không làm cho bà thỏa mãn. Cơn khát của đam mê không bao giờ cho bà hạnh phúc. Lòng bà vẫn còn một điều gì đó băn khoăn. Tâm hồn bà vẫn xao động ngổn ngang trăm bề. Bà ngụp lặn trong đam mê xác thịt nhưng tâm hồn bà bị dày vò bởi một cơn khát vượt lên trên tính xác thịt ấy. Cơn khát của hạnh phúc vô biên. Cơn khát của chân thiện mỹ.

Chúa Giê-su đã cho bà thấy thực trạng đời bà là một bất hạnh. Điều con người cần là hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc không có trong những đam mê trụy lạc. Hạnh phúc chỉ có khi ta làm chủ được những ham muốn xác thịt. Hạnh phúc thực sự là khi ta được tự do sống mà không phải làm nô lệ cho tính xác thịt lôi kéo đi nghịch lại với luân thường đạo lý.

Con người luôn có những khát khao lôi kéo. Khát khao về tình, về tiền, về quyền. Cơn khát về danh lợi thú chẳng bao giờ mang lại thỏa mãn cho con người. Chỉ trong Thiên Chúa mới làm ta thỏa mãn những khát khao. Chỉ nơi Thiên Chúa mới lấp đầy chỗ trống trong tâm hồn chúng ta. Xin cho chúng ta biết khao khát tìm kiếm Nước Trường Sinh để chúng ta không còn khát mà luôn hạnh phúc an vui trong phận mình. Amen

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Suy tư bên giếng nước

Một hôm, vào khoảng 12 giờ trưa, vạt nắng vàng ươm trong như pha lê nhưng nóng rát như lửa thiêu, có một phụ nữ người Samari đến lấy nước tại giếng Gia-cóp, và Chúa Giêsu đã có dịp đối thoại với phụ nữ này.

Sau khi thăm hỏi và trò chuyện một lúc, Chúa Giêsu xác định với chị: “Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, KHÔNG phải trên núi này hay tại Giêrusalem. Các người thờ Đấng các người không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do Thái. Giờ đã đến – và chính là lúc này đây – giờ những người THỜ PHƯỢNG ĐÍCH THỰC sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người PHẢI thờ phượng trong thần khí và sự thật.” (Ga 4:21-24)

Chúa Giêsu muốn nói rằng việc thờ phượng không còn lệ thuộc nơi chốn, mà “đạo tại tâm” mới là điều quan trọng, cần thiết – dĩ nhiên không có ý phủ nhận việc thờ phượng ở nơi tôn nghiêm như nhà nguyện, nhà thờ, đền đài,... hoặc cầu nguyện chung trước bàn thờ Thiên Chúa trong các gia đình. Câu nói “tin đạo chứ không tin người có đạo” thường được người ta dẫn chứng, chắc hẳn cũng đáng để tín nhân chúng ta suy nghĩ nhiều.

Hiện nay, khoảng thời gian những ngày tháng đầu năm 2020, cả thế giới đang “mệt mỏi” sống trong tình trạng nghiêm trọng do virus Corona hoành hành, với những con số lây nhiễm gia tăng tại gần 100 quốc gia, có những nơi ở mức báo động. Rất nhiều hoạt động quan trọng phải hủy bỏ ở nhiều nước, trong Giáo Hội cũng phải hủy bỏ nhiều nghi thức chung – đặc biệt là trong Tuần Thánh sắp tới, mặc dù là “đỉnh cao” của Phụng Vụ Thánh.

Trong cơn đại dịch này, chắc chắn Thiên Chúa thực sự đang cảnh báo nhân loại về nhiều điều. Thời Cựu Ước đã xảy ra tương tự với các loại dịch, các thế kỷ trước cũng vậy, cụ thể là những năm 1720, 1820, 1920. Những con số 20 tròn trịa có vẻ rất đẹp nhưng không hề đẹp theo nghĩa đen. Và năm 2020 cũng thế. Vấn đề đầu tiên hẳn là phải xem lại đức tin của chúng ta. Chiếc khẩu trang bỗng dưng “nổi tiếng” và trở thành vật bất khả ly thân. Nó cũng là lời nhắc nhở về việc nói nhiều, lắm chuyện, gièm pha, xét đoán, không lải nhải khi cầu nguyện,... Nó không chỉ nhắc nhở về cái miệng, lời nói, mà còn liên quan việc giảm bớt các giác quan khác. Đó mới là “tự cách ly” đúng nghĩa, rất phù hợp tinh thần Mùa Chay.

1. TÍNH KIÊU NGẠO. Thói xấu đứng đầu và liên quan cái tôi. Có thể nói rằng nguyên nhân của mọi thứ xấu xa đều do nó. Vì cái tôi quá to lớn nên tưởng mình vĩ đại, và nó choán hết chỗ của những thứ khác, thậm chí là che mắt chúng ta nên chúng ta không mù mà vẫn lòa. Kinh Thánh nói: “Miệng kẻ dại có mầm kiêu ngạo.” (Cn 14:3)

2. THÓI LỘNG HÀNH. Người ta lộng hành vì bất chấp tất cả, không coi ai ra gì, càng có chức quyền càng dễ lộng hành – dù đời hay đạo. Thật vậy, từ ngàn xưa Thiên Chúa đã cảnh báo: “Các ngươi chớ cứng lòng như tại Mơ-ri-va, như ngày ở Ma-xa trong sa mạc, nơi tổ phụ các ngươi đã từng THÁCH THỨC và dám THỬ THÁCH Ta, dù đã thấy những việc Ta làm.” (Tv 95:8-9) Rõ ràng là cứng lòng tin, cứng mãi hóa xơ cứng hoặc chai lì. Bởi vì xơ cứng đức tin nên có thể dẫn tới nguy cơ hóa thành vô thần.

3. PHẠM THƯỢNG. Tình trạng này bởi thói lộng hành. Ngày xưa, Thiên Chúa phán với ông Mô-sê: “Hãy đưa kẻ nói LỜI NGUYỀN RỦA ra ngoài trại. Tất cả những ai đã nghe, phải đặt tay lên đầu nó, và toàn thể cộng đồng phải ném đá nó. Rồi ngươi sẽ nói với con cái Ít-ra-en rằng: Bất cứ người nào nguyền rủa Thiên Chúa của nó, sẽ phải mang lấy tội mình. Ai NÓI PHẠM đến danh Đức Chúa, sẽ bị xử tử: toàn thể cộng đồng sẽ ném đá nó; dù là ngoại kiều hay người bản xứ, nếu NÓI PHẠM ĐẾN THÁNH DANH, sẽ bị xử tử.” (Lv 24:14-16)

4. BẤT CÔNG. Bất kính với người trên thì người dưới chẳng đáng gì, người ta sẵn sàng coi thường công lý, bẻ cong sự thật, và rồi thể hiện sự đối với bất cứ ai: “Khốn cho những ai biến LẼ PHẢI thành ngải đắng và vứt bỏ CÔNG LÝ xuống đất đen.” (Am 5:7) Tất nhiên cái gì cũng có hệ lụy của nó, điều này liên đới điều kia. Kinh Thánh xác định: “Áp bức người yếu thế là sỉ nhục Đấng tạo thành nên họ, thương xót kẻ khó nghèo là tôn kính Đấng dựng nên người đó.” (Cn 14:31) Mọi người là anh chị em với nhau, hoàn toàn bình đẳng, có thể là người bình thường nhưng không tầm thường. Kinh Thánh cho biết: “Ai từ chối chẳng xót thương bè bạn, cũng không kính sợ Đấng Toàn Năng.” (G 6:14) Chúa Giêsu cũng đã nói nhiều về vấn đề tương tự, Ngài nói ngắn gọn là YÊU THƯƠNG, và Ngài gọi đó là Điều Răn Mới.

5. GIẢ HÌNH. Lối sống này do cái tôi to lớn. Giới kinh sư và biệt phái “nổi trội” về lĩnh vực này. Chắc chắn chúng ta không ưa thích họ, thế nhưng chúng ta vẫn đi vào “vết mòn” của họ: Quá chăm chút ngoại tại – hình thức, không coi trọng nội tại – tinh thần; chú ý số lượng mà lại khinh suất chất lượng. Sự gì phải đến đã đến!

Chắc chắn chúng ta lo không nổi, sợ không xong, chạy không thoát. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể giải cứu nhân loại trong cơn đại họa này, nghĩa là phải thực sự tín thác vào Ngài. Với đức tin tinh ròng, chúng ta biết sợ chính mình, như Thánh Vịnh gia van nài: “Xin cũng giữ cho tôi tớ Ngài khỏi kiêu ngạo, đừng để tính xấu này thống trị con. Như thế con sẽ nên vẹn toàn không còn vương trọng tội.” (Tv 19:14) Đồng thời noi gương hoàng hậu Ét-te quyết tâm và dứt khoát: “Con sẽ không bái lạy một ai, ngoại trừ Ngài, lạy Chúa, và con sẽ không làm thế vì kiêu ngạo.” (Et 17đ)

Thật lớn lao về niềm tin của người phụ nữ Samari: “Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Kitô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.” (Ga 4:25) Ngài đã đến, và Ngài đang hiện diện và đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường lữ hành trần gian này: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài!”

Lời xưa chưa cũ, và chẳng bao giờ lỗi thời. Bởi vì Thiên Chúa đã nói thẳng: “Chúng có ăn chay, cầu khẩn, Ta cũng chẳng thèm nghe tiếng; có dâng lễ toàn thiêu và lễ phẩm, Ta cũng chẳng tỏ lòng xót thương, vì Ta sắp dùng gươm đao, đói khát và ôn dịch mà tiêu diệt chúng.” (Gr 14:12) Mệnh lệnh này phải được thi hành không riêng gì trong Mùa Chay, mà suốt cả cuộc đời này. Nhờ vậy mà có thể thay đổi chính số phận của mình.

Ngược lại, tất cả chỉ là công dã tràng. Bởi vì Thiên Chúa quyết định: “Vất vả bao nhiêu cũng vô ích! Khối han rỉ vẫn không bong ra khỏi nồi, dù đã bị lửa thiêu. Vì tội ô uế của ngươi tày trời; Ta muốn thanh tẩy ngươi, nhưng ngươi lại không để cho thanh tẩy sạch mọi ô uế. Ngươi sẽ không được thanh tẩy cho đến khi Ta trút hết cơn thịnh nộ xuống trừng phạt ngươi.” (Ed 24:12-13) Thật đáng sợ biết bao!

Lạy Thiên Chúa toàn năng và giàu lòng thương xót, xin giải cứu chúng con và toàn thế giới. Amen.

 

TRẦM THIÊN THU

Subcategories