3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

“NHÂN LOẠI SẼ KHÔNG ĐƯỢC BÌNH AN CHO ĐẾN KHI QUAY VỀ VỚI SUỐI NGUỒN TÌNH THƯƠNG CỦA CHA”

Suy niệm Lễ Kính Lòng Thương Xót Chúa (Divine Mercy)

Chúng ta thường nghe kể về tình cảm tốt, thái độ tử tế, và tấm lòng rộng rãi của người này người kia đối với những kẻ sa cơ, thất thế, hoặc gặp khốn khó giữa đường.

Mercy theo tự điển Anh-Việt của Nguyễn Văn Khôn dịch là:

Lòng thương người, thương hại, thương xót, lân ái, từ bi.

Divine Mercy: Lòng lân mẫn của Thượng Đế.

Nhứt tội nhứt xá, vạn tội vạn xá, tội gì cũng có thể lấy lòng từ bi mà khoan xá được.

Theo Longman Dictionary of American English. New Edition định nghĩa: 

Mercy: kindness, pity, and a willingness to forgive.

Nhưng những định nghĩa trên, chỉ trực tiếp nói về những cái mà con người có thể làm cho nhau để bày tỏ sự thương cảm, cảm thông, tử tế và chú trọng nhiều trong lãnh vực thể lý, hoặc tâm lý. Nó không nói lên được ý nghĩa sâu thẳm của “mercy” dưới cái nhìn tâm linh. Chỉ có Thiên Chúa mới thấu hiểu và lột tả được ý nghĩa “xót thương” vì Ngài là Thiên Chúa của tình thương. Chúng ta có thể tìm thấy và hiểu phần nào tình yêu này qua câu truyện mà chính Chúa Giêsu đã dùng để trả lời câu hỏi của người thông luật vì muốn biết giới răn trọng nhất là giới răn nào? Và ai là anh em của ông ta? Câu truyện được kể trong Phúc Âm Thánh Luca (10:25-37), về một người đi từ Giêrusalem tới Giêricô, giữa đường bị cướp trấn lột và đánh nửa sống, nửa chết. Có thầy tư tế và thầy Levi cả hai bất ngờ đi qua con đường, và cả hai đều nhìn thấy cảnh tượng này, nhưng lần lượt cả hai đã bỏ đi. Cuối cùng có một người Samarita đi qua, ông đã thấy và đã ra tay giúp đỡ. Trước hết ông xuống ngựa, lau sạch các vết thương bằng dầu và rượu. Sau đó đã vực nạn nhân lên ngựa đến một quán trọn gần nhất, ông đã chi trả trước số tiền cần thiết cho chủ quan để ông này chăm sóc cho người bị cướp, ngoài ra còn dặn rằng, với số tiền ứng trước đó nếu thiếu hụt bao nhiêu, khi về ông sẽ hoàn trả.

Qua câu truyện này, Chúa Giêsu đã có ý nói về tình thương vô biên, tình thương vượt qua mọi nguy cơ và ảnh hưởng của tội lỗi, có thể làm chết một linh hồn bằng cuộc trả giá giữa Người với Chúa Cha trên thập tự giá.

Đối với nhân loại tội tình, bị thương tích do Satan kẻ cướp giật các linh hồn, thì Chúa Giêsu chính là người thương gia của Chúa Cha đi ngang qua trần gian. Người là kẻ ngoại, có nghĩa là đến từ trời. Người không phải là những người Do Thái theo nghĩa cùng đồng chủng loại với chúng ta. Người đã xuống khỏi ngựa (ngai trời), rửa sạch những vết thương tội lỗi bằng dầu và rượu vô cùng quí giá là máu và nước của Người chảy ra từ trái tim bị đâm thâu, băng bó những vết thương đó bằng chính tình yêu của Người. Quán trọ là Giáo Hội. Người đã đem chúng ta về với nhà của mình, trong vòng tay Cha nhân hiền trên trời.   

Và cũng qua đó, Chúa Giêsu mặc khải cho nhân loại về tình thương vô biên của Thiên Chúa. Người đã cưu mang nhân loại tội tình trong trái tim nhân từ của Người. Người muốn chúng ta nhìn nhận ra ơn huệ cao quý này cho phần rỗi của mỗi người, phần rỗi chung nhân loại. Chúa nhật II sau Phục Sinh là một ghi nhớ đó.

Nó được Giáo Hội dùng để kính nhớ và suy tôn Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. (Divine Mercy). Nhờ vào cuộc khổ nạn, phục sinh của Chúa Giêsu mà nhân loại mới có dịp nhận ra Thiên Chúa tốt lành, yêu thương con người dường bao. Tình thương của Ngài siêu việt, lớn lao đến nỗi dù thần thánh trên trời, muôn loài thụ tạo dưới đất cũng không hiểu nổi, không suy thấu. Bởi vì “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Gioan 4:8). Tình yêu này làm sao con người thấu triệt, nếu không được diễn tả qua cuộc nhập thể, khổ hình, chết và phục sinh của Chúa Giêsu, Đấng Emmanuel - Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Ý tưởng thực hiện một dấu chỉ tình yêu đã đến, đặc biệt trong thời đại con người đang chìm đắm, hít thở bầu không khí của “nền văn minh sự chết” (St. Gioan Phaolô II). Chúa Giêsu từ những cuộc mặc khải với nữ tu Maria Faustina Kowalska (1905-1938), và đã được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thiết lập nhân dịp Ngài tuyên phong hiển thánh cho nữ tu Faustina vào ngày 30 tháng Tư, 2000.

Trong một mặc khải, Chúa Giêsu đã nói với nữ tu Faustina (Diary entry 699): 

“Các linh hồn đừng sợ đến gần Cha, ngay cả khi tội lỗi nó đỏ tươi như máu. Lòng thương xót Cha rộng rãi vô biên đến nỗi trí khôn của con người hoặc của thiên thần cũng không có thể đo lường được. Mọi thụ tạo đều phát sinh từ những vực sâu thẳm của lòng thương xót rất mực dịu dàng của Cha. Những linh hồn mật thiết với Cha sẽ suy niệm tình yêu và lòng thương xót Cha đến muôn đời. Lễ Kính Lòng Thương Xót xuất phát từ những tầng sâu thẳm dịu dàng của Cha. Cha mong muốn lễ này được cử hành vào Chúa Nhật sau lễ Phục Sinh. Nhân loại sẽ không được bình an cho đến khi chúng quay về Suối Nguồn Tình Thương của Cha”.     

Trong suốt 14 lần hiện ra với thánh nữ, Chúa Giêsu đều ao ước thánh lễ này được thiết lập. Danh hiệu Chúa Nhật Lòng Thương Xót (Divine Mercy Sunday) đã làm nổi bật ý nghĩa sau lễ Phục Sinh. Theo Thánh Faustina, Lễ Lòng Thương Xót đón nhận những lời hứa rất đặc biệt từ Chúa Giêsu. Một trong những lời hứa dành cho những ai có lòng tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa, là linh hồn đó sẽ được về Thiên đàng ngay sau khi chết mà không phải qua Luyện tội.  

 

 Tấm hình Lòng Thương Xót được vẽ bởi Kazimierowski (1934) theo lời kể của nữ tu Faustina

hiện được tôn kính tại Cung Thánh Chúa Tình Thương (Vilnius).

Vào ngày 22 tháng Tư 2001, một năm sau khi thiết lập Chúa Nhật Lòng Thương Xót, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tái nhấn mạnh sứ điệp của mình trong thông điệp Phục Sinh:

“Ngày kia, Chúa Giêsu đã nói với Thánh Faustina: “Nhân loại sẽ không được bình an, cho đến khi họ quay về với lòng tín thác vào Lòng Thương Xót Chúa”. Lòng Thương Xót Chúa! Đây là một hồng ân Phục Sinh mà Giáo Hội nhận lãnh từ Chúa Giêsu sống lại và trao ban cho nhân loại”. 

Phụng vụ cử hành Thánh Lễ Kính Lòng Thương Xót khởi đầu bằng lời nguyện:

“Lạy Cha trên trời và Thiên Chúa của Lòng Thương Xót. Chúng con không còn tìm kiếm Chúa Giêsu trong kẻ chết, vì Người đã sống lại và đã trở thành Chúa của Sự Sống”.

Lời cầu nguyện này liên quan đến tình thương Thiên Chúa như căn bản chính yếu trong dự án cứu độ của Thiên Chúa và nhấn mạnh niềm tin tưởng rằng qua tình thương mà Thiên Chúa đã ban Con duy nhất của Ngài để cứu chuộc nhân loại, sau sa ngã của Adam.( A Divine Mercy Resource by Richard Torretto 2010 ISBN 1-4502-3236-1 pages 58-59)

Như lời Người đã hứa, Chúa Giêsu đã đưa về trời người nữ tu nhỏ bé Faustina, đã vinh danh người nữ tu này trên bàn thờ. Và người đầy tớ sốt sắng, hăng say, nhiệt tình với sứ điệp tình thương của Người là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng được Người biệt đãi: qua đời tháng Tư 2005 trong chiều vọng Chúa Nhật Lòng Thương Xót. Ngài được tuyên phong Chân Phước vào Chúa Nhật Lòng Thương Xót, 1 tháng Năm 2011 bởi Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, vị kế nhiệm Ngài, và được tôn phong Hiển Thánh cùng với Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII cũng vào ngày Chúa Nhật Tình Thương Xót, 27 tháng Tư, 2014 bởi Đức Giáo Hoàng Phanxicô. ("Pope paves way to beatification of John Paul II"bbc.news.co.uk. January 14, 2011. Retrieved 2011-01-14.).

 

Trần Mỹ Duyệt

NHẬN BIẾT CHÚA PHỤC SINH NƠI MỌI NGƯỜI TRONG MỌI HOÀN CẢNH

Trong các trình thuật Phục Sinh, luôn có một sự căng kéo rất rõ nơi các môn đệ của Chúa Giêsu: giữa sợ hãi và hy vọng, giữa hoang mang và niềm vui, giữa bóng tối và ánh sáng. Các môn đệ đã chứng kiến cái chết của Thầy Giêsu, nên lòng họ ngập tràn bối rối và thất vọng. Thế nhưng, chính trong tình cảnh ấy, Chúa lại mở mắt họ để họ nhận ra sự thật về sự sống lại. Tin Mừng dần sáng tỏ: “Đừng sợ! Về báo cho anh em của Thầy” (Mt 28: 10). Lời mời gọi ấy không chỉ dành cho họ, mà còn cho mỗi chúng ta: từ nỗi sợ bước sang niềm tin; từ khép kín bên trong bước ra bên ngoài để loan báo Tin Mừng.

Sau biến cố thập giá các môn đệ dường như tan tác. Họ khép kín, sợ hãi, tránh né. Những câu hỏi dày vò họ: điều gì đã xảy ra? có thể tin ai? tương lai rồi sẽ ra sao? Trong khi đó, những thế lực đã kết án Chúa Giêsu vẫn bình yên vô sự, còn ngôi mộ thì bị canh giữ cẩn mật. Mọi sự dường như trở lại “bình thường”, nhưng đó là một thứ bình thường lạnh lẽo, thiếu vắng tình yêu. Giữa khung cảnh ấy, con người dễ rơi vào thất vọng: tình yêu Chúa rao giảng ở đâu? Cuộc sống còn lại ý nghĩa gì? Liệu có ai đó sẽ mang đến chút an ủi yêu thương?

Tin Mừng theo thánh Gioan cho chúng ta câu trả lời cho những câu hỏi này. Trong khi tất cả những người khác đã đóng cửa và đóng chặt trái tim mình, vẫn còn một người đang chuẩn bị cho ngày mới. Đó là Maria Mađêlêna. Bà không để cho nỗi sợ hãi chôn vùi lòng yêu mến dịu dàng thuần khiết của bà. Với một tấm lòng đơn sơ đầy tình yêu mến, bà bận rộn chuẩn bị những hương liệu có sẵn để đi ướp xác Chúa Giêsu theo tập tục địa phương. Rồi sau đó, khi mọi người còn co cụm trong nhà, thì bà ra đi “lúc trời còn tối” (Ga 20: 1). Bà ra khỏi nơi an toàn của mình để đến mộ Chúa Giêsu không hề sợ hãi, không cần che giấu lòng yêu mến của bà dành cho Ngài.

Ngày Chúa Phục Sinh cũng giống như ngày Chúa giáng sinh. Chúa sinh ra âm thầm nơi máng ăn của chiên bò, nơi chỉ có các con vật nuôi chứng kiến sự ra đời của Ngài, vì cha mẹ Ngài không tìm được chỗ trong quán trọ. Nếu có ai nhận ra việc này thì đó là những người chăn chiên, những người thân phận bé nhỏ, trông coi đàn chiên của họ ở chung quanh. “Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng sứ thần bảo họ: Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại” (Lc 2: 8-10).

Chúa sống lại cũng chính trong sự bình thường ấy. Chính nơi đó điều phi thường đã xảy ra: tảng đá chặn cửa mồ đã lăn ra: “Bà Maria Mađalêna đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ” (Ga 20: 1). Có điều bà lại nghĩ ngay rằng ai đó đã ăn cắp xác Chúa, “Bà liền chạy về gặp ông Simon Phêrô và người môn đệ Chúa Giêsu thương mến. Bà nói: Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Ngài ở đâu” (Ga 20: 1-2). Rồi thì bà thấy một người mà bà “tưởng là người làm vườn, liền nói: Thưa ông, nếu ông đã đem Ngài đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Ngài ở đâu, tôi sẽ đem Ngài về” (Ga 20: 15). Người làm vườn là một người rất đỗi bình thường mà người ta có thể thấy, hoặc không mấy khi thấy, hoặc không muốn thấy, hoặc thậm chí dễ bị bỏ qua. Một người làm vườn chỉ đang làm công việc của mình; không có gì đặc biệt ở đây. Nhưng chính nơi khuôn mặt bình thường ấy, Chúa Phục Sinh đang hiện diện. Chúa không chọn tỏ mình ra cách rực rỡ, nhưng ẩn mình trong những điều quen thuộc của đời sống. Trong những tháng ngày rao giảng Nước Trời, Chúa Giêsu đã bao nhiêu lần cho thấy Ngài yêu thương những người bình thường, những người thấp hèn, bị chà đạp, bị lãng quên.

Maria chạy về báo tin cho Phêrô và Gioan. Hai ông chạy ra mộ. Gioan đến trước, nhưng nhường cho Phêrô vào trước. Tại sao Gioan không vào mộ trước? Xét cho cùng, Phêrô là một người lãnh đạo. Trước đây, ông thường xông pha vào những tình huống nguy hiểm. Ông là người duy nhất nhảy ra khỏi thuyền để đi đến với Chúa Giêsu tên mặt biển. Ông bị chìm, nhưng có sao đâu? Ít nhất ông đã cố gắng! Còn bây giờ, trước ngôi mộ trống trơn của Chúa Giêsu, hẳn Phêrô phải nghĩ: “To chuyện rồi”. Ông quan sát kỹ lưỡng và thấy những băng vải được xếp lại, nhưng chưa hiểu. Vì thế, ông không thể vội vàng tuyên bố hoặc hành động thế nào, theo cảm tính sốc nổi như xưa. Ông cần phải suy nghĩ tường tận và cân nhắc thấu đáo mọi thứ. Khi Chúa Giêsu làm cho Ladarô hồi sinh, người ta phải cởi bỏ tấm vải liệm khỏi Ladarô. Còn tấm vải liệm của Chúa Giêsu được cuộn lại và đặt bên cạnh, phản chiếu quyền năng của Ngài trên sự chết. Nếu tôi đứng ở ngưỡng cửa bên cạnh lối vào như Gioan và nhìn chằm chằm vào ngôi mộ trống đó, liệu tôi có hiểu được sự khác biệt giữa sự Phục sinh của Chúa Giêsu và sự hồi sinh của Ladarô không? Gioan bước vào, “ông đã thấy và đã tin” (Ga 20: 8). Cùng một dấu chỉ, nhưng phản ứng khác nhau: có người tin, có người còn chờ đợi. Đức tin không bị ép buộc; nó là lời đáp tự do của con tim. Chính tình yêu giúp Gioan nhận ra điều mà lý trí chưa kịp hiểu.

Điều này cũng xảy ra nhiều lần sau đó. Trên đường Emmau, hai môn đệ không nhận ra Chúa cho đến khi Ngài bẻ bánh: “Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Ngài, nhưng Ngài lại biến mất” (Lc 24: 30-31). Bên bờ hồ, các môn đệ không nhận ra Chúa Giêsu đứng trên bờ cho đến khi Ngài trao bánh và cá: “Anh em đến mà ăn! Không ai trong các môn đệ dám hỏi Ông là ai?, vì các ông biết rằng đó là Chúa” (Ga 21: 12-13). Chúa Phục Sinh không xa lạ, rất quen thuộc thường ngày. Ngài đến như một người đồng hành, một người phục vụ, một con người rất đỗi bình thường. Tuy nhiên lúc này Ngài lại không dễ nhận ra trong con mắt người thường của các môn đệ, nhưng bị che khuất bởi một điều gì đó “linh thiêng siêu phàm.”

Vì thế, đời sống đức tin của chúng ta cũng diễn ra trong cùng một nhịp điệu ấy. Có lúc chúng ta đầy tin tưởng, có lúc lại hoang mang. Có lúc gần Chúa, có lúc thấy xa cách. Ngôi mộ trống là một dấu chỉ mở ra hai hướng: hoặc tin vào sự sống mới, hoặc ở lại trong thất vọng. Chính Chúa đã nói: “Thầy là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11: 25). Nhưng đón nhận lời ấy hay không, là tùy nơi mỗi người.

Chính vì vậy chúng ta cùng có mặt cử hành Lễ Phục Sinh. Chúng ta cùng nhau bước đi như một dân tộc có đức tin. Đức tin Công giáo của chúng ta là đức tin chung cho mọi người. Tình yêu và sự sống đã mở đường, dù có thể vẫn còn đó những tổn thương, sợ hãi, mất mát và đau đớn của mình. Nhưng ngôi mộ đã trống rỗng, tảng đá đã được lăn đi. Những tấm vải liệm đã được gấp lại và để lại phía sau.

Một câu hỏi được đặt ra cho chính mình: tôi có nhận ra Chúa đang sống động trong những khuôn mặt tôi gặp mỗi ngày không? Trong người già, người trẻ, người phục vụ, người lao động, hay cả những người làm tôi khó chịu? Khi ai đó chen lấn, làm phiền, hiểu lầm hay làm tổn thương tôi, liệu tôi còn thấy được hình ảnh của Chúa nơi họ không? Chúa Phục Sinh có thể đang đến với tôi qua chính những con người và hoàn cảnh rất đời thường ấy.

Lễ Phục Sinh vì thế không chỉ là một biến cố đã qua, nhưng là một kinh nghiệm cần được sống mỗi ngày. Khi chúng ta biết yêu thương, tha thứ, xây dựng công lý và hòa giải, thì sự sống của Chúa lại tiếp tục bừng lên. “Ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1 Ga 4: 16). Mỗi hành động bác ái, mỗi cử chỉ cảm thông, đều là dấu chỉ của Đấng Phục Sinh đang hoạt động.

Ngôi mộ trống nhắc chúng ta rằng không có gì là kết thúc. Ngay cả cái chết cũng không phải là điểm cuối. Tình yêu của Thiên Chúa mạnh hơn sự dữ, mạnh hơn bạo lực, mạnh hơn mọi thất bại. “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1: 5). Đó là niềm hy vọng nền tảng của người Kitô hữu.

Nhưng Tin Mừng cũng nói rõ: “lúc trời còn tối” (Ga 20: 1). Ánh sáng phục sinh đã bắt đầu, nhưng không phải ai cũng nhận ra ngay. Maria đã đi trong bóng tối mà không hiểu hết. Phêrô cũng vậy. Chỉ có Gioan là “thấy và tin” (Ga 20: 8). Điều đó nhắc chúng ta rằng hành trình đức tin luôn có những khoảng thời gian mờ tối. Không phải lúc nào cũng rõ ràng, nhưng chính trong bóng tối ấy, niềm tin được thanh luyện.

Trong buổi bình minh kỳ lạ này, chúng ta cầu xin cho bóng tối, vốn dĩ chắc chắn sẽ bao trùm lên từng người khi chúng ta kết thúc của cuộc đời mình, bị vượt qua ngay từ hôm nay, để ánh sáng của Đấng Phục Sinh như bình minh soi tỏ và xóa bỏ cõi tối tăm của các ngôi mộ phủ lấp sự sống. Một xác chết không còn máu, bị đâm xuyên bởi một ngọn giáo, đã sống lại với một sự sống mới đầy kỳ diệu. Chúa Giêsu đã Phục Sinh, đã giữ lời hứa của Ngài. Cái chết, kẻ thù lâu đời nhất của con người đã bị khuất phục.

Cuối cùng, câu hỏi quan trọng nhất vẫn là: điều gì đang ngăn cản tôi tin sâu xa hơn? Là nỗi sợ, là quá khứ, là thất bại, hay là sự khép kín của chính mình? Phục Sinh là lời mời gọi bước ra khỏi những “ngôi mộ” ấy. “Tảng đá đã lăn khỏi mộ” (Ga 20: 1). Con đường đã mở. Vấn đề còn lại là tôi có dám bước ra, để nhận ra Chúa đang sống và đang hiện diện trong mọi hoàn cảnh, nơi mọi con người hay không?

Lạy Chúa Kitô Phục Sinh, Chúa đã chiến thắng cái chết để mang lại niềm hy vọng vĩnh cửu. Xin mở mắt tâm hồn chúng con để chúng con nhận ra sự hiện diện của Chúa trong những người bình thường nhất, trong những hoàn cảnh tưởng chừng như bế tắc nhất. Xin cho đôi tay con biết xoa dịu những vết thương của anh chị em, cho đôi chân con biết dấn thân đến những nẻo đường của sự hòa giải, và cho trái tim con luôn rộn rã khúc ca Alleluia, không chỉ bằng môi miệng, mà bằng chính cuộc sống phục vụ của con. Chính Chúa đã phán: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Ta, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Ta, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11: 25-26). Amen.

Phêrô Phạm Văn Trung

ĐỨC GIÊ-SU PHẢI TRỖI DẬY TỪ CÕI CHẾT

HIỆP SỐNG TIN MỪNG

CN PHỤC SINH ABC

Cv 10,34a.37-43; Cl 3,1-4; Ga 20,1-9

 

I. HỌC LỜI CHÚA

1.TIN MỪNG : Ga 20,1-9

(1) Sáng sớm ngày Thứ Nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá lăn khỏi mộ. (2) Bà liền chạy về gặp Simon Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. bà nói : “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu ?”. (3) Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. (4) Cả hai người cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. (5) Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó nhưng không vào. (6) Ông Si-mon Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, (7) và khăn che đầu, khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. (8) Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. (9) Thật vậy, trước đó hai ông chưa hiểu rằng : Theo Kinh Thánh,  Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.

2.Ý CHÍNH :

Gio-an viết Tin Mừng nhằm mục đích “Để anh em tin rằng  Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người” (ga 20,31). Riêng đoạn Tin Mừng hôm nay, Gio-an cho thấy Đức Giê-su thực sự đã từ cõi chết sống lại như Người đã báo trước.

3.CHÚ THÍCH :

– C 1 : + Ngày Thứ Nhất trong tuần : Theo Sáng Thế Ký, thì một tuần lễ có bảy ngày. ngày Thứ Nhất là ngày sau ngày Sa-bát và bắt đầu một tuần lễ. Về sau, Giáo Hội dựa vào việc Chúa Phục Sinh hiện ra vào ngày Thứ Nhất, nên gọi là ngày Chúa Nhật hay Ngày Của Chúa. +sáng sớm… lúc trời còn tối : Về thời gian khi các phụ nữ ra thăm mộ, các Tin Mừng có những diễn tả hơi khác nhau : Ở đây Gio-an viết : “Sáng sớm ngày Thứ Nhất trong tuần, lúc trời còn tối” (x. Ga 20,1); Còn Mát-thêu viết : “Sau ngày Sa-bát, khi ngày Thứ Nhất trong tuần vừa ló rạng (x. Mt 28,1); So với Mác-cô : “Sáng tinh sương ngày Thứ Nhất trong tuần, lúc mặt trời hé mọc” (x. Mc 16,2) ; Riêng Lu-ca lại viết : “Ngày Thứ Nhất trong tuần, vừa tảng sáng” (x. Lc 24,1). + Ma-ri-a Mác-đa-la : Mác-đa-la là một thị trấn nằm trên bờ phía tây biển hồ Ghen-nê-xa-rét. Là quê của bà Ma-ri-a. Bà đã từng bị 7 quỷ ám trước khi theo Chúa Giê-su (x. Lc 8,2). Bà là một trong những phụ nữ đầu tiên đã ra thăm mộ Chúa (x. Ga 20,1; Mt 28,1; Lc 24,10). Trước đó, bà đã can đảm đứng gần thập giá (x. Ga 19,25; Mt 27,56) và đã chứng kiến hai môn đệ mai táng Thầy trong mồ (x. Mt 27,61; Mc 15,47).

– C 2 : + Bà liền chạy về gặp ông Si-mon Phê-rô : Câu này nói lên vai trò quan trọng đặc biệt của Phê-rô là người đứng đầu Nhóm Mười Hai. Do đó, Ma-ri-a Mác-đa-la cần phải báo cáo với ông trước tiên về việc xác Thầy biến mất. + Và người môn đệ Đức Giê-su thương mến : Cách nói “môn đệ Đức Giê-su thương mến” là kiểu nói riêng trong Tin Mừng Gio-an. Đây là cách tác giả nói về mình một cách khiêm tốn khi không muốn nhắc đến tên của mình. + Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ và chúng tôi không biết : Khi thấy mồ trống, Ma-ri-a Mác-đa-la không nghĩ đến việc Chúa sống lại như nhiều lần Người đã báo trước, mà bà chỉ theo suy luận tự nhiên để cho rằng ai đó đã đến mang xác Thầy ra khỏi mồ. Từ “Chúng tôi” trong câu này ám chỉ Ma-ri-a không đi ra mộ Chúa một mình mà đi chung với mấy bà khác nữa (x. Mt 28,1).

-C 3-4 : + Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ : Khi được các phụ nữ báo tin mộ trống và xác Thầy biến mất, hai môn đệ nòng cốt là Phê-rô và Gio-an liền tức tốc chạy ra mộ để kiểm tra thực hư. điều đó cho thấy lòng nhiệt thành và ý thức trách nhiệm trổi vượt của hai ông. + Môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước : Lý do Gio-an chạy nhanh hơn và đến mộ trước Phê-rô đơn giản là vì ông trẻ hơn nên khỏe và chạy nhanh hơn Phê-rô, và có lẽ cũng vì nôn nóng do yêu mến Thầy nhiều hơn.

– C 5-6 : + Băng vải còn ở đó : Đây là tấm vải lớn bao bọc toàn thân Đức Giê-su. Khăn này theo truyền thuyết còn được lưu giữ tại nhà nguyện thánh Gio-an ở Tu-ri-nô miền Bắc nước Ý. + Nhưng không vào : Gio-an không vào có thể do ông tôn trọng và nhường cho Phê-rô là đàn anh vào trước mình. Nhưng đúng hơn có lẽ do ông cảm thấy bàng hoàng trước sự kiện cửa mồ rộng mở và mải lo suy nghĩ về những tấm khăn để lại, đủ thời gian cho Phê-rô theo sau kịp chạy đến nơi. + Si-mon Phê-rô … vào thẳng trong mộ : Phê-rô tính nóng nảy nên lập tức bước vào trong mộ.

– C 7-9 : + Và khăn che đầu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi : Bên trong mộ các khăn liệm xác vẫn còn để lại, khác với trường hợp La-da-rô khi sống lại ra ngoài trong tình trạng “chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn” (Ga 11,43-44). Điều này cho thấy Đức Giê-su không cần ai giúp đỡ khi trỗi dậy ra khỏi mồ. Người đã có thể tự lăn tảng đá che kín mộ ra thì cũng có thể tự tháo gỡ các khăn liệm và khăn che mặt như vậy. Sự kiện khăn còn để lại cho Gio-an thấy Thầy Giê-su đã thực sự sống lại. Vì không kẻ trộm nào lại bỏ công sức và thời gian để làm một việc vô ích là cởi các dây vải ra và xếp gọn để vào một chỗ rồi mới đem xác trần đi cả ! + Ông đã thấy và đã tin : Dấu chỉ ngôi mộ trống và các băng vải liệm xác được xếp gọn lại đã giúp Gio-an suy luận và đạt tới đức tin vào mầu nhiệm Đức Giê-su từ cõi chết sống lại. +Trước đó hai ông chưa hiểu rằng : Theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết : Trước khi thấy các dấu chứng vừa nói thì Gio-an và các tông đồ đều không tin Thầy các ông sẽ sống lại, dù Người đã báo trước  ba lần (x. Mt 16,21; 17,23; 20,19). Nhưng khi thấy các dấu chứng như mồ trống, các khăn vải liệm xác, dây băng được cuộn lại riêng một chỗ, thì các ông đã nhớ lại những lời Thánh Kinh được ứng nghiệm nơi Đức Giê-su và tin Người đã thực sự sống lại (x.Tv 16,10; Tv 2,7; Hs 6,2).

4.CÂU HỎI :

1) Tại sao ngày nay người ta gọi ngày Thứ Nhất trong tuần là Chúa Nhật ? 2) Về thời điểm bà Ma-ri-a Mác-đa-la ra thăm mộ Chúa, so sánh bản tường thuật của 4 tác giả Tin Mừng khác nhau thế nào ? 3) Bạn biết gì về thân thế của bà Ma-ri-a Mác-đa-la ? 4) Bà đã báo tin xác Thầy biến mất cho ai ? Tại sao ? 5) Qua câu nói với Phê-rô và Gio-an, bà Ma-ri-a Mác-đa-la có tin việc Thầy Giê-su đã phục sinh hay không ? 6) Hành động chạy nhanh ra mộ của Phê-rô và Gio-an cho thấy tinh thần trách nhiệm của 2 ông thế nào ? 7) Tại sao Gio-an chạy nhanh hơn Phê-rô ? 8)Tại sao ông Gio-an đến mộ trước Phê-rô mà không vào bên trong mộ ngay ? 9) Khi thấy hiện tượng mộ trống, băng vài và khăn che đầu được xếp gọn, hai ông đã tin gì về mầu nhiệm Đức Giê-su sống lại ?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1.LỜI CHÚA : Ông đã thấy và đã tin (Ga 20,8).

2.CÂU CHUYỆN :

1) VỀ SỨ VỤ RAO GIẢNG TIN MỪNG PHỤC SINH :

Sau khi chịu chết trên thập giá, Đức Giê-su đã sống lại và vào trong vinh quang. Tuy vậy, trên tay chân và cạnh sườn Người vẫn còn mang những dấu tích đau thương từ những cây đinh nhọn và lưỡi đòng đâm thâu. Một vị thiên thần đã lên tiếng hỏi Đức Giê-su rằng : “Chắc Chúa đã phải chịu muôn vàn đau khổ nhục nhã do loài người dưới thế gây ra ?” Người đáp : “Đúng vậy !” Thiên thần hỏi tiếp : “Có phải tất cả con cái loài người đều biết Chúa đã chịu đau khổ và chịu chết để đền thay các tội lỗi của họ không ?” Chúa trả lời : “Chưa đâu, mới chỉ có một số ít người nhận biết mà thôi”. Thiên thần lại nói : “Thế thì Chúa đã làm gì để họ nhận biết ơn cứu độ đó ?”  Chúa đáp : “Ta lại đi loan báo Tin Vui cho những người khác, đến khi nào tất cả mọi người trên địa đầu đều được nghe Tin Mừng cứu độ ấy mới thôi”. Vị thiên thần đã hiểu rõ tính bốc đồng của loài người và nghi ngờ họ nên hỏi tiếp: “Giả như Phê-rô, Gio-an và các Tông đồ quên thi hành sứ mệnh rao giảng đó thì sao ? Nếu các tín hữu các thế hệ sau này có lúc nào đó gặp phải những bách hại chống đối của kẻ gian ác mà chán nản buông xuôi thì sao ? Chúa có lập thêm một chương trình cứu độ nào khác nữa thôi ?” Chúa Giê-su trả lời: “Ta sẽ không bao giờ lập ra thêm một chương trình cứu độ nào khác nữa ! Ta đã biết trước tính khí con cái loài người thường nhát đảm sợ sệt và bất định, nên đã thổi hơi ban sức mạnh Thần Khí của Ta cho họ, để giúp họ thi hành sứ mệnh, và Ta hoàn toàn tin tưởng họ sẽ chu toàn được sứ mệnh đó”.

2) ĐƯỢC PHỤC SINH NHỜ SỐNG THEO LỜI CHÚA DẠY :

Cuốn phim “Chiếc cầu sông Quai” diễn tả câu chuyện phục sinh tại một trại tù như sau:

Vào thời đệ nhị thế chiến, những người lính đồng minh bị quân đội Nhật bắt làm tù binh, được đem tới vùng biên giới Miến Điện và Thái Lan để xây dựng tuyến đường sắt vận chuyển vũ khí. Cuộc sống ở đây thật khắc nghiệt. Họ bị cưỡng bức lao động dưới cái nóng như đổ lửa, có khi lên tới những 49 độ. Họ bị đối xử một cách tàn thệ. Chính cuộc sống khắc khổ này đã làm cho họ trở nên những con người độc ác. Họ cư xử với nhau bằng luật rừng « Mạnh được yếu thua », trộm cắp, nghi ngờ và làm tay sai chỉ điểm nhau cho bọn lính cai tù.

Thế rồi một điều khó tin đã xảy ra: Có hai tù nhân nọ, đã tổ chức cho những bạn tù của mình thành một nhóm học hỏi Lời Chúa. Và nhờ sự học hỏi này, mà Lời Chúa bắt đầu thấm vào tâm hồn họ, để rồi chính họ khám phá ra Đức Ki-tô đang sống giữa họ. Ngài hiểu và cảm thông với nỗi đau của họ, bởi vì Ngài cũng đã từng sống vất vả, đã từng chịu cảnh đói khát mệt mỏi, đã từng bị môn đệ phản bội và đã từng bị bọn lính Rô-ma đánh đòn... Từ đó, tất cả những lời Đức Giê-su nói và những việc Ngài làm đều mang một ý nghĩa mới và trở nên sống động đối với các tù nhân. Họ không còn nghĩ mình là nạn nhân của một cuộc chiến dã man. Họ không còn chỉ điểm và trộm cắp của nhau, nhưng đối xử với nhau bằng tình thương yêu và nhất là họ bắt đầu cầu nguyện cho nhau.

Từ đó, trong trại tù thỉnh thoảng có những tiếng hát vui tươi thay cho sự thinh lặng căng thẳng, giống như sự khác biệt giữa cái chết và sự phục sinh. Nói cách khác, sự biến đổi xảy ra trong trại tù chính là một lễ phục sinh, là một phép lạ làm cho họ tin tưởng lẫn nhau thay vì nghi ngờ nhau. Làm cho họ biết chia sẻ với nhau thay vì trộm cắp. Làm cho họ biết giúp đỡ nhau thay vì tìm cách chỉ điểm làm hại lẫn nhau.

3) TÌNH YÊU MẠNH HƠN SỰ CHẾT :

Một cuốn phim mang tựa đề “Thế Giới Trong Tăm Tối” diễn tả câu truyện về một nhà khảo cổ danh tiếng tổ chức một cuộc khai quật khoa học ở Giê-ru-sa-lem.

Ngọn đồi Gôn-gô-tha được cẩn thận đào bới, kể cả những phiến đá và các hang động của một nghĩa trang bên cạnh cũng được thăm dò khám xét kỹ lưỡng. Vì theo Tin Mừng Thánh Gio-an, xác của Chúa Giê-su được chôn cất trong một phần mộ gần nơi Ngài bị án tử hình Thập giá. Sau bao công khó đào bới khám xét, một ngày kia nhà khảo cổ tuyên bố : “Tôi đã tìm được xác ông Giê-su”. Rồi ông tổ chức một cuộc họp báo rầm rộ, quy tụ hàng trăm ký giả và nhiếp ảnh viên để trình bày kết quả mỹ mãn của bao ngày tháng đào bới khảo cứu vất vả. Ông đã trưng dẫn trước mặt mọi người một xác người đã khô đét, nhưng còn có thể nhận ra là tay chân của xác người này bị đâm thủng, cạnh sườn bị đâm thâu và cả những dấu chứng tỏ thân xác ấy bị nhuốm máu qua những vết in trên tấm khăn liệm xác.

Cuốn phim quay lại cảnh mọi người im lặng theo dõi bài thuyết trình của nhà khảo cố. Tình cờ có một phụ nữ phát biểu lớn tiếng : “Đây là sự thật hiển nhiên. Ông ta bị đóng đinh, đã chết và đã được táng xác” và nhà khảo cổ tiếp lời : “Vâng, đúng thế, bị đóng đinh, chết và được an táng. Nhưng làm gì có chuyện Phục Sinh, bởi vì xác ông ta vẫn còn nằm đây”.

Tiếp đến, cuốn phim diễn tả hậu quả của cuộc tìm được xác ông Giê-su :

Không ai còn mừng lễ Phục Sinh nữa.

Một linh mục tắt đèn Nhà Chầu, cất Mình Thánh Chúa và đóng cửa nhà thờ.

Chuông các thánh đường im tiếng.

Các nữ tu cởi khăn trùm đầu.

Thánh giá tại nhiều nơi bị hạ xuống.

Đèn bên những ngôi mộ bị dập tắt.

Thế giới chìm đắm trong màn đêm u tối dày đặc.

Cuốn phim kết thúc với cảnh chính nhà khảo cổ đang hấp hối. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, ông ta đã thú nhận : “Tôi đã đánh lừa thế giới. Chính tôi đã làm giả xác của ông Giê-su và bí mật đặt vào trong mộ mấy năm trước khi khởi sự cuộc đào bới tìm kiếm này”.

Sau lời tuyên bố đó là cảnh hàng ngàn người tuôn đến ngôi mộ thánh ở Giê-ru-sa-lem như chúng ta chứng kiến hàng năm trong Tuần Thánh. Những ngọn nến được thắp lên và các tín hữu mang những ngọn nến được thắp sáng, ngọn nến của niềm hy vọng đi khắp nơi soi sáng con đường tăm tối. Chuông các nhà thờ ngân vang như báo tin Chúa Giê-su đã Phục Sinh : Tình yêu mạnh hơn tội lỗi. Sự sống mạnh hơn cái chết.

3. SUY NIỆM :

Bằng lối văn súc tích và hàm chứa những tư tưởng sâu sắc, Tin Mừng Gio-an đã mô tả cuộc hành trình đức tin và đức mến của ba nhân vật quan trọng trong Tin Mừng Phục Sinh hôm nay như sau :

1) CHÍNH LÒNG MẾN ĐÃ THÚC BÁCH MA-RI-A MÁC-ĐA-LA ĐI TÌM CHÚA :

Niềm vui Phục Sinh khởi đầu bằng việc bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi thăm mộ ngay từ sáng tinh sương ngày Thứ Nhất trong tuần. Bà hốt hoảng khi thấy tảng đá che cửa mộ đã bị lăn sang một bên và xác Thầy trong mộ biến mất. Cũng như chính lòng mến đã làm cho bà thêm can đảm đứng dưới chân thập giá (x. Ga 19,25), và ở lại chứng kiến việc 2 môn đệ an táng Thầy trước đó (x. Mt 27,61), thì giờ đây lòng mến đó lại thôi thúc bà cùng mấy bà khác đem theo dầu thơm ra mộ để ướp xác Thầy theo phong tục Do thái (x. Mc 16,2). Khi thấy mộ trống, Ma-ri-a hốt hoảng chạy về báo tin cho hai môn đệ Phê-rô và Gio-an (x. Ga 20,2). Theo bà suy nghĩ thì ai đó đã đến lấy mất xác Thầy và bà không biết họ đã để Thầy ở đâu (x. Ga 20,13.15). Ma-ri-a không hề nghĩ rằng Thầy đã phục sinh, mà bà chỉ mong sao tìm lại được xác Thầy để mang về chôn lại trong mộ mà thôi. Sau khi Phê-rô và Gio-an chạy ra mộ rồi trở về, thì một lần nữa, do lòng mến thôi thúc, Ma-ri-a lại quay ra mộ mà than khóc. Trong lần ra mộ thứ hai này, bà đã trở thành người đầu tiên gặp được Chúa Phục Sinh hiện ra. Người còn trao cho bà sứ vụ đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho các tông đồ như sau : “Hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ rằng : Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em” (Ga 20,17).

2) CHÍNH LÒNG MẾN ĐÃ GIÚP GIO-AN NHẬN BIẾT CHÚA PHỤC SINH :

Gio-an là một trong bốn môn đệ được Thầy kêu gọi đầu tiên (x Mt 4,21). Là một trong ba môn đệ được chứng kiến Thầy biến hình (x Mt 17,1) và cũng là người môn đệ được Thầy yêu mến nhất (x Ga 13,23). Tình yêu đối với Thầy đã thôi thúc ông, làm cho ông trở thành người can đảm hơn cả: Không bỏ chạy như các môn đệ khác, nhưng âm thầm theo dõi các sự kiện xảy ra từ lúc Thầy bị bắt đến khi bị xét xử giữa hai tòa án đạo và đời; Can đảm đứng dưới chân thập giá để chứng kiến giờ phút cuối cùng của Thầy và được Thầy trăn trối Đức Ma-ri-a làm Mẹ của mình và đón Mẹ về nhà mà phụng dưỡng thay cho Thầy (x Ga 19,27). Cũng do tình yêu thôi thúc mà Gio-an đã trở thành người môn đệ đầu tiên trong Nhóm Mười Hai nhận ra Chúa Phục Sinh tại biển hồ Ti-bê-ri-a (x Ga 21,7). Cũng chính tình yêu ấy đã thúc bách Gio-an chạy nhanh hơn 0và đạt đến đức tin trước Phê-rô (x Ga 20,8).

3) CHÍNH LÒNG MẾN LÀM PHÊ-RÔ ĐƯỢC TRAO QUYỀN CHĂN CHIÊN :

Phê-rô là một trong bốn môn đệ đã theo Đức Giê-su trước hết (x. Mt 4,18-20). Ông đã tình nguyện bỏ hết mọi sự mà đi theo Thầy (x. Mt 19,27-29; Lc 18,28-30). Ông luôn được xếp đứng đầu danh sách Nhóm Mười Hai (x Mt 10,2). Ông còn là một trong ba môn đệ được nhìn thấy Thầy biến hình trên núi cao (x Mt 17,1), được chứng kiến phép lạ Người cho bé gái mới chết sống lại (x Lc 8,51), được ở gần Đức Giê-su khi Người hấp hối trong vườn Ghết-sê-ma-ni (x Mt 26,37). Trong thời gian rao giảng Tin Mừng,  Đức Giê-su thường đến ở trọ tại nhà ông Si-mon Phê-rô tại thành Ca-phác-na-um (x Mc 1,29). Có lần Phê-rô đại diện anh em tuyên xưng đức tin “Thầy chính là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Nhờ đức tin đó, Phê-rô đã được khen có phúc, và được Thầy hứa sẽ xây Hội Thánh trên nền tảng đức tin vào Đức Giê-su vững chắc như đá của ông. Người cũng trao quyền cầm buộc và tháo cởi cho ông (x Mt 16,17-19). Ông còn được  trao sứ mệnh củng cố đức tin cho anh em sau khi trở lại (x. Lc 22,31-32). Dù còn nhiều khuyết điểm như: bị Thầy nặng lời quở trách vì dám khuyên Thầy đừng chấp nhận con đường thập giá (x Mt 16,22-23), hoặc có lúc ông đã bị Thầy trách kém lòng tin (x Mt 14,31) hay trách khi ông không muốn cho Thầy rửa chân (x Ga 13,6-8). Phê-rô còn bị trách khi quá tự tin vào sức riêng của mình (x Mt 26,33-35). Nhất là ông đã tỏ ra hèn nhát chối Thầy ba lần, dù đã được Thầy cảnh báo trước đó (x Mt 26,69-75).

Nhưng bù lại Phê-rô đã có lòng yêu mến Thầy hơn ai hết. Lòng mến của ông thể hiện qua thái độ dứt khoát từ bỏ nghề chài lưới và chấp nhận theo Thầy làm nghề chài lưới các linh hồn (x Mt 4,18-20). Ông cũng thường được Đức Giê-su hỏi ý kiến như: Thầy trò có nên nộp thuế Đền thờ không ? (x Mt 17,24-27). Có lần ông hỏi ý Đức Giê-su về số lần phải tha thứ cho anh em (x Mt 18,21). Ông cũng đại diện anh em để tuyên xưng đức tin và thề quyết trung thành với Thầy đến cùng (x Ga 6,68-69). Ông can đảm rút gươm chém đứt tai tên đầy tớ của thượng tế khi chúng đến bắt Thầy (x Ga 18,10). Ông không chạy trốn như các ông khác mà đi theo Gio-an theo dõi diễn tiến tòa án xét xử Thầy (x Ga 18,15). Trong Tin Mừng hôm nay, khi nghe các phụ nữ báo tin xác Thầy bị mất, Phê-rô cùng Gio-an chạy ra mộ để kiểm chứng thực hư. Trước sự kiện mồ trống, các khăn vải liệm xác vẫn còn, Phê-rô đã tin Thầy sống lại chứ không bị kẻ trộm lấy xác (x Ga 20,8-9). Sau đó ông còn được Chúa Phục Sinh hiện ra trước anh em Nhóm Mười Một (x Lc 24,34; 1 Cr 15,5). Khi được Gio-an mách bảo Người mặc áo trắng đứng trên bờ hồ là Thầy, Phê-rô vội khoác áo vào rồi nhảy xuống biển bơi vào bờ để mau được gặp Thầy (x Ga 21,7). Ông cũng tuyên xưng lòng mến ba lần và được Thầy trao cho sứ vụ chăn dắt chiên con chiên mẹ và chăn dắt cả đàn chiên là Hội Thánh (x Ga 21,15-17). Ông còn chứng tỏ lòng mến tột cùng khi sẵn sàng chịu chết để làm chứng cho thầy (x Ga 21,18-19).

4) THỰC HÀNH ĐỨC TIN VÀ ĐỨC MẾN HÔM NAY :

Chính lòng mến Chúa đã làm cho Ma-ri-a Mác-đa-la ăn năn sám hối tội lỗi, ra thăm mộ đầu tiên và đã được Chúa Phục Sinh hiện ra trao cho sứ vụ loan Tin Mừng cho các tông đồ. Cũng chính lòng mến Thầy của Gio-an đã làm cho ông nhận ra Thầy trước anh em và thấy được ý nghĩa của những sự kiện dẫn đến mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Giê-su. Lòng mến  cũng làm cho ông Phê-rô luôn gắn bó mật thiết với Thầy, hy sinh mọi sự để đi theo làm môn đệ của Thầy. Dù có lúc yếu đuối sa ngã phạm tội, nhưng ông đã sớm hồi tâm sám hối trở về và được Thầy tín nhiệm đặt làm Đá Tảng đức tin, có nhiệm vụ củng cố đức tin cho các anh em (x Lc 22,32), và còn được Chúa Phục Sinh trao quyền chăn dắt đoàn chiên Hội Thánh.

Đối với các tín hữu chúng ta, lòng mến rất cần để ta khỏi bị thất vọng hay hốt hoảng khi gặp đau khổ thất bại trên đường đời. Cuộc sống chúng ta nhiều lúc giống như một ngôi mộ trống rỗng, khi những gì chúng ta yêu quý nhất hoặc những người thân yêu nhất của mình không còn, chúng ta thường chạy đôn chạy đáo đi tìm người chết trong nước mắt đau thương như Ma-ria Mác-đa-la xưa (x Ga 20,11.13). Nhưng cái chết đã không giam hãm được sự sống: Sự sống đã trỗi dậy từ cõi chết; Ánh sáng đã bừng lên từ bóng tối tử thần;Tình yêu đã chiến thắng hận thù và Tin Mừng Phục Sinh của Chúa Ki-tô sẽ được Hội Thánh loan báo đi khắp thế gian như lệnh Người truyền trước khi lên trời (x Mt 28,19).

4.THẢO LUẬN :

Khi gặp phải những hoàn cảnh đau thương trái ý, bạn cần làm gì để không chán nản thất vọng, nhưng luôn đặt trọn niềm tín thác vào Chúa, hy vọng Người sẽ kíp thời giải cứu và giúp bạn mau trỗi dậy ?

5.LỜI CẦU :

LẠY CHÚA GIÊ-SU PHỤC SINH. Sự phục sinh của Chúa vừa là lời mời gọi, lại vừa lôi cuốn chúng con hướng tâm hồn lên cao để nhận ra giá trị tương đối của sắc đẹp, tiền bạc, danh vọng, chức quyền trần gian… hầu noi gương các thánh : chúng con sẵn sàng hy sinh tất cả vì tình yêu Chúa và dám sống chết cho tình yêu ấy, để quyết dấn thân đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng, sẵn sàng đón nhận những đau khổ thua thiệt… vì xác tín rằng : “Chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Chính khi thứ tha là khi được tha thứ. Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.- AMEN.

LM ĐAN VINH –  HHTM

Sự Biến Đổi Kỳ Diệu

Chủ đề: Phục sinh chính là tin mừng rằng Chúa Giêsu sẵn sàng làm phép lạ trong cuộc đời chúng ta, nếu chúng ta để Người thi hành

Ernest Gordon có viết một quyển sách tựa đề Through the Valley of the Kwai River (Ngang Qua Thung Lũng Sông Kwai), trong đó ông trích dẫn một chuyện có thật xảy ra tại một trại tù binh Nhật dọc bờ sông Kwai trong thế chiến II. Nhiều người trong chúng ta đã nghe nói về trại này trong cuốn phim Bridge Over the River Kwai (Cầu Sông Kwai). Nơi đây 12 ngàn tù binh đã chết vì bệnh tật và bị đối xử tàn tệ khi họ phải xây một tuyến đường xe lửa.

Đàn ông bị cưỡng bức lao động dưới cái nóng đôi khi lên đến 120 độ F (khoảng 49 độ C). Đầu trần, chân đất, họ vác từng thúng đá trên vai để xây cho xong toàn bộ tuyến đường. Họ chỉ mặc mỗi manh áo rách và nằm ngủ trên mặt đất không chăn chiếu.

Nhưng kẻ thù khủng khiếp nhất đối với họ không phải là lính Nhật hay cuộc sống gian khổ mà lại là chính họ.

Theo lời kể của Gordon, vì quá sợ lính Nhật, nên các tù binh đã bị mắc chứng hoang tưởng. Họ lấy luật rừng cư xử với nhau. Họ trộm cắp của nhau, nghi ngờ nhau và chỉ điểm lẫn nhau.

Bọn canh gác cười nhạo khi thấy những người lính da trắng từng kiêu hãnh biết bao giờ đây đang tiêu diệt lẫn nhau.

Thế rồi một điều khó tin đã xảy ra. Hai tù nhân nọ chia nhóm học hỏi Kinh Thánh cùng với các tù nhân khác.

Qua việc học hỏi này, dần dà các tù nhân khám phá ra Chúa Giêsu là một người đang sống giữa họ.

Hơn nữa, họ còn khám phá rằng Chúa Giêsu hiểu rõ hoàn cảnh của ho. Người cũng không có chỗ gối đầu vào ban đêm. Người cũng đói khát, trơ trụi. Người cũng bị phản bội, cũng nếm roi đòn trên lưng.

Tất cả những gì về Chúa Giêsu--Người là gì, Người nói gì, Người làm gì--bắt đầu có ý nghĩa và trở nên sống động.

Các tù nhân không còn cho rằng họ là nạn nhân của một tấn bi kịch độc ác nào đó. Họ không còn chỉ điểm. Họ không còn tiêu diệt lẫn nhau nữa.

Sự thay đổi tâm hồn của họ được tỏ lộ không đâu rõ rệt cho bằng trong lời cầu nguyện.

Họ bắt đầu cầu nguyện cho nhau nhiều hơn cho chính mình. Và nếu có cầu xin cho chính họ, thì họ chẳng xin cho được điều gì. Mà xin cho sức mạnh mới mẻ trong tâm hồn của họ được bộc lộ.

Dần dà, cả trại đã được biến đổi, đến nỗi không phải chỉ đám lính Nhật mà cả các tù binh cũng phải ngạc nhiên.

Một đêm nọ, sau khi gặp gỡ với nhóm học hỏi Kinh Thánh xong, Gordon khập khiễng bước về trại của mình. Đang lúc lần mò trong bóng đêm, ông bỗng nghe có tiếng nhiều người ca hát, có người dùng mảnh gỗ để gõ nhịp vào loong thiếc.

Tiếng ca hát và tiếng gõ nhịp làm cho bóng đêm trở nên sống động. Sự khác biệt giữa tiếng hát vui tươi lúc đó và cái yên lặng chết chóc của những tháng qua là sự khác biệt giữa sự sống và sự chết--sự khác biệt giữa sự chết và sự phục sinh.

Câu chuyện về sự biến đổi trong trại tù của Nhật là một minh họa tuyệt vời cho lễ Phục Sinh hôm nay.

Phục Sinh là phép lạ làm cho các tù nhân tin tưởng lẫn nhau sau khi đã nghi ngờ nhau.

Phục Sinh là phép lạ giúp họ biết chia sẻ với nhau thay vì chỉ biết bóc lột nhau.

Phục Sinh là phép lạ khiến họ biết giúp đỡ nhau thay vì chỉ tìm cách tố cáo nhau.

Và điều đó đã quy tụ chúng ta lại nơi giáo đường này trong buổi sáng Phục Sinh đẹp trời hôm nay. Đối với chúng ta, Phục Sinh là gì?

Phục Sinh là sự nhận thức rằng sự biến đổi đời sống nơi các tù nhân kia cũng có thể xảy ra trong chính cuộc sống chúng ta.

Phục Sinh là sự nhận thức rằng sự thay đổi nơi trại tù binh nọ cũng có thể xảy ra trong thế giới chúng ta.

Tất cả những gì chúng ta cần là điều mà các tù nhân ấy đã thi hành.

Tất cả những gì chúng ta cần là mở rộng tâm hồn để đón nhận các ơn sủng mà Chúa đã chiến thắng cho chúng ta vào dịp Phục Sinh cách đây 2000 năm.

Anh chị em thân mến trong Chúa Kitô, tin mừng Phục Sinh là không gì có thể chế ngự chúng ta được nữa--dù là sự ngã lòng, sự bất hạnh, sự ruồng bỏ, sự đớn đau và kể sự chết.

Tin Mừng Phục Sinh là chúng ta không cần phải đợi đến khi chết mới được tham dự vào quyền năng phục sinh. Chúng ta có thể bắt đầu thi hành điều ấy ngay tự bây giờ.

Như thế, Phục Sinh mời gọi chúng ta mở rộng tâm hồn cho Chúa Giêsu Phục Sinh để Người làm cho chúng ta điều mà Người đã làm cho các tù binh trong trại tù của Nhật.

Phục Sinh mời gọi chúng ta hãy để Chúa giúp chúng ta tin tưởng lẫn nhau sau khi phản bội nhau.

Phục Sinh mời gọi chúng ta hãy để Chúa giúp chúng ta yêu thương nhau sau khi đã khước từ tình yêu của nhau.

Phục Sinh mời gọi chúng ta hãy để Chúa giúp chúng ta lấy lại hy vọng sau khi chúng ta đã làm hy vọng ấy tan thành từng mảnh.

Phục Sinh mời gọi chúng ta hãy để Chúa giúp chúng ta nhặt lại những mảnh vỡ ấy và bắt đầu lại sau khi chúng ta đã sẵn sàng bỏ cuộc.

Đây là tất cả ý nghĩa của Phục Sinh.

Đó là một tin vui cho biết Chúa Giêsu Phục Sinh đang ở giữa chúng ta, ngay trong thánh đường này, vào buổi sáng hôm nay.

Đó là một tin vui cho biết Chúa Giêsu đã chiến thắng sự dữ, sự chết và chúng ta cũng sẽ như vậy, nếu chúng ta mở rộng tâm hồn cho Người.

Đó là một tin vui cho biết Chúa Giêsu sẵn sàng làm phép lạ cho chúng ta, nếu chúng ta để cho Người thi hành.

Đó là một tin vui cho biết không gì có thể tiêu diệt được chúng ta, dù là đau đớn, ưu phiền, bị chối từ, tội lỗi và ngay cả sự chết.

Tóm lại, đó chính là tất cả những gì mà Phục Sinh mang lại cho chúng ta. Và đó chính là điều mà chúng ta hân hoan cử hành khi cùng nhau chuẩn bị bẻ bánh nhân ngày khai sinh đức tin Kitô Giáo của chúng ta hôm nay./.

Lm. Mark Link, S.J.

Người Tín Hữu

Phục Sinh

(Tđcv 10, 34a. 37-43; Col 3, 1-4; Ga 20, 1-9).

Chúng ta đang bước đi trong niềm tin sống đạo. Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết là niềm hy vọng tuyệt đối cho những ai tin. Niềm tin của chúng ta dựa vào lời dạy của Chúa Giêsu, niềm tin của Giáo Hội và của các nhân chứng. Sự kiện mồ trống là dấu chỉ đầu tiên cho chúng ta nhận biết là xác của Chúa không còn ở trong mồ. Maria báo tin cho các môn đệ, Phêrô cùng Gioan chạy ra mộ, các ông cũng thấy ngôi mộ trống và khi bước vào trong chỉ thấy khăn liệm và băng vải. Các ông nghiệm ra được những lời Kinh Thánh đã báo trước về Đức Giêsu. Niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh đem lại cho các ông sự phấn chấn và vui mừng.

Tông đồ Gioan mục kích sự việc đã xảy ra, ông thấy và ông tin. Chính Gioan đã viết sách Phúc âm kể lại câu truyện này. Gioan là tông đồ trẻ và được Chúa Giêsu đặc biệt ưu ái. Ông đã được hiện diện trong những biến cố quan trọng và ở sát gần bên Chúa, như khi Chúa cho con gái ông Giairô sống lại, Chúa biến hình trên núi, giây phút buồn sầu trong vườn Cây Dầu và trên thập giá, Chúa đã trao Mẹ của Ngài cho thánh Gioan phụ dưỡng. Gioan là tông đồ duy nhất không lãnh triều thiên tử đạo, nhưng đã trung thành cho tới cùng đường và giữ vững đức tin. Ngài là nhân chứng sống động cho tới tuổi già chuyên lo truyền đạt chân lý phúc âm.

Các môn đệ không chỉ chứng kiến cảnh ngôi mộ trống nhưng đã được nhìn xem, đụng chạm, đàm đạo và ăn uống với Chúa Kitô Phục Sinh. Tác giả sách Tông Đồ Công Vụ viết: Nhưng ngày thứ ba, Thiên Chúa đã cho người sống lại và hiện ra không phải với toàn dân, mà là với chúng tôi là nhân chứng Thiên Chúa đã tuyển chọn trước, chính chúng tôi đã ăn uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại (Tđcv 10, 40). Như sau một chiến trận hoang tàn, có kẻ phản bội, có người chối Chúa, một số bỏ chạy và và một số khác ẩn mình trốn tránh khỏi tai mắt thiên hạ vì sợ người Do-thái. Tâm hồn của các môn đệ dĩ nhiên có nhiều hoang mang lo lắng và buồn đau. Nay con tim đã vui trở lại. Nhưng niềm vui hoàn toàn khác biệt, niềm vui của hy vọng vào cuộc sống trường sinh bất diệt.

Các tông đồ bắt tay vào sứ mệnh làm nhân chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh. Những lời giảng dạy của Chúa Giêsu bắt đầu thấm nhuần và được áp dụng cụ thể vào cuộc sống. Các ngài không còn đi tìm vinh quang giả tạo của thế trần, nhưng đã thấu triệt ý nghĩa của cuộc hành đạo. Tất cả các môn đệ can đảm xả thân và mỗi người ra đi một hướng để rao giảng Tin Mừng phục sinh cho mọi dân mọi nước. Rao giảng Chúa Kitô Phục Sinh là trung tâm điểm của tất cả Tin Mừng. Sự sống lại của Chúa Kitô là niềm hy vọng vào sự sống và sự sống lại đời đời. Chúa Kitô trở thành trung gian giữa Chúa Cha và vũ trụ muôn loài. Ngài là Thiên Chúa thật và là người thật. Đấng xóa tội trần gian.

Hằng năm, Giáo Hội Mẹ mời gọi chúng ta cử hành các biến cố tưởng niệm cuộc đời của Chúa Kitô, để chúng ta được hun đúc niềm tin và tiến bước trên con đường trọn lành. Mùa Chay đã qua và Mùa Phục Sinh bắt đầu. Ngó nhìn lại những tháng ngày qua, đôi khi chúng ta quá thờ ơ và dửng dưng với những lời mời gọi ăn năn sám hối trở về cùng Chúa. Đôi khi chúng ta mải mê thế sự, lo lắng tất bật làm ăn và kiếm sống. Biết rằng đang phải sống giữa một xã hội xô bồ, tranh dành và hưởng thụ, nhưng chúng ta cũng chẳng có thể làm cho ngày dài thêm hay đời trẻ trung trở lại. Đừng để lỡ cơ hội tìm về nguồn sự sống để hiểu biết về ý nghĩa của những sự cao siêu trên trời, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa Cha.

Tự vấn, Chúa Kitô phục sinh có mang lại niềm vui cho tâm hồn chúng ta hay không? Sự kiện Chúa Kitô chịu chết và sống lại có ý nghĩa gì không? Chúng ta đang cố công vun đắp cho sự sống này, nhưng đừng quên niềm hy vọng sự sống vĩnh cửu đời sau. Cuộc lữ hành trần thế của chúng ta phải hướng tới cùng đích. Chúa Kitô là ánh sáng và sự sống. Hãy gắn kết chặt chẽ với Chúa Kitô là nguồn sự sống. Chúa Giêsu nói rằng không có Thầy, chúng con không thể làm gì được. Có Chúa, chúng con sẽ có tất cả. Hãy dục lòng tin, cậy và mến, để chúng ta biết phó thác cuộc đời trong sự quan phòng của Chúa.

Lạy Chúa, Chúa đã phục sinh từ cõi chết. Alleluia. Chúa Kitô là hoa qủa đầu mùa của những kẻ yên giấc, xin cho chúng con biết đặt niềm tin yêu và hy vọng vào sự phục sinh của Chúa, hầu chúng con cũng sẽ được tham dự vào sự sống vĩnh cửu ngày sau.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Subcategories