3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ: YÊU ĐẾN TẬN CÙNG

Có những khoảnh khắc trong đời, chúng ta buộc phải đối diện với một sự thật rất khó chấp nhận: con người có thể yếu đuối, có thể chọn sai, có thể phản bội. Nhưng cũng chính trong những khoảnh khắc ấy, tình yêu chân thật lại tỏa sáng rõ nhất. Bài Thương Khó theo sách Tin Mừng của thánh Mátthêu trong Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay cho chúng ta thấy cả hai điều đó: bóng tối của con người và ánh sáng của Thiên Chúa.

  1. Chúa Giêsu bị những người bạn gần gũi phản bội

Câu chuyện mở đầu bằng một quyết định lạnh lùng: “Tôi nộp ông ấy cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu?” (Mt 26: 15). Ba mươi đồng bạc, cái giá quá rẻ đối với một tình bạn và nhất là đối với chính Thiên Chúa.

Giuđa không xa lạ, nhưng là người ở rất gần. Điều đáng sợ là: phản bội thường đến từ bên trong. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI viết: “Sự phản bội của Giuđa vẫn là một bí nhiệm. Chúa Giêsu đối xử với ông như một người bạn (Mt 26: 50); tuy nhiên, trong những lời mời gọi đi theo Ngài trên con đường hạnh phúc, Ngài không ép buộc ý chí của ông hay bảo vệ ông khỏi những cám dỗ của Satan, Ngài tôn trọng sự tự do của con người.” [1] Giuđa là lời cảnh tỉnh rằng ngay cả sự gần gũi với Chúa cũng không tự động cứu chúng ta.

Đức Bênêđictô XVI nói thêm: “Chúa Giêsu phải trải qua thời khắc những người trong vòng bạn bè thân thiết nhất của Ngài không hiểu Ngài và thậm chí bất trung với Ngài…Sự phản bội của Giuđa không phải là sự bội tín cuối cùng mà Chúa Giêsu phải chịu. “Ngay cả người bạn thân thiết của tôi, người mà tôi tin cậy, người đã ăn bánh của tôi, cũng đã phản bội tôi” (Tv 41: 9)…Vào giờ phút này, Chúa Giêsu đã gánh lấy sự phản bội của mọi thời đại và Ngài đã chịu đựng nỗi thống khổ của lịch sử cho đến tận cùng cay đắng.” [2]

Giuđa đặt ra cho ta một câu hỏi: tôi có đang “bán Chúa” mỗi ngày không? Có thể bằng những thỏa hiệp nhỏ, những lần chọn tiền của, tiện nghi, tham vọng riêng, những lần im lặng trước sự thật, như Đức Bênêđictô XVI chỉ ra: “Thực tế, những khả năng làm tha hóa tâm hồn con người quả thật rất nhiều.” Ngài cho thấy: “Cách duy nhất để ngăn chặn điều đó là không nuôi dưỡng một quan điểm cá nhân chủ nghĩa, tự trị về mọi sự, mà trái lại, luôn luôn đứng về phía Chúa Giêsu, chấp nhận quan điểm của Ngài. Chúng ta phải hằng ngày tìm cách xây dựng sự hiệp thông trọn vẹn với Ngài” (đã dẫn trên).

  1. Bị phản bội, Chúa Giêsu vẫn trao ban Tình yêu

Nhưng giữa bóng tối ấy, Chúa Giêsu vẫn trao ban: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy…Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy…” (Mt 26: 26-28). Ngài biết sẽ bị phản bội, nhưng vẫn yêu thương. Đó là điều làm nên khác biệt: Thiên Chúa không rút lại tình yêu.

Thánh Têrêxa Avila (1515-1582) đã cảm nghiệm quá rõ ràng Lòng Chúa Thương Xót của Thiên Chúa, nên ngài nói: “Hãy tin tưởng vào lượng từ bi của Thiên Chúa, lượng từ bi cao cả vượt trên mọi gian ác tội lỗi chúng ta có thể phạm. Với lòng khiêm tốn nhận biết mình, nếu chúng ta muốn nối lại tình bạn thân mật với Ngài, thì Ngài chẳng còn nhớ tội vong ân, cũng chẳng còn nhớ rằng chúng ta đã lạm dụng các hồng ân Ngài đã ban cho chúng ta…lòng Thương Xót của Ngài không bao giờ vơi cạn” (Tự Thuật 19, 15; Tự Thuật 19, 10; 14, 9). [3]

Chúa bẻ mình ra, trao mình đi, ngay cả khi không được thấu hiểu, bị xúc phạm, bị phản bội. Thánh Thể không chỉ là một nghi thức, nhưng là một lối sống: sống yêu thương và trao ban chính mình như Chúa, dù bị hiểu lầm, hay bị tổn thương.

Ở vườn Cây Dầu, trong cơn hấp hối, Chúa Giêsu bày tỏ trọn vẹn nhân tính: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết đượcXin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26: 38- 39). Đây là đỉnh cao của vâng phục, như Đức Bênêđictô XVI nói: “Nếu bạn vâng theo ý muốn của Thiên Chúa, bạn biết rằng dù mọi điều khủng khiếp xảy đến với bạn, bạn sẽ không bao giờ mất đi nơi nương náu cuối cùng…Vì vậy ngay cả khi không một người nào có thể giúp đỡ bạn, bạn vẫn có thể tiếp tục tin tưởng vào Đấng yêu thương bạn” (Chúa Giêsu thành Nadarét). [4]

  1. Con người yếu đuối và con đường hoán cải

Phêrô từng quả quyết: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy” (Mt 26: 35). Nhưng rồi ông chối ba lần. Tuy nhiên, không lâu sau đó tiếng gà gáy đánh thức lương tâm của ông: “Ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết” (Mt 26: 75).

Khác với Giuđa, Phêrô đã khóc, và chính nước mắt ấy cứu ông. Đó là nước mắt hoán cải, tin tưởng vào lòng xót thương luôn tha thứ của Chúa Giêsu. Bằng cách đó, con đường trở về với Thiên Chúa được mở ra cho Phêrô, và cho tất cả các tội nhân: “Thiên Chúa luôn sẵn sàng thứ tha, Ngài từ bi nhân hậu…” (Nkm 9: 17). Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói: “Chúa không bao giờ thấy mệt khi tha thứ cho chúng ta; chỉ có chúng ta thấy mệt khi đi tìm lòng thương xót của Ngài” (Tông huấn Evangelii Gaudium, số 3). Yếu đuối không phải là kết thúc. Điều quan trọng là chúng ta có quay về với Thiên Chúa là Đấng hay tha thứ hay không.

  1. Thinh lặng và nghịch lý của Thập Giá

Trước cáo buộc, “Chúa Giêsu vẫn làm thinh” (Mt 26: 63). Trước Philatô, “Chúa Giêsu không trả lời” (Mt 27: 14). Đó không phải là yếu đuối, nhưng là sức mạnh của sự thật. Isaia đã tiên báo: “Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ” (Is 50: 6-7)

Chúng ta thường muốn chống trả khi bị hiểu lầm, nhưng Chúa chọn con đường thinh lặng. Đám đông hét lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Mt 27: 22). Thay vì chọn Chúa, họ đã chọn Baraba, một tên tội phạm. Điều đó vẫn lặp lại hôm nay: con người chọn điều dễ dàng thay vì điều đúng đắn.

Chúa Giêsu bị sỉ nhục, đánh đòn, đội mão gai. Và trên thập giá, Ngài kêu lên: “Lạy Thiên Chúa… sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27: 46). Đây là tiếng kêu cô đơn nhất trong mọi nỗi cô đơn. Nỗi đau lớn nhất là cảm giác bị bỏ rơi. Nhưng chính nơi đó, tình yêu chiến thắng: Thánh Phaolô viết: “Ngài lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu” (Pl 2: 8-9).

Thập giá của Chúa Giêsu không phải là thất bại, nhưng là tình yêu tự hiến, là con đường mở ra dẫn đến Thiên Chúa: “Bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai” (Mt 27: 51), bởi chính trên Thập giá, Ngài tỏ lộ mình là Thiên Chúa: “Viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Chúa Giêsu đều rất đỗi sợ hãi và nói: Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27: 54)

  1. Lời mời gọi chọn lựa trước Thập Giá

Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu không chỉ là chuyện quá khứ, nhưng là tấm gương soi cho mỗi người hôm nay. Khi ta thỏa hiệp với điều sai, ta là Giuđa: “Tìm dịp thuận tiện để nộp Chúa” (Mt 26: 16). Khi ta sợ hãi, ta là Phêrô: “Tôi không biết cô nói gì!.. Tôi không biết người ấy … Tôi thề là không biết người ấy” (Mt 26: 69-74). Điều quan trọng là có biết ăn năn và quay về không: “Ông Phêrô sực nhớ lời Chúa Giêsu đã nói: Gà chưa kịp gáy thì anh đã chối Thầy ba lần. Ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết” (Mt 26: 75). Khi ta chạy theo đám đông, ta là những người hô: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Mt 27: 22-23). Khi ta im lặng trước bất công, ta là Philatô: “Lấy nước rửa tay trước mặt đám đông” (Mt 27: 24). Đức Phanxicô cảnh báo: “Chúng ta không nhạy cảm đối với tiếng kêu của người khác, làm cho chúng ta sống trong những bong bóng xà bông, đẹp nhưng chẳng là gì cả, đó là ảo tưởng về sự phù dù, tạm bợ, dẫn tới sự dửng dưng đối với tha nhân, đưa tới sự hoàn cầu hóa thái độ dửng dưng” (Đài Vatican, 08-07-2013).

Nhưng Tin Mừng cũng mở ra con đường khác: Trung thành như các phụ nữ: “Có nhiều người phụ nữ đứng nhìn từ đàng xa. Các bà này đã theo Chúa Giêsu từ Galilê để giúp đỡ Ngài” (Mt 27: 55-56). Can đảm như Giuse Arimathê: “Đến gặp ông Philatô để xin thi hài Chúa Giêsu” (Mt 27: 58). Nhận ra Chúa như viên đại đội trưởng: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27: 54)

Isaia nhắc lại cách chọn lựa đầy lòng trung tín của Người Tôi Trung, cũng cần phải là cách chọn lựa của mỗi môn đệ Chúa Kitô: “Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ. Có Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt ra như đá” (Is 50: 6-7). Thánh Phaolô tóm tắt sự chọn lựa trung tín của Người Tôi Tớ Đau Khổ: “Ngài lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2: 8)

Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói: “Chính nhờ Thánh Giá của mình, Chúa Kitô đánh vào tận gốc rễ của cái ác, được gieo trồng trong lịch sử loài người và trong tâm hồn con người. Chính nhờ Thánh Giá của mình, Ngài phải hoàn thành công trình cứu rỗi. Công trình này, trong kế hoạch của Tình Yêu vĩnh cửu, mang tính chất cứu chuộc” (Tông thư Salvifici Doloris, số 16).

Thập giá không phải là dấu chấm hết, mà là dấu chấm than của tình yêu: “Chúa Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là tội nhân” (Rm 5: 8). Vì thế, thập giá đặt ra một chọn lựa.

Câu hỏi cuối cùng là: tôi sẽ đáp lại tình yêu ấy thế nào? Bởi vì theo Chúa Kitô là bước vào con đường thập giá, dẫn đến những hy sinh, từ bỏ chính mình, và cuối cùng là cái chết, nhưng lại là con đường dẫn đến sự sống đích thực muôn đời. Điều an ủi lớn lao nhất là chúng ta không đi một mình. Chúa Kitô đã đi trước và vẫn còn đang đi cùng mỗi người chúng ta. Thập giá không phải là kết thúc. Thập giá là khởi đầu của hy vọng như Đức Bênêđictô XVI viết: “Hy vọng cao cả, thật sự vững vàng của con người, ngay cả trong mọi nỗi tuyệt vọng, chỉ có thể là Thiên Chúa, một vị Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta và tiếp tục yêu thương chúng ta đến cùng, cho đến khi mọi sự đã hoàn tất” (Spe Salvi, số 27).

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://www.catholicculture.org/culture/library/view.cfm?recnum=724 5

[2] https://loc.ignatius.com/jesus-of-nazareth/excerpts.htm#:~:text=John%20does%20not%20offer%20any,His%20remorse%20turns%20into%20despair

[3] https://ocdvietnam.org/2020/04/15/long-chua-thuong-xot-theo-kinh-nghiem-cua-thanh-terexa-avila/ 

[4] https://ewtn.co.uk/article-10-quotes-from-pope-benedict-xvi-on-the-beauty-of-love-and-suffering/   

 

Mở cửa mộ

Tai họa ngày 11 tháng 09 năm 2001 trên đất Mỹ đã trở thành một nỗi ám ảnh đối với mọi người. Trong phút chốc, hai tòa tháp chọc trời đổ sập xuống, trở thành ngôi mộ khổng lồ chôn vùi mấy ngàn sinh mạng. Ngôi mộ gieo tang thương. Ngôi mộ gieo kinh hoàng. Ngôi mộ làm rung chuyển thế giới.

Ngôi mộ không chỉ hiện hữu từ khi toà tháp đôi đổ xuống. Trước đó ngôi mộ đã hiện diện trong trái tim của những người khủng bố. Sau đó ngôi mộ vẫn phủ màn u ám trên cuộc sống thân nhân bạn bè.

Như thế, ngôi mộ không chỉ xây bằng gạch đá. Nó được xây bằng những lực lượng chết chóc như sự hận thù, sự áp bức, sự độc ác… Ngôi mộ không chỉ chôn vùi sự sống. Nó chôn vùi cả niềm tin, cả niềm hy vọng.

Nhưng hôm nay, Chúa Giêsu đã dõng dạc mở cửa mộ và truyền cho người chết chỗi dậy bước ra. Việc Chúa Giêsu mở cửa mộ cho Lagiarô mở ra những chân trời mới cho đời sống con người.

Khi mở cửa mộ, Người đã mở cánh cửa sự sống. Thông thường, ngôi mộ là vương quốc của tử thần. Cửa mộ là cửa mở vào thế giới chết chóc. Ai đã vào đó chẳng còn hy vọng thoát ra. Nhưng hôm nay, Chúa Giêsu đã mở cửa mộ để Lagiarô không phải bước vào sự chết nhưng bước vào sự sống. Khi mở cửa mộ, Người phá tan sào huyệt Thần Chết. Khi tháo những dải băng liệm cuốn quanh thân thể Lagiarô, Người giải phóng ông khỏi dây trói ràng buộc của tử thần.

Khi mở cửa mộ, Người đã mở cánh cửa niềm tin. Trước đó, niềm tin của Mácta chỉ là một niềm tin mơ hồ, chung chung của đa số người Do thái thời ấy. Nhưng sau khi thấy Lagiarô sống lại, niềm tin của bà trở nên cụ thể, sống động và vững vàng. Trước đó, nhiều người Do thái chưa tin vào Chúa Giêsu. Nhưng sau khi được chứng kiến Lagiarô từ cõi chết sống lại, họ không thể nào không tin. Tảng đá lấp cửa mồ tung ra cũng làm bật tung tảng đá nghi ngờ che lấp trái tim, đưa họ tới tin nhận Chúa là Thiên Chúa.

Khi mở cửa mộ, Người mở ra cánh cửa niềm vui. Chết chóc gieo tang tóc u buồn. Ngôi mộ bao giờ cũng gợi lên nỗi buồn. Buồn ly biệt. Buồn mất mát. Buồn thất bại. Cái buồn vốn hay lây. Nước mắt người thân dễ làm cay mắt ta. Nên Chúa Giêsu không ngăn được dòng lệ. Nhưng khi Lagiarô bước ra, cả một trời vui. Đám tang bỗng biến thành đám hội. Lời chia buồn đổi thành lời chúc mừng. Thiên Chúa đã biến tang tóc thành niềm vui. Niềm vui ấy trọn vẹn.

Khi mở cửa mộ, Chúa Giêsu mở cánh cửa hy vọng. Thiên Chúa đến biến đổi số phận con người. Con người không còn bị giam hãm trong thân phận hay chết, nhưng được thênh thang tự do trong cõi sống. Con người không sinh ra để chết đi nhưng để sống, sống mãi, vì Chúa là “sự sống”, “ai tin sẽ sống đời đời”. Con người không sinh ra để tàn lụi, nhưng để triển nở đến vô biên.

Trong mỗi người chúng ta có nhiều nấm mộ. Chúng ta bị giam hãm trong những nấm mộ tội lỗi, gian tham, ích kỷ, bất công, đam mê, ghen ghét hận thù, nghèo đói, thất học… Có những nấm mộ kiên cố, tự sức mình không thể phá nổi. Ta hãy xin Chúa đến mở những cửa mộ, lăn những tảng đá đè nặng đời ta, để ta được sự sống dồi dào của Chúa nuôi dưỡng. Đồng thời, ta cũng phải tiếp tay với Chúa, phá đi những nấm mộ vây bọc anh chị em chúng ta, để mọi người được sống và sống dồi dào như lòng Chúa mong ước, như định mệnh Chúa dành cho ta, những người con cái Chúa.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Tôi còn bị giam cầm trong những ngôi mộ nào?

2) Tôi còn muốn xây những ngôi mộ nào để chôn vùi anh em?

3) Hôm nay tôi phải làm gì để mở cửa mộ cho tôi và cho anh em?

4) Việc Chúa cho Lagiarô chết bốn ngày sống lại có ảnh hưởng gì trên tôi?

TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Mù mà sáng, sáng mà mù

Sống trong cảnh mù loà là điều đáng sợ nhất. Thật là bất hạnh đối với một đứa trẻ ngay từ khi mở mắt chào đời đã phải sống trong tăm tối, phải chấp nhận một cuộc đời không thấy ánh sáng, không nhìn thấy vẻ đẹp của thiên nhiên, con người cũng như cỏ cây! Lúc lớn lên có thể nghe mọi chuyện, có thể sờ mó tất cả, nhưng không thể nào hình dung ra được hình dáng, màu sắc! Ở đời, khi nói về nỗi khổ thể lý của người bị mù lòa, người ta vẫn thường nói: “giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”. Đó là nói về mặt thể xác, ngoài ra, về tinh thần, con mắt còn được gọi là “cửa sổ của linh hồn”, là “ngọn đèn của thân thể” (“Đèn của thân thể là con mắt của anh. Khi mắt anh sáng, thì toàn thân anh cũng sáng. Nhưng khi mắt anh xấu, thì thân anh cũng tối. Vậy hãy coi chừng kẻo ánh sáng nơi anh lại thành bóng tối. Nếu toàn thân anh sáng, không có phần nào tối tăm, thì nó sẽ sáng hoàn toàn, như khi đèn toả sáng chiếu soi anh.” – Lc 11, 34-36).

Bài Tin Mừng hôm nay (CN IV/MC-A – Ga 9, 1-41) trình thuật về phép lạ Đức Giê-su chữa cho một người bị mù từ lúc mới sinh. Có một chi tiết rất đàng suy gẫm là theo quan niệm của người Do-thái đối với những kẻ tật nguyền bẩm sinh (đui mù, què quặt, nói chung là những khuyết tật từ trong lòng mẹ, khi sinh ra đã phải gánh chịu) đều là những kẻ có tội phải chịu những hình phạt khủng khiếp đó. Vì thế, các môn đệ mới hỏi Đức Giê-su: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?” (Ga 9, 2). Tuy nhiên, để cảnh tỉnh các môn đệ khỏi bị ảnh hưởng bởi giáo lý sai lầm ấy, đồng thời nhận chân được sự thật nơi Người Thầy của mình, nên Đức Giê-su trả lời: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh.” (Ga 9, 3).

Nội dung phép lạ lần này được thánh Gio-an tường thuật rất tỉ mỉ. Ngoài anh mù thể hiện lòng tin vào Người đã chữa lành cho mình, còn một số đông người Pha-ri-sêu không tin nên cứ tra vấn, vặn hỏi bệnh nhân (kể cả cha mẹ anh ta nữa) đủ điều, và cuối cùng trục xuất anh ra khỏi hội đường. Nghe tin ấy, Đức Giê-su gặp lại anh mù, đặt câu hỏi: “Anh có tin vào Con Người không?” để xác định niềm tin của anh. Anh mù đã sấp mình xuống tuyên xưng: “Thưa Ngài, tôi tin.” Còn đám người Pha-ri-sêu khi nghe Đức Ki-tô khẳng định: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!” (Mc 8, 39), liền ngớ người ra và hỏi lại: “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?”, khiến Đức Giê-su bảo họ: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: “Chúng tôi thấy”, nên tội các ông vẫn còn!” – Ga 9, 41).

Đức Ki-tô trả lời như thế thì cũng chẳng khác nào nói: Anh mù vì tin mà được sáng mắt, nhưng nhóm người Pha-ri-sêu mắt vẫn sáng, nhưng không tin, nên cũng chẳng khác kẻ đui mù. “Có mắt cũng như mù, có tai cũng như điếc” (tục ngữ VN), “Thấy mà không thấy – không thấy mà thấy”, đó là một nghịch lý trong cuộc sống, nhưng lại là “chuyện thường ngày ở huyện”. Nhân tình thế thái là vậy đó! Người không hiểu rõ, không thấy rõ mà vô tình làm những điều trái thường nghịch lý sẽ không cấu thành tội (như vô tình làm chết người sẽ được coi là “ngộ sát”, chẳng hạn); còn kẻ đã biết, đã thấy rõ mà vẫn làm như không thấy, cố tinh vi phạm thì bị kết án là điều tất nhiên (vd: cố tình giết người sẽ bị kết àn là “cố sát”). Câu trả lời của Đức Giê-su một lần nữa minh định điều luật trong Giao ước Si-nai: “Giết người không có mưu tính trước thì được tha, nhưng cố tình thì sẽ bị giết chết.” (Xh 21, 12-25).

Điển hình như trường hợp thánh Phao-lô với biến cố Đa-mát: Khi còn sáng mắt, nhưng vì nhiễm phải giáo lý sai lầm của nhóm luật sĩ, kinh sư Pha-ri-sêu, nên Sao-lô cũng chẳng khác chi người mù. Đến khi bị ánh sáng chói loà làm mù mắt ở Đa-mát thì lại là lúc được sáng mắt sáng lòng và trở thành một Tông đồ dân ngoại kiệt xuất Phao-lô (Cv 9, 1-19). “Mù mà sáng, sáng mà mù” là thế! Kể ra cũng thú vị, những người sáng mắt lúc nào cũng huênh hoang: “chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến.” (Ga 9, 28-29), đã khiến cho người mù cũng phải ngạc nhiên: “Kể cũng lạ thật! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi! Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.” (Ga 9, 30-33).

Những người từng đứng trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy, thì lại không biết một tí gì về Con Người đã được ông Mô-sê (nhờ được Thiên Chúa mạc khải) tiên báo. Trong khi đó, một anh mù từ lúc mới sinh (chắc chắn không được học hành và giả thử có được học thì cũng chẳng tới đâu) lại biết về Thiên Chúa còn hơn cả đám người sáng mắt, khiến họ phát khùng (“Họ đối lại: “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?” – Ga 9, 34). Chẳng cần lý luận đanh thép, lý thuyết sâu xa, mà chỉ căn cứ vào thực tế (anh được chữa khỏi bệnh mù), mà anh mù đã khiến đám Pha-ri-sêu lâm vào thế… bí, và đành giở chiêu quyền lực: trục xuất anh khỏi hội đường! Thế đấy! Như vậy thì ai sáng, ai mù thực sự đây?

Chung quy thì cũng chỉ vì vấn đề cốt tuỷ: đức tin. Anh mù được chữa lành bởi anh tin vào Con Người; mà cũng không phải chỉ riêng anh, tất cả những người bệnh hoạn, tật nguyền đến với Đức Ki-tô đều được chữa lành vì “Đức tin của anh em đã chữa lành anh em”. Còn đám người Pha-ri-sêu thì mù vẫn hoàn mù, bởi họ không tin vào Con Nguời, mà chỉ tin vào những giáo lý sai lầm như thánh Phao-lô trước khi biến cố Đa-mát xảy ra. Phép lạ chữa lành người mù bẩm sinh là dấu hiệu chứng tỏ rằng, cùng với thị giác, Chúa Ki-tô cũng muốn mở cái nhìn nội tâm, để đức tin của người tín hữu ngày càng sâu xa hơn và có thể nhận thấy nơi Người là Đấng Cứu Độ duy nhất. Chính Người soi sáng mọi tối tăm trong cuộc sống và làm cho con người sống ”như người con của ánh sáng”.

Nói đi nói lại không gì bằng mượn chính ngay lời người mắc bệnh mù nội tâm và được chữa lành, để minh hoạ: “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật. Anh em hãy xem điều gì đẹp lòng Chúa. Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối, phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng. Vì những việc chúng làm lén lút, thì nói đến đã là nhục rồi. Nhưng tất cả những gì bị vạch trần, đều do ánh sáng làm lộ ra; mà bất cứ điều gì lộ ra, thì trở nên ánh sáng. Bởi vậy, có lời chép rằng: Tỉnh giấc đi, hỡi người còn đang ngủ! Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào! Đức Ki-tô sẽ chiếu sáng ngươi!” (Ep 5, 8-14). Ước được như vậy. Amen.

JM. Lam Thy ĐVD.

TỪ VỰC THẲM CÁI CHẾT ĐẾN ÁNH SÁNG PHỤC SINH

Trong hành trình Phụng vụ, đặc biệt là những ngày tiến gần đến mầu nhiệm Vượt Qua, Giáo hội đặt chúng ta đối diện với thực tại trần trụi nhất của thân phận con người: cái chết. Nhưng đồng thời, qua các bài đọc từ Kinh Thánh hôm nay, chúng ta được dẫn đưa vào một mặc khải chấn động: Thiên Chúa của chúng ta không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là Thiên Chúa của kẻ sống.

  1. Tiếng kêu từ nỗi đau và mầu nhiệm của sự trì hoãn

Mở đầu đoạn Tin Mừng, chúng ta bắt gặp một lời cầu khẩn vừa tha thiết, vừa đầy tin tưởng: “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng” (Ga 11: 3). Hai chị em Mácta và Maria không đưa ra một lời yêu cầu cụ thể nào; họ chỉ trình bày nỗi đau trước nhan Chúa. Thánh Augustinô giải thích: “Họ không nói: xin hãy đến chữa lành; họ không dám nói điều đó, mà chỉ nói: Kìa, người mà Ngài yêu thương đang bị bệnh. Như thể muốn nói: Chỉ cần Ngài biết điều đó là đủ, Ngài không phải là người yêu thương rồi bỏ rơi người mình yêu thương.” [1] Đây là đỉnh cao của lời cầu nguyện: tin tưởng đặt nỗi khổ đau vào lòng thương xót của Đấng mình yêu mến. Có điều, phản ứng của Chúa Giêsu thật khó hiểu: “Ngài còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở” (Ga 11: 6). Tại sao Ngài lại trì hoãn khi người bạn thân đang hấp hối? Chính Chúa Giêsu cho thấy lý do: “Chúa Giêsu bảo: Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh” (Ga 11: 4).

Đức Giáo Hoàng Phanxicô giải thích thêm rằng: “Chúa Giêsu có thể làm cho người bạn Ladarô tránh được cái chết, nhưng Ngài muốn chia sẻ nỗi đau của chúng ta trước sự mất mát những người thân yêu, và trên hết, Ngài muốn chứng tỏ quyền năng của Thiên Chúa trên sự chết” (Kinh Truyền tin, ngày 29 tháng 3 năm 2020). Sự trì hoãn của Chúa không phải là sự thờ ơ, mà là để chuẩn bị cho một vinh quang lớn hơn. Chúa dường như chậm trễ, nhưng Ngài không bao giờ lỡ hẹn. Ngài trì hoãn việc cứu chữa hồi sinh, bởi vì Ngài muốn chúng ta tin vào quyền năng chiến thắng cái chết của Ngài hơn là chỉ tin vào khả năng chữa bệnh.

Sự trì hoãn này nhắc nhở chúng ta rằng, trong cuộc sống, có những lúc Thiên Chúa dường như im lặng trước nỗi đau của chúng ta. Nhưng chính trong sự im lặng đó, Ngài đang dọn đường cho một phép lạ lớn lao hơn: không chỉ là giải thoát chúng ta khỏi đau khổ, mà là đưa chúng ta vượt qua cái chết để đến với sự sống đời đời, cùng “Con Thiên Chúa được tôn vinh” (Ga 11: 4).

Nỗi tuyệt vọng của chị em Mácta cũng chính là nỗi tuyệt vọng của dân Israel trong cảnh lưu đày, được ngôn sứ Êdêkien mô tả qua hình ảnh những bộ xương khô. Khi mọi hy vọng dường như đã lụi tàn, lời Thiên Chúa vang lên như một luồng sấm sét: “Hỡi dân Ta, này chính Ta mở huyệt cho các ngươi, Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt và đem các ngươi về đất Israel” (Ed 37: 12).

Đây không chỉ là lời hứa về việc hồi hương theo nghĩa địa lý, mà là một mặc khải về quyền năng sáng tạo lại của Thiên Chúa. Ngài không chỉ an ủi người đang sống, Ngài còn có quyền năng trên cả nấm mồ. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô diễn giải: “Cái chết giống như một bức tường, ngăn cản chúng ta nhìn thấy những gì sau nó; nhưng cõi lòng chúng ta vẫn vươn ra ngoài bức tường này và mặc dù chúng ta không thể hiểu được những gì nó che giấu, chúng ta vẫn suy nghĩ về nó và tưởng tượng về nó, thể hiện bằng những biểu tượng khát vọng về sự vĩnh cửu của chúng ta. Khát vọng của con người được chôn cất cùng với tổ tiên mình chính là nỗi khát khao về một “quê hương” chào đón chúng ta sau khi kết thúc cuộc sống trần thế” (Kinh Truyền tin, 10 tháng 4 năm 2011). Lời của Êdêkien loan báo một cuộc tạo dựng mới. Khi Thiên Chúa nói Ngài sẽ đặt Thần Khí vào con người, Ngài đang hứa hẹn một sự biến đổi tận căn, nơi cái chết không còn là dấu chấm hết, mà là ngưỡng cửa của sự phục sinh thần linh. Đức Bênêđíctô tiếp tục: “Chúa Giêsu nói với Mácta: “Ta là sự sống lại và sự sống; ai tin Ta, dù chết, cũng sẽ sống” (Ga 11: 25-26). Đây chính là sự mới mẻ đích thực, tràn đầy và vượt qua mọi ranh giới! Chúa Kitô phá đổ bức tường của sự chết và trong Ngài ngự trọn vẹn sự đầy đủ của Thiên Chúa, là sự sống, sự sống đời đời. Vì vậy, sự chết không có quyền lực trên Ngài và sự phục sinh của Ladarô là dấu hiệu cho thấy quyền năng trọn vẹn của Ngài trên sự chết thể xác, mà trước mặt Thiên Chúa, giống như giấc ngủ (Ga 11:11)” (đã dẫn trên).

Chính sự liên kết này giữa Êdêkien và Tin Mừng Gioan cho thấy Chúa Giêsu chính là Đấng thực hiện lời hứa của Thiên Chúa. Ngài đến không phải để nói về sự sống lại như một lý thuyết xa vời, nhưng để hiện thực hóa quyền năng đó ngay tại cửa mồ Bêtania.

  1. “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống”

Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Mácta là một trong những đoạn văn thần học quan trọng nhất của Kitô giáo. Khi Mácta nói về sự sống lại trong “ngày sau hết” như truyền thống vẫn tin, Chúa Giêsu đã kéo tương lai đó vào hiện tại: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11: 25-26). Câu nói này thay đổi hoàn toàn quan niệm của nhân loại về sự sống và cái chết. Với Chúa Giêsu, cái chết thể lý chỉ là một giấc ngủ: “Ladarô, bạn của chúng ta, đang yên giấc; tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy đây” (Ga 11: 11). Sự sống thực sự không nằm ở hơi thở sinh học, mà nằm ở sự hiệp thông với Ngài.

Lời chất vấn của Chúa dành cho Mácta: “Chị có tin thế không?” (Ga 11: 26) cũng là lời chất vấn dành cho mỗi chúng ta hôm nay. Tin vào Chúa không phải là tin vào một phép lạ nhất thời, mà là tin rằng cuộc đời mình nằm trong tay Đấng chiến thắng tử thần.

Có một chi tiết cực kỳ cảm động và đầy ý nghĩa nhân văn trong bản văn: “Chúa Giêsu liền khóc” (Ga 11: 35). Đây là một câu ngắn trong Kinh Thánh, nhưng lại chứa đựng mầu nhiệm sâu thẳm nhất về tình yêu Thiên Chúa. Tại sao Ngài khóc khi biết mình sắp cho Ladarô sống lại? Ngài khóc vì tình bạn: Ngài thực sự yêu mến gia đình này. Ngài chia sẻ trọn vẹn nỗi đau của con người. Ngài khóc vì hậu quả của tội lỗi: Cái chết vốn không nằm trong kế hoạch ban đầu của Thiên Chúa. Nhìn thấy sự tàn phá của cái chết đối với phẩm giá con người, Thiên Chúa đã thổn thức.

Đức Giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh: “Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa gần gũi. Ngài không đứng trên cao nhìn xuống để ban ơn, nhưng Ngài bước xuống, đi vào nghĩa trang của cuộc đời chúng ta, và khóc cùng chúng ta trước những nấm mồ của hy vọng bị tan vỡ” (Bài giảng tại Nhà trọ Thánh Marta, tháng 3, 2017).

  1. “Ladarô, hãy ra khỏi mồ!”

Đỉnh điểm của trình thuật là lệnh truyền đầy quyền năng tại cửa mộ. Trước đó, Chúa Giêsu yêu cầu: “Đem phiến đá này đi” (Ga 11: 39). Mácta ngăn cản vì xác đã nặng mùi. Đây là biểu tượng của sự tuyệt vọng hoàn toàn, của sự thối rữa không thể cứu vãn. Nhưng Chúa Giêsu khẳng định: “Nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa” (Ga 11: 40).

Lời kêu gọi “Anh Ladarô, hãy ra khỏi mồ!” (Ga 11: 43) không chỉ dành cho một người đã chết 4 ngày, mà còn là tiếng gọi vang dội qua mọi thời đại dành cho những tâm hồn đang chết trong tội lỗi, trong bất an, trong ganh ghét, hận thù, tuyệt vọng.

Thánh Grêgôriô Cả đã đưa ra một diễn giải thiêng liêng tuyệt vời về sự kiện này: “Cái chết của Ladarô là một loại chết đau đớn, và được coi như một thói quen gian ác. Bởi vì sa vào tội lỗi là một chuyện, hình thành thói quen phạm tội lại là chuyện khác. Người nào sa vào tội lỗi , và ngay lập tức chịu sửa phạt, sẽ nhanh chóng được phục hồi sự sống; vì người đó chưa bị vướng mắc vào thói quen, người đó chưa được chôn cất trong mộ. Nhưng kẻ nào đã quen với tội lỗi thì bị chôn vùi, và người ta thường nói đúng về hắn rằng hắn hôi thối; vì tính cách của hắn, giống như một mùi hôi kinh khủng, bắt đầu mang tiếng xấu nhất. Tất cả những kẻ quen với tội ác, sa đọa về đạo đức đều như vậy…Chúa Giêsu có thể làm cho một người đã chết bốn ngày và đang phân hủy sống lại… đó là quyền năng của Chúa chứ không phải sức mạnh của người chết.” [2] Ladarô nằm trong mồ bốn ngày tượng trưng cho những người lún sâu trong thói quen tội lỗi đến mức linh hồn họ bắt đầu nặng mùi trước nhan Thiên Chúa. Tuy nhiên, tiếng gọi của Chúa Kitô có sức mạnh phá tan xiềng xích của thói quen đó. Ra khỏi mồ nghĩa là thú nhận tội lỗi và bước ra ánh sáng của lòng thương xót.

Sau khi Ladarô ra khỏi mồ, Chúa Giêsu nói: “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi” (Ga 11: 44). Đây là vai trò của Giáo hội: giúp những người đã được Chúa cứu sống được giải thoát hoàn toàn khỏi những tàn tích của quá khứ, của tội lỗi và của nỗi sợ hãi.

Thánh Phaolô, trong bài đọc thứ hai, cung cấp cho chúng ta cái nhìn thần học về cách thức sự sống lại này hoạt động trong chúng ta ngay lúc này, qua Thần Khí: “Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Ngài đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới” (Rm 8: 11).

Sự phục sinh của Ladarô chỉ là một sự hồi sinh vì anh ấy sẽ lại phải chết. Nhưng sự phục sinh mà Thánh Phaolô nói tới là sự tham dự vào Sự Sống của Đấng Phục Sinh, một sự sống không bao giờ tàn lụi. Thánh Augustinô khẳng định: “Vinh quang của Thiên Chúa nằm ở chỗ những ai dù đã bốc mùi hôi thối và chết bốn ngày nhưng nay được sống lại” (đã dẫn).

  1. Bài học cho chúng ta hôm nay: Hãy lăn tảng đá đi!

Suy niệm về cái chết và sự phục sinh của Ladarô, chúng ta được mời gọi nhìn vào những ngôi mộ trong cuộc đời mình. Đó có thể là một mối quan hệ đã chết từ lâu. Đó có thể là một đức tin đã nguội lạnh, có thể do nỗi thất vọng vì những thất bại chồng chất trong đời, nhưng nặng mùi cái chết tâm linh.

Chúa Giêsu vẫn đứng đó, thổn thức vì nỗi đau của chúng ta, nhưng Ngài cũng yêu cầu chúng ta một điều: “Đem phiến đá này đi” (Ga 11: 39). Thiên Chúa không làm thay chúng ta những gì chúng ta có thể làm. Lăn tảng đá của sự cứng lòng, của sự kiêu ngạo, của nỗi sợ hãi là phần việc của chúng ta. Khi chúng ta dám mở lòng mình ra, tiếng gọi phục sinh của Ngài mới có thể thấu chạm đến cõi lòng chúng ta.

Hành trình từ Bêtania đến đồi Canvê và cuối cùng là ngôi mộ trống vào sáng Chúa Nhật Phục Sinh là một lộ trình duy nhất. Ladarô là dấu chỉ dọn đường cho chính sự Phục sinh của Chúa Giêsu. Hôm nay, giữa một thế giới đầy dẫy những văn hóa cái chết, chúng ta được mời gọi trở thành những Ladarô mới: những người đã nghe tiếng Chúa, đã ra khỏi mồ, đã được cởi bỏ những băng vải của sợ hãi để bước đi trong tự do của con cái Thiên Chúa.

Đức Giám Mục Bossuet nói: “Điều quan trọng là chúng ta phải suy ngẫm những lời nói và việc làm này để được củng cố chống lại nỗi sợ hãi cái chết, nỗi sợ hãi quá lớn lao trong chúng ta đến nỗi có thể khiến người ta quẫn trí. Chúng ta phải tự chuẩn bị cho mình chống lại nỗi sợ hãi này, bằng cách suy ngẫm những lời hứa trong Tin Mừng và gắn bó với đức tin sống động của mình vào chân lý rằng Chúa Giêsu đã chiến thắng cái chết. Ngài đã làm điều đó trong trường hợp một cô gái trẻ vẫn còn nằm trên giường, con trai của một góa phụ được khiêng trên cáng, và trong trường hợp của Ladarô. Ba người được Ngài hồi sinh này vẫn là người phàm. Điều còn lại Ngài làm là chiến thắng chính sự chết. Chính nơi bản thân mà Ngài giành được chiến thắng hoàn hảo. Sau khi bị giết chết, Ngài sống lại, không bao giờ chết nữa, và không hề trải qua sự hư nát, như Thánh vịnh đã hát: “Chúa sẽ không để Đấng thánh của Chúa thấy sự hư nát” (Tv 15:10). Điều được thực hiện với Đầu sẽ được hoàn thành nơi các chi thể. Sự bất tử đã được Chúa Giêsu Kitô bảo đảm cho chúng ta.” [3]

Lạy Chúa Giêsu, Đấng là Sự Sống lại và là Sự Sống. Xin hãy đến bên ngôi mộ của lòng dạ con, nơi con đang bị chôn trong những những ham muốn, những thói hư tật xấu và tội lỗi. Xin hãy gọi tên con như Chúa đã gọi Ladarô, để con được hồi sinh trong Thần Khí, được sống một đời sống mới công chính và tràn đầy hy vọng. Amen.

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://www.ecatholic2000.com/catena/untitled-99.shtml#:~:text=11:1%E2%80%935,man%2C%20than%20to%20revive%20him

[2] https://www.newadvent.org/fathers/1701049.htm 

[3] https://catholicexchange.com/the-raising-of-lazarus-assures-us-of-eternity/

Mù lòa và mù quáng

Xuyên qua Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy có hai loại mù: mù loà của đôi mắt thể xác và mù quáng của tâm hồn, của đầu óc.

Người mù bẩm sinh trong Tin Mừng hôm nay tuy bị mù đôi mắt thể xác nhưng anh ta lại sáng suốt hơn những người Pha-ri-sêu tự cho mình tinh thông.

Trong khi đó, những người Pha-ri-sêu tự hào là người khôn ngoan thông sáng, nhưng họ đang bị mù quáng mà chẳng hay. Họ bị thành kiến che chắn trí khôn nên họ không nhận ra Đức Giê-su là Đấng cứu độ nên họ đã không được đón nhận ơn cứu độ do Ngài tặng ban.

Những người mù loà vốn rất hiền hòa. Chưa từng nghe nói người mù gây ra tội ác hay phạm pháp bất cứ ở đâu. Họ xứng đáng được mọi người tôn trọng và yêu mến.

Còn người mù quáng là những người thường gây ra lỗi lầm và tội ác nên họ thường bị người đời lên án, khinh chê.

Có nhiều hình thức mù quáng gây ra hậu quả rất tai hại:

Mù quáng vì tham lam

Sách Các Vua có thuật lại câu chuyện hoàng hậu I-dơ-ven, vợ vua A-kháp, vì tham lam muốn chiếm đoạt vườn nho của ông lão nghèo Na-vốt, đã dàn dựng một vụ án quy kết Na-vốt tội nguyền rủa Thiên Chúa và nguyền rủa đức vua, rồi tuyên án ông phải bị ném đá chết. Lòng tham lam đã làm cho hoàng hậu I-dơ-ven ra mù quáng đến độ đang tâm giết hại một ông lão nghèo vô tội để chiếm đoạt vườn nho của ông ta. (Sách Các Vua I, chương 21)

Mù quáng vì ghen tị

Sách Sa-mu-en ghi lại rằng vua Sa-un rất yêu thương Đa-vít, nhưng khi Đa-vít chặt đầu tên tướng giặc khổng lồ Gô-li-át để cứu nguy cho quân dân Ít-ra-en và quay trở về trong chiến thắng, “thì phụ nữ từ hết mọi thành của Ít-ra-en kéo ra, ca hát múa nhảy, đón vua Sa-un, với trống con, với tiếng reo mừng và tiếng não bạt. Họ vui đùa ca hát rằng: “Vua Sa-un hạ được hàng ngàn, còn Đa-vít hàng vạn”. Khi nghe lời đó, vua Sa-un uất lên vì ghen tị. Lòng ghen tị làm cho vua đâm ra mù quáng, đổi lòng yêu thương ra thù ghét và truy lùng Đa-vít khắp nơi quyết giết cho bằng được vị anh hùng kiệt xuất nầy. (Samuen I, chương 18)

Mùa quáng vì dục tình

Về sau, khi vua Sa-un qua đời, Đa-vít được lên làm vua. Đa-vít lại đâm ra mê đắm sắc đẹp của bà Bát-sê-va. Dục vọng đã làm cho vua mù quáng đến độ lập mưu giết chồng bà là Uria để chính thức cưới bà nầy làm vợ. (Samuen II, chương 11)

Nói tóm lại, tâm trí con người rất dễ trở nên mù quáng do tình dục, do lòng tham lam, kiêu căng, ghen tị… khiến người ta lún sâu vào vũng bùn tội ác lúc nào không hay.

Chứng mù quáng nầy tai hại gấp ngàn lần mù loà đôi mắt thể xác.

Hai điều tai hại do mù quáng phát sinh

Một là người mù quáng không tự biết tình trạng mù quáng của mình, nên không cảm thấy cần được cứu chữa. Thế là họ cứ bị mù quáng cho đến mãn đời; mà vì mù quáng suốt đời nên cũng thường mắc phải lầm lỗi suốt đời.

Hai là cho dù có nhận biết mình mù quáng đi nữa, người ta cũng không cho đó là điều nghiêm trọng, nên không thấy cần được cứu chữa.

Bất cứ người mù nào cũng khao khát được sáng; nhưng điều đáng tiếc là nhiều người mù quáng, vì không tự biết mình mù, nên không ước ao thoát khỏi tình trạng mù quáng hết sức tai hại của mình.

Ai trong chúng ta cũng lâm vào tình trạng mù quáng về một phương diện nào đó, vào một lúc nào đó trong đời. Vậy chúng ta hãy nguyện xin Chúa Giê-su soi sáng để chúng ta nhận thức rằng mù quáng vô cùng tai hại và cố tìm cách cứu chữa mình khỏi chứng bệnh rất nguy hại nầy.

Lạy Chúa Giê-su là ánh sáng cho trần gian, xin chiếu dọi ánh sáng Chúa vào tâm trí chúng con, cứu chúng con khỏi bị mù quáng do dục vọng gây nên, để chúng con khỏi gây ra tội lỗi, khỏi hư mất đời đời nhưng được cứu độ và được sống, sống có nhân cách cao đẹp ở đời nầy và sống viên mãn trong thế giới hồng phúc mai sau.

Linh Mục Inhaxiô Trần Ngà

Subcategories