3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

TỪ NHỮNG CHIẾC KHĂN LIỆM ĐƯỢC XẾP GỌN

Lịch sử nhân loại được chia làm hai nửa: trước khi và sau khi tảng đá lấp cửa mộ bị lăn ra. Biến cố Phục Sinh không chỉ là một sự kiện “đã qua”, mà là một thực tại đang tiếp diễn, xoay chuyển mọi trật tự của vũ trụ. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô đã khẳng định: “Sự Phục Sinh của Chúa Giêsu không phải là một sự kiện riêng lẻ mà chúng ta có thể gạt bỏ như một điều gì đó chỉ thuộc về quá khứ, nhưng nó cấu thành một “bước nhảy vọt mang tính tiến hóa” - một cách so sánh, mặc dù dễ bị hiểu sai. Trong sự Phục Sinh của Chúa Giêsu, một khả năng mới đạt được sự hiện hữu của con người, ảnh hưởng đến tất cả mọi người và mở ra một tương lai mới cho nhân loại.” [1]

  1. Bình minh của công trình tạo dựng mới.

Tin Mừng Gioan bắt đầu trình thuật bằng một chi tiết thời gian đầy ngụ ý: “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mácđala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ” (Ga 20: 1). Trong thần học của Thánh Gioan, bóng tối không chỉ là thời gian vật lý, mà là biểu tượng cho tình trạng của nhân loại trước khi Ánh Sáng Phục Sinh bừng lên. Bà Maria Mácđala đại diện cho nhân loại đang dò dẫm bước đi trong đêm tối thất vọng của cõi chết. Việc bà thấy “thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ” gây nên một cú sốc tâm lý. Phản ứng của bà là phản ứng của một người vẫn còn bị giam hãm trong suy nghĩ trần thế: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Ngài ở đâu” (Ga 20: 2). Bà chưa nghĩ đến sự phục sinh, bà chỉ nghĩ đến một vụ trộm mộ hoặc sự xúc phạm đến thi hài. Nhưng rồi chính Đấng Phục sinh đã gọi chính tên bà: “Chúa Giêsu gọi bà: Maria!” (Ga 20: 16).

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói về Maria Mađalêna: “Nhiều lần người ta nhắc đến việc Maria Mácđala quay lại…Trong nước mắt, Maria Mácđala nhìn vào bên trong ngôi mộ trước, rồi quay lại: Đấng Phục Sinh không ở bên phía sự chết, mà ở bên phía sự sống. Người ta có thể nhầm Ngài với một trong những người chúng ta gặp mỗi ngày. Rồi, khi nghe thấy tên mình được gọi, Tin Mừng nói rằng Maria Mácđala lại quay lại. Và niềm hy vọng của Maria Mácđala lớn lên như vậy: giờ đây Maria Mácđala nhìn thấy ngôi mộ, nhưng không giống như trước nữa. Bà có thể lau khô nước mắt, vì Bà đã nghe thấy tên mình: chỉ có Thầy mới gọi tên Bà như vậy. Thế giới cũ dường như vẫn còn đó, nhưng nó đã không còn như cũ nữa” (Bài giáo lý, buổi tiếp kiến chung, thứ Bảy, 01/ 02/2025).

Đức Giáo Hoàng nêu ra một câu hỏi cho mọi người: “Khi chúng ta cảm nhận được Chúa Thánh Thần đang tác động trong lòng mình, và cảm nhận được Chúa đang gọi tên mình, liệu chúng ta có biết cách phân biệt giọng nói của Vị Thầy không?” (đdt).

  1. Cuộc chạy đua đến niềm tin

Tại sao thánh sử Gioan lại nhắc đến việc mình đã đến mộ trước Phêrô ba lần? Dĩ nhiên thánh sử không hề có ý định hơn thua đố kỵ nhỏ nhen như đã từng có người nghĩ theo kiểu chủ quan duy cảm. Điều gì sẽ xảy ra nếu trong Giáo hội sơ khai có sự bất đồng dựa trên các truyền thống truyền miệng khác nhau? Một số người khẳng định rằng chính Gioan là người đầu tiên nhìn thấy thi hài Chúa Giêsu bị mất tích. Một số khác lại khẳng định rằng chính Phêrô mới là người đầu tiên nhìn thấy thi thể Chúa Giêsu bị mất tích? Trong trường hợp này, thánh sử Gioan đã xuất hiện và đưa ra lời giải thích cần thiết. Ai là người đầu tiên, Gioan hay Phêrô? Cả hai câu trả lời đều đúng. Gioan là người đến mộ trước. Nhưng Phêrô là người vào trong mộ trước. Sự phục sinh của Chúa Giêsu mới là trọng tâm tuyệt đối của đức tin, là điều cốt lõi của chính Tin Mừng, nếu thiếu điều đó thì mọi thứ đều sụp đổ.

Hơn thế nữa, việc “Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước” (Ga 20: 4) là một hình ảnh sống động về Giáo hội. Một bên là Phêrô, đại diện cho phẩm trật và quyền bính; một bên là “người môn đệ kia” (Ga 20: 3) đại diện cho tình yêu và chiêm niệm.

Hans Urs von Balthasar nhận xét rằng Phêrô đại diện cho chức vụ giáo hội, Giáo hoàng. Còn Gioan tượng trưng cho tình yêu thương trong giáo hội. Tình yêu, vì không bị gánh nặng bởi những lo toan của chức vụ, nên tiến bước nhanh hơn. “Tuy nhiên, Tình yêu thương nhường bước cho chức vụ khi nói đến việc kiểm tra ngôi mộ, và do đó Phêrô trở thành người đầu tiên nhìn thấy tấm vải che đầu Chúa Giêsu và xác nhận rằng không có sự trộm cắp nào xảy ra.” Rồi Tình yêu bước vào, “và ông đã thấy và tin.” Von Balthasar nói điều này cho thấy rằng “đức tin vào Chúa Giêsu Phục sinh được chứng minh là đúng đắn bất chấp mọi sự mơ hồ của hoàn cảnh.” [2]

  1. Những dây băng nhỏ và chiếc khăn liệm che đầu

Bằng chứng của sự sống lại được Thánh Gioan mô tả rất kỹ: “Dây băng nhỏ để đó... khăn liệm che đầu…cuộn lại để riêng một chỗ” (Ga 20: 6-7). Đây là những chi tiết cực kỳ quan trọng để bác bỏ giả thuyết trộm xác. Một kẻ trộm xác sẽ không bao giờ mất thời gian để tháo băng vải và cuộn khăn liệm một cách ngăn nắp như vậy.

Thánh Gioan Kim Ngôn giải thích rằng: “Vì nếu có ai đó đã di dời thi thể, thì trước khi làm vậy họ cũng sẽ không cởi bỏ vải liệm; và nếu có ai đó đã đánh cắp thi thể, thì họ cũng sẽ không buồn tháo khăn che đầu ra, cuộn lại và đặt ở một nơi riêng biệt. Gioan đã báo trước cho chúng ta rằng thi thể được chôn cất với rất nhiều mộc dược, kết dính vải liệm vào thi thể chắc chắn không kém gì chì; Khi các bạn nghe nói rằng chiếc khăn che đầu được đặt riêng, các bạn sẽ không thể chấp nhận những người nói rằng Ngài đã bị đánh cắp. Vì một tên trộm sẽ không ngu ngốc đến mức bỏ nhiều công sức vào một việc không cần thiết…Việc đó không phải của một người đang rối loạn hoặc vội vàng, vốn không thể đặt một số ở nơi này, một số ở nơi khác, và cuộn chúng lại với nhau. Từ điều này, chúng ta tin vào sự Phục Sinh.” [3]

Gioan không thấy Chúa Phục Sinh ngay lúc đó bằng mắt trần, nhưng ông thấy “ý nghĩa” của ngôi mộ trống. “Ông thấy và ông tin” (Ga 20: 8). Đức tin bắt đầu từ việc nhận ra những dấu chỉ nhỏ bé nhất của quyền năng Thiên Chúa giữa những đổ nát của cuộc đời.

  1. Căn tính mới của Kitô hữu: sống lại với Chúa Kitô

Nếu Phục Sinh chỉ là chuyện của Chúa Giêsu, thì đó là một phép lạ vĩ đại nhưng xa lạ, nhưng thánh Phaolô khẳng định: “Anh em đã sống lại với Chúa Kitô” (Cl 3: 1).

Ngài kêu gọi: “Anh em hãy tìm những sự trên trời”. Ưu tiên chọn lựa những sự trên trời không có nghĩa là chúng ta chối bỏ thế giới này hoặc sống thiếu trách nhiệm với trần thế. Thánh Ignatius Loyola nói: “Người nào mang Chúa trong lòng thì mang thiên đàng theo mình đến bất cứ nơi đâu”, hoặc như thầy Thomas Winninger nói: “Các vị thánh đã lên Thiên đàng trước khi họ thực sự lên Thiên đàng.” Mẹ Mary Angelica Truyền Tin, Người sáng lập Mạng Lưới Truyền Hình Ngôi Lời Vĩnh Cửu - EWTN, nói: “Bạn không thể lên Thiên đàng nếu vẫn còn lòng thù hận. Hãy tha thứ ngay bây giờ. Hãy thương xót ngay bây giờ. Hãy kiên nhẫn ngay bây giờ. Hãy biết ơn ngay bây giờ. Hãy yêu mến Chúa Giêsu và Mẹ Maria ngay bây giờ. Hãy chấp nhận ý muốn của Chúa ngay bây giờ.” [4]

Những sự dưới đất” mà Phaolô cảnh báo chính là cái tôi ích kỷ, chỉ biết mình, và những đam mê xác thịt làm lu mờ phẩm giá con người. Kitô hữu sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian. Câu nói mang tính huyền nhiệm nhất của đoạn văn này là: “Sự sống anh em được ẩn giấu với Chúa Kitô trong Thiên Chúa” (Cl 3: 3). Tại sao lại là “ẩn giấu”?

Thánh Gioan Thánh Giá đã viết: “Cần phải biết rằng Thiên Chúa ngự trong mọi linh hồn cách kín đáo và ẩn mình trong bản chất của các linh hồn, nếu không thì các linh hồn sẽ không tồn tại mãi mãi…Chính khi những ham muốn và khoái lạc của bản thân càng ít ngự trị trong linh hồn, thì linh hồn càng sống an tịnh hơn, và như thể đang ở trong chính ngôi nhà của mình, cai quản và điều khiển nó…Đấng Yêu Dấu sống kín đáo với một vòng tay ôm ấp càng gần gũi, thân mật và sâu thẳm hơn, khi linh hồn càng thuần khiết và tách biệt khỏi mọi thứ khác ngoại trừ Thiên Chúa” (Ngọn lửa tình yêu sống động, đoạn 4, số 14) [5]

Đây là nguồn an ủi lớn lao cho những ai đang đau khổ, thất bại hoặc bị thế gian khinh miệt. Giá trị thực sự của người môn đệ Chúa Kitô không nằm ở những gì người khác thấy, mà ở việc họ được “ẩn giấu” trong cung lòng Thiên Chúa.

  1. Sứ vụ của chứng nhân

Trình thuật sách Công vụ Tông đồ cho thấy Sứ mạng công bố Tin Mừng Phục Sinh. Thánh Phêrô, sau khi lãnh nhận Chúa Thánh Thần, đã trở thành một con người hoàn toàn mới. Thánh nhân không còn sợ hãi, nhưng dõng dạc tuyên bố: “Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Ngài đã làm…Chúng tôi đã được cùng ăn cùng uống với Ngài, sau khi Ngài từ cõi chết sống lại” (Cv 10: 34-43).

Chi tiết “Chúng tôi đã được cùng ăn cùng uống với Ngài, sau khi Ngài từ cõi chết sống lại” (Cv 10: 41) là một lời khẳng định mạnh mẽ chống lại mọi thuyết ngộ đạo - gnosticism cho rằng Chúa Giêsu chỉ hiện ra như một bóng ma. Ăn uống là hành động của một cơ thể sống, thực tế và hữu hình.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhấn mạnh: “Chứng tá của các Tông đồ không dựa trên một ý tưởng hay một hệ tư tưởng, mà dựa trên một cuộc gặp gỡ. Họ đã chạm vào Ngài, đã ăn cùng Ngài. Phục Sinh là một sự kiện thể lý mang tính cách mạng tâm linh” (Sứ điệp Phục sinh, 2021).

Phêrô kết thúc bài giảng bằng một lời hứa: “Phàm ai tin vào Ngài thì sẽ nhờ danh Ngài mà được ơn tha tội” (Cv 10: 43). Chiến thắng cái chết của Chúa Giêsu đồng thời là chiến thắng tội lỗi. Cái chết là lương bổng của tội lỗi; khi cái chết bị đánh bại, quyền lực của tội lỗi cũng bị bẻ gãy.

Chúng ta hôm nay cần sống mầu nhiệm Vượt Qua giữa đời thường, không sợ bóng tối của “ngày đầu tuần”. Mỗi chúng ta đều có những lúc “trời còn tối” trong cuộc đời: bệnh tật, sự phản bội, sự mất mát người thân. Maria Mađalêna đã dạy chúng ta rằng: ngay cả khi cảm thấy Chúa bị mất đi, hãy cứ tiếp tục tìm kiếm. Chính nơi bóng tối của ngôi mộ, chúng ta sẽ thấy tảng đá đã được lăn ra.

Chúng ta hãy lăn tảng đá của sự thờ ơ. Nhiều khi chúng ta tự nhốt mình trong những ngôi mộ của sự ích kỷ, sự oán giận. Lễ Phục Sinh là lời mời gọi: hãy lăn tảng đá đó đi! Đừng để khăn liệm và dây băng của quá khứ trói buộc chúng ta thêm nữa. Chúa đã phục sinh để chúng ta được tự do.

Chúng ta hãy sống niềm hy vọng phục sinh. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã viết: “Người có hy vọng thì sống khác; người có hy vọng đã được ban tặng một cuộc sống mới” (Thông điệp Spe Salvi, số 2). Sự phục sinh không phải là một sự an ủi hão huyền về thế giới bên kia, nhưng là sức mạnh để chúng ta đương đầu với thế giới này. Vì chúng ta biết rằng, dù “thân xác có phải chết”, thì Thần Khí đang ngự trong chúng ta sẽ làm cho nó được sống lại (Rm 8: 11).

Lễ Phục Sinh không kết thúc ở ngôi mộ trống, nhưng bắt đầu từ chính ngôi mộ đó, trong trái tim của Gioan khi ông “thấy và tin”. Lễ Phục Sinh bắt đầu nơi miệng lưỡi của thánh Phêrô khi ngài rao giảng tại nhà ông Cornêliô. Và lễ Phục Sinh phải bắt đầu trong cuộc đời chúng ta hôm nay, như ĐGH Phanxicô khẳng định: “Đấng chịu đóng đinh trên thập tự giá đã sống lại! Mọi câu hỏi và sự không chắc chắn, sự do dự và nỗi sợ hãi đều tan biến bởi sự mặc khải này. Đấng Phục Sinh ban cho chúng ta sự chắc chắn rằng điều thiện luôn chiến thắng điều ác, sự sống luôn chiến thắng cái chết, và mục đích của chúng ta không phải là ngày càng sa sút, từ đau khổ này đến đau khổ khác, mà là vươn lên cao” (Suy tư Tam Nhật Thánh, 31 tháng 3 năm 2021).

Ước gì niềm vui Phục Sinh biến đổi chúng ta từ những người bị đè nặng bởi những nỗi sợ hãi, đau khổ, điều ác và cái chết u sầu thành những sứ giả của ánh sáng đem lại sự sống đời đời, để trong mọi hoàn cảnh, chúng ta đều có thể hô vang: “Alleluia! Chúa đã sống lại thật rồi!”

 

Phêrô Phạm Văn Trung

 

[1] https://www.spesalviinstitute.com/post/pope-benedict-xvi-s-jesus-of-nazareth-holy-week-from-the-entrance-into-jerusalem-to-the-resurrecti#:~:text=

[2] https://catholicreview.org/resurrections-reality-rooted-in-truth-of-empty-tomb/#:~:text=          

[3] https://www.lectionarycentral.com/easter/ChrysostomGospel.html

[4] https://catholicquotations.com/heaven-and-hell/

[5] https://www.jesus-passion.com/LivingFlameLove.htm  

 

Tam Nhật Thánh Năm A

THỨ NĂM TUẦN THÁNH.

VƯỢT QUA

(Xh 12, 1-8.11-14; 1Cor 11, 23-26; Ga 13, 1-15). 

Hằng năm các tín hữu đạo Do-thái tưởng niệm lễ Vượt Qua một cách rất long trọng. Thiên Chúa đã cứu cha ông họ ra khỏi cảnh làm nô lệ nơi xứ Ai-cập. Trước khi ra đi, người Do-thái đã ăn bữa tiệc Vượt Qua với thịt chiên nướng, rau đắng và bánh không men. Chúng ta không thể tưởng tượng được biến cố lịch sử vĩ đại này. Đã có khoảng 600 ngàn người, không kể trẻ em đã rời Ai-cập để tiến vào miền Đất Hứa. Họ ra đi một cách vội vã và khẩn cấp cùng với đoàn súc vật.  Đã có hơn 430 năm lập nghiệp tại xứ người, cuộc sống và giang san của họ cũng đã ổn định. Chắc chắn họ cũng đã sở hữu đất đai, ruộng vườn, nhà cửa và chợ búa xóm làng. Vâng lệnh Chúa, họ đã phải từ bỏ mọi gắn bó với cuộc sống qua nhiều đời. Một hy sinh vô cùng lớn lao.

Chúa Giêsu rất trung thành với các truyền thống tôn giáo, hằng năm Chúa đều trở về Giêrusalem ăn mừng lễ Vượt Qua. Để chu toàn sứ mệnh cứu rỗi nhân loại, Chúa Giêsu không dừng lại ở việc tưởng niệm lễ Vượt Qua của người Do-thái. Chúa đã dẫn dắt lịch sử ơn cứu độ tới một lễ Vượt Qua trong giao ước mới. Giao ước tình yêu bằng giá máu của chính Ngài. Chúa Giêsu đã về tham dự lễ Vượt Qua cuối cùng tại Giêrusalem. Chúa hiểu rõ về sứ mệnh phải hoàn tất. Chúa Giêsu đã tỉ mỉ chuẩn bị tinh thần và dậy dỗ các tông đồ trong cách thế phục vụ và mục vụ. Một cử chỉ vô cùng ấn tượng là Chúa Giêsu lấy nước và cúi xuống rửa chân cho từng môn đệ. Ngài đã tự hạ tới cùng để thi hành công việc của các đầy tớ. Bài học khiêm nhường này là nền tảng của các nhân đức trong việc phục vụ anh chị em.

Rửa chân cho nhau có nghĩa là phục vụ lẫn nhau, tha thứ cho nhau và yêu thương nhau. Đã dám cúi xuống rửa chân thì không còn phân biệt bàn chân dơ hay sạch, bàn chân người lạ hay quen và bàn chân của người thân hay kẻ thù, bài học của Chúa qua đỗi thẳm sâu. Chúa đã rửa chân cho tất cả các tông đồ. Ngài đã chuẩn bị tâm hồn các tông đồ để sẵn sàng lãnh nhận mầu nhiệm tình yêu hiến dâng. Chúng ta biết rằng thánh Phaolô không được tham dự các nghi lễ này cùng với các tông đồ trong bữa Tiệc Ly. Phaolô cũng không học từ các tông đồ, nhưng được chính Chúa Kitô phục sinh mạc khải cho.

Cốt lõi của Giao Ước mới là hiến lễ của Chúa Kitô trên thập giá. Liên kiết giữa Bí tích Thánh Thể và Hy lễ hiến dâng là một. Mừng lễ Vượt Qua mới, Chúa Giêsu đã không dùng máu chiên bò tanh hôi, nhưng chính Máu Châu Báu của Ngài làm lễ dâng. Bí tích Tình Yêu được hoàn tất trên thánh giá. Thân xác của Chúa bị nộp, bị đánh tan nát bầm dập, bị gai nhọn đâm thấu và đinh đóng rách nát thị da. Máu Tân Ước là giá máu của những vết thương đòn đánh và lưỡi đòng đâm thấu trái tim. Thịt Máu của Chúa trở thành lễ dâng vô giá, có thể xóa sạch hết mọi tội nhơ. Chúa Kitô chỉ cần dâng hiến một lần là đủ. Trong tất cả các thánh đường Công Giáo, trước bàn thờ tế lễ luôn có tượng chịu nạn, Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá. Nhắc nhở chúng ta rằng hy tế hiến dâng lên Chúa Cha là Con xin vâng ý Cha mọi đàng. Chúa Kitô muốn hy tế được tiếp tục là dấu chỉ của tình yêu hiến dâng: Các con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Ta. Chúng ta tưởng nhớ đến việc Chúa đã chịu đau khổ, chịu chết và sống lại để cứu độ trần gian.

Lạy Chúa, chúng con bước vào Tam Nhật Thánh, cao điểm của tất cả các Nghi thức Phụng Vụ, xin cho chúng con được tham dự tích cực vào đời sống ân sủng mà Chúa đã trao ban cho Giáo Hội. Chúng con tưởng nhớ biến cố Chúa đã chịu đau khổ, chịu chết và sống lại để cứu độ chúng con.

THỨ SÁU TUẦN THÁNH. 

TỪ TRẦN

(Is 52, 13-53, 12; Dt 4, 14-16. 5, 7-9; Ga 18, 1-19, 42).

Bầu khí ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nơi các thánh đường thật vắng lặng. Hôm nay, ngày duy nhất trong năm phụng vụ, không có cử hành thánh lễ. Chỉ có phần Nghi thức Phụng vụ Lời Chúa, Suy tôn hôn kính Thánh Giá và Rước lễ. Giáo Hội mời gọi các tín hữu dành thời gian suy gẫm về sự thương khó của Chúa Giêsu và ăn chay kiêng thịt. Trong phần Phụng vụ Lời Chúa chiều nay, chúng ta nghe bài ca thứ tư về người Tôi Trung của tiên tri Isaia. Đây là hình bóng của Chúa Giêsu trong ngày chịu thương khó. Chúa Kitô đã mặc thấy thân phận của người tôi tớ và hoàn tất mọi lời các tiên tri đã loan báo.

Người Tôi Trung đã trải nghiệm mọi khổ đau của con người, để nhờ đó mà gánh lấy tội ác của chúng ta. Người ta coi người như kẻ bị Thiên Chúa đánh phạt, ruồng bỏ như kẻ phong cùi và bị nhuốc hổ. Người tôi trung không làm điều chi bất chính, nhưng đã chịu mọi sự xỉ nhục và thương tích để mọi người được chữa lànhNhờ sự đau khổ và sự chết, người tôi tớ trung thành đã hoán cải và mở đường cứu rỗi đem nhiều người trở về cùng Thiên Chúa Cha. Tiên tri Isaia đã tiên báo mọi chi tiết diễn tiến trong cuộc khổ nạn mà người tôi tớ Chúa sẽ phải chịu. Qua khổ ải, người tôi trung sẽ được vinh thăng tấn phát và cao cả tuyệt vời.

Chỉ vỏn vẹn trong ba năm, Chúa Giêsu đã đi rảo khắp vùng từ Galilêa, qua Samaria và Juđêa để rao truyền chân lý tin mừng. Chúa giảng đạo một cách công khai cho dân chúng khắp vùng. Chúa Giêsu có đời sống thanh bạch, rao giảng sự thật và làm các phép lạ công khai. Có nhiều người muốn bắt bẻ về cách hành xử và lời giảng của Chúa, nhưng Chúa đã đáp lại một cách rất khôn ngoan và chân thành. Tuy nhiên, não trạng của các nhà lãnh đạo tôn giáo không dễ đổi thay, nên đã gây nhiều cớ cho sự xúc phạm. Tâm trí của nhiều người bị che khuất, nên không thể nhận ra được sứ mệnh cứu thế thực sự của Chúa Kitô.

Cả hệ thống chính quyền và tôn giáo tìm cớ để kết án tử hình Chúa Giêsu. Bài thương khó của thánh Gioan có rất nhiều chi tiết về cuộc hành khổ Chúa. Chúa Giêsu trả lời một cách rất khẳng khái rõ ràng về sứ mệnh của Ngài. Nước của tôi không thuộc về thế gian này. Chúa đến để làm chứng cho sự thật. Sự thật của Tin mừng cứu độ. Chúa xuống trần để mở đường dẫn đưa con người vào chung hưởng hạnh phúc viên mãn, vì Chúa là đường, là sự thật và là sự sống. Có nghĩa là Chúa muốn giúp chúng ta tìm ra con đường giải thoát, con đường sự thật, sống trong bình an và hoan lạc cả đời này lẫn đời sau.

Làm sao chúng ta nhận biết đâu là chân lý? Chúa Giêsu nhắc nhở rằng ai thuộc về chân lý thì nghe Chúa: Hễ có thì phải nói có, không thì phải nói không. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ (Mt 5, 37). Chúng ta đang sống trong một thế giới bát nháo, vàng thau lẫn lộn và khó phân biệt phải trái, đúng sai hoặc tốt xấu. Trào lưu xã hội đẩy đưa con người vào những thị hiếu choáng ngợp hấp dẫn. Việc gì cũng có thể làm. Với khoa học kỹ thuật công nghiệp tiến bộ ngoài sức tưởng tượng, người ta có thể tạo hình, ghép cảnh, ngụy ngôn, cắt xén sửa đổi thông tin, truyền thông bất cập, thông tin một chiều và nhiều hình thức ngụy trang khác. Chúng ta phải hết sức cẩn thận phân tích và kiểm chứng khi tìm đọc các tin tức trên sách vở, báo chí và các trang mạng. Đôi khi chúng ta lại thích chạy theo các tin tức giật gân, tin nóng và tin vịt mà không để tâm đến Tin Mừng của Chúa. Chúa Giêsu đến trong thế gian để làm chứng cho sự thật và chỉ có sự thật mới giải thoát chúng ta.

Chân lý là từ trên ban xuống. Chúa Thánh Thần là Thần Chân Lý. Làm nhân chứng cho sự thật là làm nhân chứng cho Chúa. Sự thật thì sáng tỏ và đơn sơ. Lời Chúa là lời sự thật. Chúng ta hãy đọc, tìm hiểu, suy gẫm và đem lời Chúa ra thực hành trong cuộc sống. Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, Đấng vô tội. Chúa đã thắng vượt tất cả những thử thách, cạm bẫy và mưu mô của con người. Chúa Giêsu đã sống trọn vẹn bản tính của Thiên Chúa và loài người. Con người của Chúa đã trải qua mọi sự đau khổ cùng cực nhất của kiếp người. Chúng ta hãy chạy đến với trái tim đầy lòng thương xót của Chúa. Chúa sẽ đón nhận mọi tâm tư cần thố lộ tâm tình và sự cảm thông nâng đỡ.

Lạy Chúa, chúng con tưởng niệm Chiều Tử Nạn, Chúa đã hoàn tất sứ mệnh nơi trần gian. Xin cho chúng con biết thông phần đau khổ để đền vì tội lỗi của chúng con. Xin cho chúng con biết vác thập giá hằng ngày mà đi theo Chúa cho tới cùng. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.

THỨ BẢY TUẦN THÁNH

CANH THỨC

(Mt 28, 1-10).

Chiều thứ Sáu nơi đỉnh đồi Golgôtha, Chúa Giêsu đã trút hơi thở trên thánh giá. Xác Chúa được hạ xuống, tắm rửa, xức thuốc thơm và được mai táng trong mồ. Gần trong khu vườn có ngôi mộ mới, chưa chôn ai. Xác của Chúa được đặt trong ngôi mộ mới nầy và có tảng đá lấp cửa mồ.

Trong sự thinh lặng của ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo Hội mời gọi chúng ta cùng gẫm suy về những biến cố của cuộc đời Chúa Giêsu. Khởi đầu, Chúa Giêsu được sinh ra trong hang lừa máng cỏ tại Bethlehem. Ít ngày sau, qua mộng báo, cha Giuse và mẹ Maria đã đem Chúa trẻ thơ trốn chạy sang nước Ai-cập khỏi sự lùng giết của vua Hêrôđê. Sau khi vua Herôđê băng hà, gia đình thánh thất đã trở về làng Nazarét, vùng Galilêa để lập nghiệp. Chúa Giêsu đã âm thầm sinh sống và trưởng thành tại miền đất nhỏ bé nầy. Từ miền Nazarét, hằng năm Chúa Giêsu theo cha mẹ trẩy về thành thánh Giêrusalem để mừng lễ Vượt Qua của người Do-thái.

Tam thập như lập, Chúa đã ra rao giảng Tin mừng cứu độ, thực hiện các phép lạ và chọn lựa huấn luyện các môn đệ để tiếp tục sứ mệnh. Vỏn vẹn ba năm trời, Chúa đã rảo khắp các vùng từ Galilêa xuống Giuđêa rao giảng, canh tân và mời gọi mọi người sám hối vì Nước Chúa đã đến gần.

Chúng ta có thể nhìn tổng quát hành trình giảng đạo của Chúa gần quê nhà, chung quanh vùng biển hồ Galilêa: Chúa Giêsu sinh sống bằng nghề mộc tại Nazarét, khởi đầu rao giảng và chịu phép rửa của Gioan tại sông Giođan, biến hình trên núi Tabor, dự tiệc cưới tại Cana và làm phép lạ hóa nước thành rượu, đi dọc bãi biển chọn gọi các môn đệ đầu tiên tại Magdala, giảng trên núi Tám Phúc, dậy dỗ tại Capernaum, làm phép lạ cho sóng biển yên lặng tại Tabgha và phép lạ bánh cá hóa nhiều tại Bethsaida, ngồi trên thuyền giảng đạo gần Chozarin, đi trên mặt nước biển hồ Galilêa, xua trừ quỷ ám khiến đàn heo xô xuống biển tại Gergesa, truyền các tông đồ thả lưới bên phải thuyền, truyền ông Phêro ra câu cá lấy đồng bạc đóng thuế gần Hippos và các tông đồ bứt lúa trên đường đi qua ruộng lúa vào ngày Sabát.

Chúa Giêsu đã hoàn tất những lời tiên báo của các tiên tri. Trong khi đi rao giảng, Chúa Giêsu đã mạc khải về Nước Trời, về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Mạc khải về chính mình qua lời giảng dậy có uy quyền biến đổi tâm can. Các phép lạ chữa lành các thứ bệnh tật, xua trừ ma quỷ, biến đổi thiên nhiên và cho kẻ chết sống lại. Qua các quyền phép lạ lùng đã chứng minh Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Chúa mở cửa Nước Trời đón nhận những ai tin vào Ngài.

Sáng thứ Bảy Tuần Thánh, khung cảnh nhà thờ vắng lặng, gian cung thánh không có hoa nến, nhà tạm bỏ ngỏ và không có cử hành bất cứ nghi thức phụng vụ nào cho đến tối vọng Phục Sinh. Giáo Hội khuyến khích mọi thành phần dân Chúa canh thức trong suy gẫm nguyện cầu. Thực tế cuộc sống đạo hôm nay, hình như ý nghĩa nhiệm mầu của ngày thứ Bảy Tuần Thánh bị phai nhạt dần sự thánh thiêng, bù lại là những tổ chức hình thức bên ngoài ồn ào lấp đầy khoảng trống im lặng. Có nhiều giáo xứ tổ chức rầm rộ mai táng Chúa, rồi hôn chân và rước nả xầm uất như ngày hội. Chúng ta đang đánh mất sự thinh lặng thánh trong khi tưởng niệm Chúa Giêsu còn chôn trong mồ đá.

Vào tối vọng Phục Sinh, Giáo Hội cử hành đại lễ, trang trí hoa đèn lộng lẫy. Trước thánh lễ, có nghi thức làm phép lửa, nến Phục Sinh được thắp lên và đoàn dân Chúa vừa tiến bước vào cung thánh vừa hát: Ánh sáng Chúa Kitô và mọi ngừoi thưa: Tạ ơn Chúa. Linh mục chủ tế sẽ xông hương và hát Mừng Vui Lên (Exultet). Tối nay, phần Phụng vụ lời Chúa dài với các bài đọc trích từ Sách Sáng Thế Ký, Xuất Hành, Sách Các Tiên Tri Isaia, Ezekien, Barúc…đáp ca các Thánh Vịnh và Lời nguyện. Tiếp theo là hát Kinh Vinh Danh trọng thể và chuông nhà thờ vang vọng inh ỏi. Sau khi nghe bài trích thơ của thánh Phaolô, cộng đoàn dân Chúa hát: Alleluia, Alleluia mừng Chúa Phục Sinh. Công bố tin mừng Chúa đã sống lại.

Vọng Phục Sinh là cao điểm nhất trong các cử hành trong năm Phụng Vụ. Giáo Hội khởi đầu một sứ vụ mới trong một niềm tin mới. Niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh trong một tổ chức tôn giáo mới, đó là Đạo Công Giáo. Đạo mới không còn giữ luật của ngày Sabát, nhưng sống ngày Chúa Nhật là ngày của Chúa.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Con đường Chúa đi

Lễ Lá có một khởi đầu vui nhưng lại có một kết cục buồn. Khởi đầu Chúa Giêsu long trọng vào thành Giêsusalem. Kết cục, Chúa Giêsu chịu kết án, chịu khổ hình và chết trên thập giá. Con đường vào thành của Người là con đường vinh quang vương giả. Nhưng con đường lên Núi Sọ lại là con đường của kẻ tội đồ.

Đám rước tưng bừng ngày Lễ Lá gọi ta cùng tiến bước theo Chúa. Tiến bước theo Chúa để hiểu rằng hành trình không kết thúc tại cổng thành Giêrusalem với đám đông ngưỡng mộ, với cành lá và quần áo trải thảm đường đi, nhưng kết thúc trên Núi Sọ với thập giá, với những lời nhục mạ, với hai tội nhân đồng hành. Chúa Giêsu không xưng vương trước đám đông cuồng nhiệt nghênh đón, nhưng lại xưng vương trước mặt Philatô, khi tay đã bị trói, khi thân thể đã tan nát không còn hình tượng con người, khi đã mất hết uy tín, đứng trước vành móng ngựa như một phạm nhân. Danh hiệu là Vua chỉ được chính thức ghi bằng chữ viết khi Người bị treo trên thập giá.

Hành trình của Chúa là một hành trình gian khổ. Đích điểm chỉ đạt tới sau khi đã từ bỏ tất cả, không phải chỉ là nhà cửa, y phục mà cả những người thân, cả thành công, cả danh dự, cả mạng sống.

Tiến bước theo Chúa để chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của lòng người.

· Cũng đám đông ấy, hôm trước vừa vung tay chân hoan hô Chúa, hôm sau đã vội vung tay vung chân kết án Chúa.

· Cũng đám đông ấy hôm trước vừa reo hò chúc tụng Chúa, hôm sau cũng vẫn reo hò, nhưng để buộc tội Chúa.

· Cũng đám đống ấy, hôm trước vừa chen lấn nhau để nghênh đón Chúa, hôm sau đã xúm đông xúm đỏ để hành hạ Chúa.

· Cũng đám đông ấy, hôm trước vừa cởi áo, chặt cành lá lót đường Chúa đi, hôm sau đã lột áo Chúa, chặt cành gai cuốn lên đầu Chúa.

Tiến bước theo Chúa để dứt khoát lựa chọn cho mình một con đường.

· Đường vào Giêrusalem chỉ có một và rộng thênh thang. Mọi người đều tụ tập và cùng chung lối bước. Nhưng đường lên Núi Sọ chật hẹp và chia ra muôn ngả. Mỗi người đi theo con đường của mình.

· Đường Giêrusalem đông vui và phấn khởi vì mọi người ca hát tưng bừng. Nhưng đường lên Núi Sọ thật buồn thảm, chỉ có tiếng roi vọt, tiếng than khóc, tiếng chửi rủa.

· Đường vào Giêrusalem mọi người đều theo Chúa, mọi người đều là môn đệ Chúa. Nhưng đường lên Núi Sọ chỉ còn ít người theo Chúa. Có những người đã phản bội. Có những người đã trốn chạy. Có những người đã chối bỏ Thầy.

· Đường vào Giêrusalem có con lừa chở Chúa. Nhưng đường lên Núi Sọ Chúa phải vác thánh giá.

· Đi theo Chúa trên đường vào Giêrusalem thì dễ dàng và vui vẻ. Nhưng theo Chúa trên con đường Núi Sọ mới thật chông gai.

Nếu tôi có mặt ở đó, tôi sẽ dễ dàng hoà nhập vào đoàn người cầm cành lá đón rước Chúa. Nhưng khi Chúa đi lên Núi Sọ, tôi sẽ rẽ sang đường nào? Tôi sẽ rẽ sang con đường phản bội của Giuđa? Tôi sẽ rẽ sang con đường chối Chúa của Phêrô? Tôi sẽ rẽ sang những con đường hẻm in dấu chân trốn chạy của các môn đệ? Tôi sẽ phụ họa với đám đông kết án Chúa? Hay tôi cũng theo quân lính đánh đập Chúa? Trước sau gì tôi cũng phải lựa chọn một con đường.

Lạy Chúa, xin cho con luôn tiến bước theo Chúa trên mọi nẻo đường Chúa đi. Xin thêm sức cho con để con kiên trì theo Chúa trên đường lên Núi Sọ. Amen.

GỢI Ý CHIA SẺ

1. Hãy so sánh đường vào thành Giêrusalem và đường lên Núi Sọ.

2. Nếu bạn có mặt ở Giêrusalem hôm ấy bạn sẽ làm gì?

3. Bạn dám có lập trường riêng hay bạn chỉ biết làm theo đám đông?

TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

CHƯA RỜI TIỆC, ĐÃ RỜI TÌNH

Thứ Tư Tuần Thánh A

“Rabbi, chẳng lẽ con sao?”.

“Hai tình yêu đã làm nên hai đô thị: yêu mình đến khinh Chúa; và yêu Chúa đến quên mình!” - Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không đặt chúng ta trước một hành động bộc phát, nhưng trước một chuyển động trượt dần của con tim: khi tình yêu bắt đầu đổi hướng! Giuđa ‘chưa rời tiệc’, nhưng ‘đã rời tình’: “Rabbi, chẳng lẽ con sao?”.

Một chi tiết rất kín kẽ nhưng lại thật thâm trầm. Các môn đệ hỏi, “Thưa Ngài, có phải con không?”, còn Giuđa - “Thưa Rabbi, có phải con không?”. Không chỉ khác cách xưng hô, nhưng là một “chuyển trục tương quan”. “Ngài” là “Chúa”, Đấng tôi thuộc về; “Rabbi” chỉ còn là người tôi học hỏi. Khi Chúa không còn là Chúa mà chỉ còn là “Thầy” của tôi, thì sự rạn nứt đã chớm nở - một sự đổi hướng âm thầm, nhưng quyết định. Tội không bắt đầu ở ba mươi đồng bạc, mà bắt đầu ở cách xưng hô. ‘Chưa rời tiệc’, Giuđa ‘đã rời tình!’. “Sự băng hoại bắt đầu từ những điều rất nhỏ!” - Phanxicô.

Chi tiết “chấm chung một đĩa” cũng không phải là một cử chỉ ngẫu nhiên. Văn hoá Do Thái coi đó là dấu chỉ của sự gần gũi, sự thân tình sâu sắc nhất được chia sẻ trong một bàn ăn. Người cùng chấm là người được đón vào vòng thân mật, không còn khoảng cách. Thế mà chính trong dấu chỉ hiệp thông ấy, sự phản bội lại đâm chồi. Nghịch lý ở đây là Giuđa không phản bội từ xa, nhưng từ chính nơi thiết thân nhất; không ở ngoài bàn ăn, nhưng ngay trong cử chỉ yêu thương nhất. Khi hiệp thông bị rạn từ bên trong, thì cả dấu chỉ đẹp nhất cũng có thể trở thành nơi khởi đi của sự đổ vỡ. “Sự băng hoại của điều tốt nhất là điều tồi tệ nhất!” - Tôma Aquinô.

Vậy mà trình thuật không hề ghi một cử chỉ loại trừ nào từ phía Chúa Giêsu. Ngài không rời bàn, vẫn trao bánh, vẫn để Giuđa ở lại đến cùng. Đây không chỉ là bao dung, nhưng còn là một mặc khải: Thiên Chúa không rút lại hiệp thông! Ở đây, nghịch lý được đẩy lên: ở lại bàn không đồng nghĩa với ở lại trong sự hiệp thông. Đã có một khoảng cách vô hình mở ra ngay giữa sự gần gũi hữu hình. Vì thế, điều đáng sợ không phải là rời bàn, nhưng là ở lại bàn mà không còn thuộc về. Gần Chúa - mà lòng đã quá xa - ‘chưa rời tiệc, đã rời tình!’. “Họ có Thiên Chúa trên môi, nhưng không có Ngài trong lòng!” - Gioan Kim Khẩu.

Anh Chị em,

Trong Thánh Thể, Chúa Giêsu đang lập lại điều ấy: trao chính mình, cả khi biết có những trái tim lạnh dần và đang rạn từ bên trong; những chọn lựa quay lưng lạnh lùng. Nhưng Ngài không rút lại bánh, không đóng cửa bàn tiệc - “Hãy cầm lấy mà ăn!”; và câu hỏi ngày nào vẫn vang lên: “Chẳng lẽ con sao?”. Bạn và tôi sẽ thưa “Ngài” hay “Rabbi?”. Không phải để tuyệt vọng, nhưng để nhận ra: phản bội không bắt đầu bằng một hành động lớn, mà bằng một dịch chuyển nhỏ trong tim - khi Giêsu không còn là “Chúa” của tôi nữa! “Đối nghịch của đức tin không phải là nghi ngờ, nhưng là dửng dưng!” - Elie Wiesel.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chữa lành những trượt dần âm thầm làm con xa Chúa; giữa bàn tiệc đời mình, xin đừng để con đổi cách xưng hô mà không hay!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Triết lý khổ đau

Không ai thích đau khổ, nhưng không ai lại không đau khổ, và cũng chẳng có ai tránh được đau khổ. Chúa Giêsu còn chịu đau khổ tới tột độ thì chẳng ai thoát đau khổ ở đời này. Cái gì cũng có triết lý riêng, chắc chắn đau khổ có triết lý đặc biệt mà phàm nhân không thể hiểu nổi.

Tâm lý gia Elisabeth Kübler-Ross (1926-2004, người Mỹ gốc Thụy Sĩ) nói: “Những con người đẹp nhất là những người từng bị đánh bại, từng đau khổ, từng tranh đấu, từng mất mát, và đã tìm được đường ra khỏi vực sâu. Những người này có lòng cảm kích, sự nhạy cảm và thấu hiểu đối với cuộc đời, cuộc đời đã làm họ tràn đầy sự cảm thông, sự dịu dàng và quan tâm yêu thương sâu sắc. Người đẹp không tự nhiên mà có”.

Cuộc đời cho chúng ta thấy rằng những con người đẹp nhất (đẹp đúng nghĩa chứ không là đẹp ngoại hình) là những người từng bị đánh bại, từng chịu đau khổ, từng phải tranh đấu, từng chịu mất mát, nhưng họ đã tìm được con đường ra khỏi vực sâu để thoát thân – tức là họ đã đi xuyên qua đau khổ. Những con người này có lòng cảm kích, sự nhạy bén và thấu hiểu đối với cuộc đời, chính cuộc đời đã làm cho họ tràn đầy sự cảm thông, sự dịu dàng và biết quan tâm yêu thương tha nhân một cách sâu sắc. Như vậy, “người đẹp” không thể tự nhiên mà có.

Ôi, loại triết-lý-sống luôn thâm sâu và! Và quả thật, chính nỗi đau khổ lại có sức mạnh kỳ diệu khả dĩ làm cho người ta nên khôn ngoan đích thực. Cụ Ngô Tất Tố đã đặt vấn đề: “Ai nên khôn không khốn một lần?”. Tương tự, cụ Phan Bội Châu đưa ra giả thuyết: “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai?”. Hai câu nghi vấn cũng là hai câu xác định, hai câu hỏi cũng là hai câu trả lời. Đó là dạng “nghi vấn xác định”.

Về tâm linh, Thánh Phanxicô Assisi thổ lộ: “Tôi hy vọng rất nhiều về cái hay, cái tốt. Vì vậy mà tất cả đau khổ đều là dễ thương”. Như vậy có nghĩa là cái hay và cái tốt đều xuất hiện sau đau khổ. Và thật kỳ lạ, văn thi sĩ Clive Staples Lewis (1898-1960, Anh quốc) xác định: “Thiên Chúa thầm thì với chúng ta khi chúng ta vui, nhưng Ngài nói to trong lương tâm của chúng ta khi chúng ta đau khổ”.

Sự đau khổ thật là mầu nhiệm. Thật vậy, cũng như tình yêu, có lẽ chẳng ai định nghĩa thỏa đáng về sự đau khổ, bởi vì đau khổ có nhiều dạng và nhiều mức độ. Thiết tưởng có thể đơn giản hóa để dễ hiểu theo phương trình: Đau khổ = Ưu sầu + Nước mắt. Tất nhiên phải “trừ” loại nước mắt vui mừng, dù hai loại nước mắt đều có vị mặn. Rất dễ dàng lấy vạt áo lau khô những “giọt mặn” rỉ ra từ khóe mắt, nhưng lại rất khó xóa “vết mặn” khỏi trái tim mình.

Thật vậy, sướng hay khổ còn do mỗi người có khái niệm riêng. Có những triết lý dễ hiểu, có những triết lý khó hiểu, thậm chí là không thể hiểu: Triết lý Thập Giá – tức là triết lý về sự đau khổ. Thảo nào Chúa Giêsu thường xuyên nhắc nhở người ta phải vác thập giá hằng ngày và tìm cách đi vào cửa hẹp.

Trong cuộc sống đời thường, chẳng ai ưa thích gì nỗi khổ, thế nhưng đau khổ vẫn luôn có giá trị tích cực mà chúng ta phải cố gắng hiểu suốt cả đời. Đại văn hào Victor Hugo nhận xét: “Đau khổ cũng như hoa quả. Chúa không khiến nó mọc lên trên những cành quá yếu ớt để chịu nổi nó”. Những người chịu đau khổ hẳn là những người mạnh mẽ, vì Chúa biết họ đủ sức nên mới để cho họ chịu đau khổ như vậy. Thật vậy, Elbert Hubbard giải thích: “Nếu bạn đau khổ, hãy cảm ơn trời! Vì đó là dấu hiệu chắc chắn cho thấy bạn đang sống”. Chính lúc chịu đau khổ lại là lúc người ta sống viên mãn, thật kỳ lạ vô cùng!

Triết lý đau khổ thật kỳ diệu, đúng là sự mầu nhiệm. Kinh Thánh cho biết rằng mặc dù đối mặt với các hung tin dồn dập, nhưng ông Gióp vẫn bình tĩnh. Ông trỗi dậy, xé áo mình ra, cạo đầu, sấp mình xuống đất, sụp lạy và chân thành cầu nguyện: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, con sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng danh Đức Chúa!” (G 1:21). Đặc biệt là dù đau khổ cùng cực, nhưng “ông Gióp KHÔNG hề phạm tội cũng KHÔNG buông lời trách móc phạm đến Thiên Chúa” (G 1:22). Hai cái “không” của ông Gióp trên cả tuyệt vời. Hiểu được như vậy thì cuộc đời sẽ thanh thản!

Người đời cũng có cách nói thú vị: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt, còn hơn le lói suốt trăm năm”. Có lẽ đó là cách “tự an ủi” của người đời. Nhưng chúng ta cũng có thể hiểu theo góc độ nào đó về Chúa-Giêsu-làm-người. Cuộc đời Ngài đầy đau khổ ê chề, thế nhưng Ngài vẫn có khoảnh khắc huy hoàng là được thiên hạ tung hô lúc Ngài cưỡi trên lưng lừa trên đường tiến vào Thành Giêrusalem. Và chắc chắn không ngoài Thánh Ý Chúa Cha.

Ngày Lễ Lá, Phụng vụ Lời Chúa được Giáo hội sử dụng là bài ca thứ ba trong các “Bài Ca của Người Tôi Trung”, ngắn gọn mà ý nghĩa: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho tôi nói năng như một người môn đệ, để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Sáng sáng Người đánh thức, Người đánh thức tôi để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ. Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui” (Is 50:4-5). Quả thật, đó là điều không dễ, nhưng vẫn giữ được lòng trung tín ngay trong lúc chịu đau khổ!

Thật là kỳ lạ, đau khổ không làm người ta yếu đuối mà lại như loại “nước tăng lực” làm tăng sức chịu đựng: “Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ. Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt ra như đá. Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng” (Is 50:6-7). Ôi, thật là mầu nhiệm, những người không có niềm tin Kitô giáo chắc chắn không thể hiểu được, và có thể họ sẽ cho những người chịu đau khổ là những người điên khùng.

Tác giả Thánh Vịnh than thở: “Thân sâu bọ chứ người đâu phải, con bị đời mắng chửi dể duôi, thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai: ‘Nó cậy Chúa, mặc Người cứu nó! Người có thương, giải gỡ đi nào!’ ” (Tv 22:7-9). Thách thức quá lớn, khoảng cô đơn quá rộng, nỗi nhục nhã quá ê chề!

Người ta thường nói: “Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”. Điều này không khác quy luật muôn thuở, giống như định mệnh vậy. Đau khổ này cứ tiếp tục chồng chất lên đau khổ khác: “Quanh con bầy chó đã bao chặt rồi. Bọn ác đó trong ngoài vây bủa, chúng đâm con thủng cả chân tay, xương con đếm được vắn dài; chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem. Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn. Chúa là sức mạnh con nương, cứu mau, lạy Chúa, xin đừng đứng xa” (Tv 22:17-20). Không còn gì để mất nữa, khốn khổ tột cùng, lo sợ run cả người, nguyện cầu không ngừng, thế nhưng vẫn chẳng nghe động tĩnh gì!

Tuy nhiên, dù có thế nào thì vẫn một lòng tín thác, vẫn xưng tụng Thiên Chúa, vì đó là mục đích sống: “Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho anh em tất cả được hay, và trong đại hội dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương. Hỡi những ai kính sợ Đức Chúa, hãy ca tụng Người đi! Hỡi toàn thể giống nòi Gia-cóp, nào hãy tôn vinh Người! Dòng dõi Ít-ra-en tất cả, nào một dạ khiếp oai!” (Tv 22:23-24).

Cầu nguyện là lương thực nuôi dưỡng đời sống tâm linh. Cầu nguyện mà không nghe động tĩnh gì, đó là dấu chỉ chắc chắn rằng Chúa đang xót thương. Lại thêm một điều kỳ diệu. Muốn hiểu được triết lý này, đòi hỏi phải có niềm tin Kitô giáo. Với người ngoài Kitô giáo hoặc vô thần, họ cho đó là “bùa mê, thuốc lú”, ai tin như vậy đều bị họ coi là dại dột, là dốt nát, là ngu xuẩn hoặc điên rồ.

Thánh Phaolô phân tích: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2:6-7). Chúa Giêsu không chỉ tự nguyện như vậy, mà còn hơn thế nữa: “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2:8). Thật đúng là mầu nhiệm, do đó mà khó hiểu quá. Tuy nhiên, chỉ là “khó hiểu” chứ không phải là “không thể hiểu”.

Trong cuộc sống đời thường, người ta cũng nhận thấy rằng tình yêu nào cũng cần có “chất” đau khổ, có đau khổ mới chứng tỏ tình yêu chân chính. Như một lời xác định, đại văn hào Victor Hugo nói: “Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa; chết vì yêu là sống trong tình yêu”. Chết mà là sống. Lạ thật, người đời mà còn nhận định được như vậy đấy!

Chắc chắn đau khổ có giá trị nhất định và rất độc đáo. Gian nan là nhịp cầu dẫn tới thành công, đau khổ là nhịp cầu dẫn tới vinh quang. Cũng vậy, sự chết là con đường dẫn tới sự sống, là cửa ngõ bước vào cõi trường sinh: “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời” (Thánh Phanxicô Assisi). Còn Thánh Phaolô kết luận: “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2:9-11).

Khi Chúa Giêsu hiển hách vào Thành Giêrusalem là lúc Ngài đi vào cõi đau khổ, và từ “biên giới” đầy gian khổ ở Vườn Dầu lại tiếp tục dẫn tới “cửa ải” sự chết nơi đỉnh đồi Can-vê. Nhưng từ nơi Can-vê “chết chóc” ấy lại dẫn tới cửa sự sống là Nước Trời. Một bản đồ lòng vòng như mê cung nhưng lại thú vị và hấp dẫn, có bao người khao khát sử dụng loại bản đồ này, và đã có nhiều người đạt được mục đích sống đó: Các thánh nhân, đặc biệt là các vị tử đạo.

Đời là thế. Chuyện gì đến sẽ đến – dù vui hay buồn, dù tốt hay xấu, dù to hay nhỏ. Đó là điều tất yếu của cuộc sống. Bài thương khó hôm nay là một bộ phim buồn khiến lòng người trĩu nặng…

Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, một người trong Nhóm Mười Hai, đành lòng bán Thầy mình để lấy một số tiền. Từ lúc đó, gã cố tìm dịp thuận tiện để nộp Thầy mình. Vật chất và tiền bạc có ma lực cực mạnh khiến người ta mù quáng, không còn đủ lý trí sáng suốt để phân biệt đâu là phải hay trái. Ma lực đó rất khó cưỡng lại!

Ngày thứ nhất trong tuần bánh không men, các môn đệ đến thưa với Đức Giêsu xem Ngài muốn họ dọn Tiệc Vượt Qua ở đâu. Ngài dặn dò họ kỹ lưỡng từng chi tiết.

Chiều đến, Đức Giêsu vào bàn tiệc với mười hai môn đệ. Đang tiệc vui, bỗng dưng Ngài bảo có người sẽ nộp Ngài. Các môn đệ tá hỏa tam tinh và rầu thúi ruột, họ hỏi nhỏ nhau xem ai là thủ phạm. Chẳng ai biết. Ngài nói: “Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy. Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn!” (Mt 26:23-24). Giu-đa nhột gáy, nhưng vẫn giả nai: “Thầy ơi, chẳng lẽ con sao?”. Ngài xác nhận là đúng!

Cũng trong bữa ăn đó, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy” (Mt 26:26). Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: “Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26:27-28). Đây là lúc thật linh thiêng và xúc động, nhưng lại có nỗi buồn khi Ngài bảo: “Từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy” (Mt 26:29).

Sau khi hát thánh vịnh xong, Thầy trò cùng ra núi Ô-liu. Bấy giờ Đức Giêsu nói với các ông về nhiều điều cần thiết, vừa cảnh báo vừa trăn trối. Nghe Thầy nói đích danh mình là sẽ chối Thầy ba lần. Ông Phêrô nói chắc: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy” (Mt 26:35). Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy. Nhưng rồi… điều gì đến vẫn cứ đến!

Vào vùng đất Ghết-sê-ma-ni, Ngài bảo mọi người ở lại, chỉ dẫn theo Phêrô và hai người con ông Dê-bê-đê đi theo. Ngài bắt đầu cảm thấy buồn rầu xao xuyến cực độ nên phải thốt lên: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy” (Mt 26:38). Ngài đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống, cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26:39). Nhân tính thật yếu đuối, nhưng Ngài vẫn quyết tuân phục Ý Cha cho đến cùng.

Ngài trở lại chỗ ba đệ tử ruột, ôi thôi, họ lăn ra ngủ khò. Ngài nói với Phêrô: “Thế ra anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao? Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26:40-41). Phêrô còn ngái ngủ, chỉ biết gãi đầu thôi. Ngại ghê đi!

Rồi Ngài lại đi cầu nguyện lần thứ hai: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha” (Mt 26:42). Ngài quay lại, thấy các môn đệ vẫn đang ngon giấc, mắt họ nặng trĩu. Có lẽ họ thấm mệt vì có chút men và trời đã quá khuya. Ngài để mặc các ông ngủ mà đi cầu nguyện lần thứ ba, cũng với lời như trước. Rồi Ngài đến chỗ các môn đệ, đúng lúc kẻ nộp Ngài vừa tới!

Giu-đa tỏ ra lịch sự đến chào và hôn Thầy, nhưng là để “chỉ điểm” cho những kẻ thủ ác bắt Thầy. Phêrô nóng gáy lấy gươm chém đứt tai Man-khô, đầy tớ của thầy thượng tế. Nhưng Chúa Giêsu chữa lành cho gã và bảo Phêrô cất gươm đi. Họ ập tới bắt trói Ngài. Thấy vậy, các môn đệ tá hỏa và bỏ của chạy lấy người, có kẻ mất dép, có kẻ tuột cả áo xống mà chạy tồng ngồng đi trốn. Nói thì mạnh lắm, cuối cùng cũng chỉ “lẻo mép”. Phàm nhân yếu đuối và nhát đảm quá!

Họ bắt Đức Giêsu và điệu đến thượng tế Cai-pha. Phêrô đi theo xa xa, đến tận dinh thượng tế, rồi vào bên trong ngồi với bọn thuộc hạ, xem kết cuộc ra sao.

Họ chất vấn Đức Giêsu đủ điều, nhưng Ngài vẫn im lặng. Vì có nói với họ thì cũng như nước đổ lá môn, nói với đầu gối còn hơn. Cuối cùng, vị thượng tế nói: “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết: ông có phải là Đấng Kitô Con Thiên Chúa không?” (Mt 26:63). Nghe chừng đạo đức lắm vì ông ta dám “nhân danh Chúa” mà tra xét. Lúc này Đức Giêsu mới lên tiếng: “Chính ngài vừa nói. Hơn nữa, tôi nói cho các ông hay: từ nay, các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến” (Mt 26:64). Như giọt nước làm tràn ly, vị thượng tế liền xé áo mình ra và bảo Đức Giêsu nói phạm thượng, rồi ông ta hỏi mọi người nghĩ sao, họ liền đồng thanh: “Hắn đáng chết!”.

Sau đó, kẻ thì khạc nhổ vào mặt và đấm đánh Ngài, kẻ lại tát Ngài, rồi họ nguyền rủa và lăng mạ Ngài đủ thứ. Mỗi chúng ta cũng đã từng “khạc nhổ” hoặt “tát” vào tha nhận – cách này hoặc cách nọ, và đó là sỉ nhục chính Chúa Giêsu!

Tương tự, chuyện gì sẽ đến cũng lại đến. Phêrô được Thầy báo trước, nhưng cũng không thể vượt qua chính mình. Thiên hạ thấy ông nên bàn tán xì xầm, ông sợ nên không dám nhận mình là người quen với Đức Giêsu, và còn thề độc là không hề quen với người đang bị hành hạ bên trong kia. Và rồi có tiếng gà gáy, ông sực nhớ lời Đức Giêsu đã nói: “Gà chưa kịp gáy thì anh đã chối Thầy ba lần”. Ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết. Chắc hẳn từ đó, ông rất sợ tiếng gà gáy sáng, nhưng ông cũng phải cảm ơn tiếng gà gáy đó.

Kinh Thánh cho biết rằng vào mỗi dịp lễ lớn, tổng trấn có lệ phóng thích cho dân chúng một người tù, tuỳ ý dân. Khi ấy có một người tù khét tiếng tên là Ba-ra-ba. Người ta đồng ý thả Ba-ra-ba và cương quyết giết Đức Giêsu. Phi-la-tô thừa biết chỉ vì ghen tị mà họ nộp Ngài, thế nhưng vì địa vị chức tước mà ông làm ngơ với công lý, vợ ông bảo đừng nhúng tay vào vụ xử vụ này, ông đi rửa tay để chứng tỏ mình vô can. Nhưng đó chỉ là giả hình, hèn nhát!

Thật vậy, chính Phi-la-tô đem Đức Giêsu vào trong dinh và tập trung cả cơ đội quanh Ngài. Chúng lột áo Ngài ra, khoác cho Ngài tấm áo choàng đỏ, rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Ngài một cây sậy. Chúng quỳ gối trước mặt Người mà nhạo báng, chúng khạc nhổ vào Ngài và lấy cây sậy mà đập vào đầu Ngài. Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra, cho Ngài mặc áo lại như trước, rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá.

Trên đường, chúng gặp một người Ky-rê-nê tên là Si-môn, chúng bắt ông vác thập giá của Ngài, vì thấy Ngài yếu sức, sợ không đến nơi hành hình. Những người nói mạnh hứa chắc đâu cả rồi? Những người tín cẩn của Đức Giêsu đâu cả rồi? Những người được Đức Giêsu chữa lành đâu cả rồi? Những người được Đức Giêsu cho ăn no nê đâu cả rồi? Sao chỉ có mình ông Si-môn ngoại giáo vác đỡ Thập Giá cho Ngài? Cuộc đời là thế thật sao?

Khi đến Gôn-gô-tha, nghĩa là Đồi Sọ, chúng cho Ngài uống rượu pha mật đắng, nhưng Ngài chỉ nếm một chút mà không chịu uống. Đóng đinh Ngài vào thập giá xong, chúng đem áo Ngài ra bắt thăm mà chia nhau, rồi họ cứ ngồi lì đó mà canh giữ Ngài. Cùng bị đóng đinh với Ngài là hai tên cướp, một tên bên phải, một tên bên trái.

Điều đáng buồn là những kẻ qua người lại đều nhục mạ và thách thức Ngài. Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Ngài vì họ tưởng mình đã hành động đúng và hả hê chiến thắng! Thậm chí một tên cướp cùng bị đóng đinh với Ngài cũng không tiếc lời sỉ vả và thách thức Ngài.

Bỗng dưng bóng tối bao phủ cả mặt đất từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín (12 giờ trưa tới 3 giờ chiều). Vào giờ thứ chín, trong nỗi cô đơn quá lớn, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: “Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni – lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27:46). Người ta cứ tưởng Ngài gọi ông Ê-li-a, rồi một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Ngài uống. Rồi Đức Giêsu lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn!

Ngay lúc đó, bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới, đất rung đá vỡ, mồ mả bật tung, xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy. Thấy động đất và các sự lạ, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giêsu đều rất đỗi sợ hãi và phải thú nhận: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27:54). Ít ra cũng phải như thế, muộn cũng còn hơn không!

Và sự thật mãi là sự thật, dù người ta cố ý bóp méo thế nào thì cũng không thể biến hóa cách nào khác. Thắng và Thua đều cùng vần T. Sự đời lạ lắm, có những khi cứ tưởng Thắng mà hóa Thua, nhưng có khi thấy Thua mà lại là Thắng. Và chuyện gì sẽ đến cũng lại đến! Chưa đánh được người thì mặt đỏ như vang, đánh được người rồi thì mặt vàng như nghệ. Đúng là như thế!

Ước gì mỗi chúng ta đều như những chiếc lá luôn xanh biếc màu đức tin, luôn khiêm nhường vẫy chào đón Đức Kitô trong mọi hoàn cảnh, trong lúc vui đã đành, trong lúc buồn mới thực sự có giá trị. Được như vậy là đã hiểu được triết lý của sự đau khổ rồi đấy!

Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin ban Thần Khí để con có thể hiểu được triết lý của sự đau khổ, thông suốt triết lý của Thập Giá, nhờ đó con đủ sức vững bước theo chân Ngài đi xuyên qua mọi đau khổ. Xin giúp con can đảm cùng chết với Đức Kitô để xứng đáng được phục sinh vinh quang với Ngài. Con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa Cứu Độ của con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Subcategories