3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

CÓ MỤC TỬ, CÓ SỰ SỐNG

Trong Phụng vụ Mùa Phục Sinh, sứ điệp về Chúa Kitô Phục Sinh không chỉ dừng lại ở việc Ngài chiến thắng cái chết, mà còn mở rộng ra mối tương quan thiết thân giữa Ngài và nhân loại. Các bài đọc Kinh Thánh hôm nay cho thấy hành trình đi đến ơn cứu độ: từ lời Thánh Phêrô mời gọi sám hối, nhờ sự hy sinh tự hiến của “Con Chiên bị sát tế”, đến với Chúa Giêsu là “Cửa” và là “Mục Tử” dẫn đưa đoàn chiên vào đồng cỏ sự sống.

  1. Sám hối là cửa ngõ bước vào Nước Trời

Sách Tông đồ Công vụ đưa chúng ta trở lại buổi bình minh của Giáo hội. Thánh Phêrô, sau khi lãnh nhận Chúa Thánh Thần, đã đứng lên dõng dạc tuyên bố một sự thật chấn động: “Chúa Giêsu mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Ngài làm Chúa và làm Đấng Kitô” (Cv 2: 36).

Phản ứng của đám đông là chìa khóa cho sự biến đổi: “Họ đau đớn trong lòng” (Cv 2: 37). Trong tiếng Hy Lạp, từ κατανυσσομαι - katanyssomai diễn tả một nỗi đau như bị “đâm thấu” vào tim, một nỗi buồn thống hối lành thánh, xúc động sâu xa trước tình thương của Thiên Chúa. Đây không phải là nỗi buồn ủy mị, mà là sự bừng tỉnh của lương tâm trước chân lý.

Khi người ta hỏi: “Thưa các ông, chúng tôi phải làm gì?” (Cv 2: 37), câu trả lời của Phêrô rất dứt khoát: “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Chúa Giêsu Kitô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần” (Cv 2: 38). Để vào được “đoàn chiên” của Thiên Chúa, con người không thể kiêu ngạo trèo qua tường, mà phải khiêm hạ đi qua cửa hẹp thừa nhận lỗi lầm của mình.

Lời kêu gọi “Anh em hãy tránh xa thế hệ gian tà này để được cứu độ” (Cv 2: 40) của Phêrô không mang nghĩa cô lập thế gian, nhưng là sự tách biệt khỏi lối sống khước từ Thiên Chúa. Ba ngàn người gia nhập đạo ngày hôm ấy là minh chứng cho sức mạnh của hồng ân khi con người dám mở lòng đón nhận tiếng gọi của Vị Mục Tử qua lời giảng của các Tông đồ.

  1. Bước theo Chúa Kitô

Thánh Phêrô trong thư thứ nhất đi sâu vào mầu nhiệm khổ nạn của Chúa Kitô, cái giá để mở ra cánh cửa sự sống. Thánh Phêrô mời gọi chúng ta: “Chúa Kitô đã chịu đau khổ vì anh em,để lại một gương mẫu cho anh em dõi bước theo Ngài” (1 Pr 2: 21). Mục tử nhân lành không chỉ đứng xa ra lệnh, nhưng đi trước. Bước chân của Ngài thấm máu. Mục tử đã trở thành con chiên, Đấng vô tội đã gánh lấy tội để chiên được sống. Trong bài ca Người Tôi Trung, ngôn sứ Isaia đã nói: “Ngài đã thí mạng mình không màng cái chết, và đã bị liệt hang những kẻ ngỗ nghịch, là đã mang lấy tội lỗi nhiều người, và đứng ra bầu chữa cho những kẻ ngỗ nghịch” (Is 53: 12). Thánh Phêrô khẳng định lại lời ngôn sứ: “Vì Ngài phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành” (1 Pr 2: 24). Đây là lời an ủi lớn lao cho những ai đang chịu đau khổ.

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết về ý nghĩa của đau khổ: “Chúa Kitô đã biến đau khổ thành nền tảng vững chắc nhất của điều thiện cuối cùng, đó là điều thiện của ơn cứu độ đời đời. Qua sự đau khổ trên thập giá, Chúa Kitô đã chạm đến tận gốc rễ của sự ác, của tội lỗi và sự chết. Ngài đã chiến thắng kẻ chủ mưu của sự ác, là Satan, và sự nổi loạn dai dẳng của hắn chống lại Đấng Tạo Hóa. Đối với người anh chị em đang đau khổ, Chúa Kitô tiết lộ và dần dần hé lộ những chân trời của Nước Thiên Chúa: những chân trời của một thế giới được hoán cải cho Đấng Tạo Hóa, một thế giới không còn tội lỗi, một thế giới được xây dựng trên sức mạnh cứu rỗi của tình yêu” (Thông điệp Salvifici Doloris, số 26).

  1. Chúa Giêsu là cửa và mục tử

Đỉnh cao của mạc khải về tương quan giữa mục tử và chiên được Chúa Giêsu diễn tả qua hai hình ảnh đan xen: Cửa và Mục Tử.

Tại sao Chúa Giêsu lại tự ví mình là cánh cửa? Trong bối cảnh Trung Đông xưa, các chuồng chiên ngoài trời thường không có cánh cửa gỗ. Vị mục tử sẽ nằm ngay lối ra vào. Chính thân thể ông là cánh cửa. Không một con chiên nào ra hay vào mà không đi qua người ông, và không một kẻ thù nào xâm nhập được mà không chạm đến thân xác ông.

Ai đi qua Chúa Kitô không phải là đi vào sự giam cầm, mà là bước vào sự tự do đích thực của con cái Thiên Chúa: “Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ” (Ga 10: 9). Người ấy sẽ được bảo vệ vì Chúa Giêsu là lằn ranh bảo vệ chúng ta trước những “kẻ trộm”, nghĩa là các tư tưởng sai lạc, những cám dỗ phù phiếm.

Thánh Tôma Aquinô kêu mời: “Hãy chú ý: không ai khác là cửa ngoài Chúa Kitô… Chắc chắn thật thích hợp khi Chúa Kitô là một mục tử, vì cũng như đàn chiên được người chăn chiên dẫn dắt và nuôi dưỡng, thì các tín hữu cũng được Chúa Kitô nuôi dưỡng bằng thức ăn thiêng liêng, bằng chính thân thể và máu của NgàiHãy bám chặt vào Chúa Kitô nếu muốn được an toàn. Các con sẽ không thể lạc lối vì Ngài là con đường.” [1]

Giữa hàng tỷ người trên thế giới, Vị Mục Tử không nhìn chúng ta như một khối đám đông vô danh. Ngài gọi “tên từng con” (Ga 10: 3). Đây là khía cạnh cá vị nhất của đức tin. Trong Kinh Thánh, cái tên đại diện cho bản chất và định mệnh của một con người. Việc Chúa gọi tên có nghĩa là Ngài thấu hiểu mọi nỗi đau, mọi khao khát và mọi yếu đuối của chúng ta. “Chúa yêu thương mỗi người chúng ta như thể chỉ có một mình chúng ta.” [2]

Giữa một thế giới đầy rẫy những tạp âm và những lời hứa hẹn huyễn hoặc của “kẻ trộm”, làm sao để nhận ra tiếng Chúa? Chúa Giêsu chỉ cách: “Chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh” (Ga 10: 4). Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã gợi ý: “Người chăn chiên tốt lắng nghe đàn chiên, hướng dẫn đàn chiên, chăm sóc đàn chiên. Và đàn chiên biết cách phân biệt giữa những người chăn chiên này, chúng không nhầm lẫn. Đàn chiên phó thác mình cho người chăn chiên tốt, phó thác mình cho Chúa Giêsu. Chỉ có người mục tử nào giống Chúa Giêsu mới có thể giành được lòng tin của đàn chiên, bởi vì Ngài là cửa…​​Ngài hiền lành. Một trong những dấu hiệu của Người Chăn Chiên Tốt là sự hiền lành. Người Chăn Chiên Tốt là người hiền lành. Một mục tử không hiền lành thì không phải là một mục tử tốt…Thêm vào đó, một người chăn chiên tốt lành thì dịu dàng; ông ấy có sự dịu dàng gần gũi, biết từng con chiên một, gọi tên từng con, và chăm sóc chúng như thể đó là con duy nhất của mình, đến nỗi khi trở về nhà mệt mỏi sau một ngày làm việc, mà nhận ra có một con bị mất, ông lại ra ngoài tìm kiếm và cõng nó về nhà trên vai. Đây là một người chăn chiên tốt lành, đây là Chúa Giêsu, đây là Đấng đồng hành cùng chúng ta trên con đường đời” (Bài giảng tại Nhà trọ Thánh Mátta ngày 03/05/2020).

Sứ mạng của Chúa Giêsu là “để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10: 10). Satan, tội lỗi, sự ích kỷ như “kẻ trộm” đến để phá hủy, còn Chúa đến để ban sự sống dồi dào. Dồi dào - περισσός trong tiếng Hy Lạp không có nghĩa là “nhiều về số lượng” mà là “dư đầy về chất lượng”, là sự quảng đại vô hạn của Thiên Chúa đối với con người, đem lại cho con người một ý nghĩa tối hậu trong đời sống, một niềm hy vọng không thể bị dập tắt bởi cái chết, được thông phần vào bản tính vinh quang của Thiên Chúa nhờ ân sủng. “Thật vậy, vinh quang của Thiên Chúa là con người sống, và sự sống của con người là được nhìn thấy Thiên Chúa. Nếu sự mạc khải của Thiên Chúa qua công trình tạo dựng đã đem đến sự sống cho mọi loài trên trái đất, thì việc Ngôi Lời biểu lộ Chúa Cha lại càng đem lại sự sống gấp bội cho những ai thấy Thiên Chúa” (GLHTCG, số 294).

Sự sống dồi dào ấy hôm nay được trao ban nhờ các Bí tích của Giáo hội qua các vị lãnh đạo Chúa đã đặt làm mục tử, nhất là Tại bàn tiệc Thánh Thể, Vị Mục Tử không chỉ dẫn chúng ta đến đồng cỏ xanh tươi, mà chính Ngài trở thành Đồng Cỏ, thành Lương Thực cho chúng ta: “Lạy Chúa là Mục Tử hằng hữu, Chúa không bỏ rơi đoàn chiên Chúa, nhưng nhờ các Thánh Tông Ðồ, Chúa luôn che chở, giữ gìn để đoàn chiên được hướng dẫn nhờ các vị lãnh đạo Chúa đã đặt làm mục tử nhân danh Con Chúa coi sóc đoàn chiên” (Kinh Tiền Tụng các Tông Ðồ I).

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta dành thời gian thinh lặng để lắng nghe và phân định tiếng Chúa qua Kinh Thánh và các biến cố trong đời; tin tưởng và phó thác cuộc đời cho Đấng “canh giữ linh hồn” mình, như tác giả thánh vịnh tin tưởng kêu lên: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Ngài đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Ngài dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Ngài. Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm” (Tv 23: 1- 4)); luôn sẵn sàng sám hối quay trở về như những người Do Thái năm xưa khi nhận ra mình đã đi lạc.

Mỗi Kitô hữu, tùy theo ơn gọi của mình, là cha mẹ trong gia đình, là người lãnh đạo cộng đoàn, thầy cô giáo..., đều được mời gọi phản chiếu hình ảnh Mục Tử Nhân Lành: biết tên, biết hoàn cảnh và yêu thương những người được giao phó cho mình, sẵn sàng hy sinh cái tôi ích kỷ để người khác được sống, không vào ràn chiên bằng quyền lực leo tường hay áp đặt ý riêng.

Tin Mừng Chúa Nhật Chúa Chiên Lành khẳng định tình yêu vô biên của Thiên Chúa: chúng ta không cô độc, nhưng được cứu chuộc bằng chính giá máu Chúa Kitô. Ngài là cánh cửa đón nhận tội nhân và là Mục Tử dẫn lối từ cái chết đến sự sống phục sinh. Nguyện cho chúng ta khi nghe tiếng Chúa gọi, biết sẵn sàng đáp lời và can đảm bước qua “Cửa Kitô” để tận hưởng đồng cỏ sự sống cùng dòng nước ân sủng bình an.

Lạy Chúa Giêsu, Mục Tử Nhân Lành, xin hãy dẫn dắt chúng con. Xin cho chúng con nhạy bén trước tiếng Chúa và can đảm theo bước chân Chúa trên con đường tự hiến, để cùng với Ngài, chúng con đạt tới bàn tiệc vĩnh cửu trên trời. Amen.

 

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://www.catholicace.com/christ-the-son/#good-shepherd

[2]  https://www.saintaug.nsw.edu.au/our-college/mission-values/our-patron-saint-augustine/saint-augustine-quotes

VẮNG MẶT, KHÔNG VẮNG HOẠT ĐỘNG

Thứ Bảy Tuần 3 Phục Sinh A

“Các tông đồ đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông”.

“Đứng trên đỉnh đồi, tôi nhìn thung lũng này đến thung lũng khác; từ ánh nắng đến sương mù, từ bóng tối của đêm. Bước theo Ngài trên đường đời quanh co, bằng niềm tin nhiều hơn bằng thị giác… Tôi an lòng về một sự hiện diện liên lỉ!” - William Cowper.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy: trên đường đời quanh co của các môn đệ, Đức Kitô không còn hiện diện như trước; nhưng trong đó, một cách hiện diện khác được tỏ lộ - âm thầm, nhưng sâu xa hơn: Ngài ‘vắng mặt, không vắng hoạt động’.

Các môn đệ được sai đi trong một hoàn cảnh chưa từng có: không còn Thầy trước mắt, không còn dấu chỉ hữu hình, chỉ còn một lệnh truyền. Thế nhưng, họ vẫn ra đi. Không phải như thể Ngài đang ở đó, nhưng vì Ngài đang hiện diện theo một cách khác. Điều làm nên khác biệt không nằm ở họ, nhưng ở nơi Đấng tuy không còn thấy, nhưng vẫn hành động. Chính trong kinh nghiệm ấy, họ nhận ra: sự vắng mặt không phải là mất đi, nhưng là một cách hiện diện. “Thiên Chúa hiện diện trong mọi sự bằng chính quyền năng và hoạt động của Ngài!” - Tôma Aquinô. Vì thế, sự hiện diện của Ngài không bị giới hạn trong hình thức hữu hình, nhưng lan toả trong hoạt động. Khi các môn đệ lên đường, chính Ngài đang lên đường với họ.

Lệnh truyền của Marcô không chỉ vượt quá sức người, nhưng mở ra một thực tại mới: “Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ mà loan báo Tin Mừng!”. Như Michael Pakaluk nhận định: họ được mời gọi chỉnh đốn những gì hỏng hóc, tái thiết những gì bị đánh mất, và đưa thế giới trở về trật tự của Thiên Chúa; nhưng chính Ngài mới là Đấng làm điều đó trong họ. Người môn đệ không được sai đi vì đủ khả năng, nhưng vì được ở trong một tương quan, nơi Đấng đang hoạt động tiếp tục công trình của Ngài. Đây không còn là một parousia hữu hình, nhưng là một sự hiện diện được nhận ra trong hành động.

Trong thư của mình, Phêrô nhắc rằng giữa thử thách, Thiên Chúa vẫn đồng hành. Có những lúc không còn thấy Ngài theo cách cũ, nhưng chính khi đó, Ngài lại ở gần hơn. “Chính Thiên Chúa sẽ cho anh em được nên hoàn thiện, vững vàng, mạnh mẽ và kiên cường” - bài đọc một. Không phải họ tự đứng vững, nhưng được nâng đỡ từ bên trong; bởi thế, họ sống trong tâm tình tạ ơn: “Lạy Chúa, tình thương Chúa, đời đời con ca tụng!” - Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô không đi vào một nơi chốn, nhưng đi vào trong Cha. Từ tương quan ấy, Ngài không ngừng hoạt động. Vì thế, nếu các môn đệ thấy Ngài vẫn hành động, thì không phải vì Ngài trở lại, nhưng vì Ngài không bao giờ rời khỏi tương quan ấy. Chính ở đó, điều tưởng như vắng mặt lại trở thành một hiện diện sâu xa. Điều này cũng đúng với chúng ta. Ngài không luôn ở trước mắt, nhưng không bao giờ vắng mặt. Chúng ta được mời gọi nhận ra Ngài không trong điều dễ thấy, nhưng trong chính những gì đang diễn ra. “Tìm gặp Thiên Chúa trong mọi sự!” - Ignatiô Loyola.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa những quanh co của đời con, khi không còn thấy rõ, xin cho con vẫn bước theo Ngài bằng đức tin; và an lòng vì Ngài không bao giờ vắng mặt!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Đường hy vọng

Bài Tin Mừng hôm nay thật đẹp. Đẹp vì lời văn óng ả. Đẹp vì tình tiết ly kỳ. Đẹp vì tình nghĩa đậm đà. Đẹp vì những tư tưởng thần học thâm sâu. Nhưng đẹp nhất là vì bài tin Mừng chất chứa một niềm hy vọng trong sáng, xua tan mọi bóng tối thất vọng não nề.

Hai môn đệ rời Giêrusalem trở về làng cũ. Giêrusalem là trung tâm tôn giáo. Rời Giêrusalem là dấu hiệu của sa sút niềm tin. Giêrusalem là trung tâm hoạt động. Rời Giêrusalem là dấu hiệu của chán nản buông xuôi. Trước kia hia ông đã bỏ nhà cửa, gia đình để đi theo Chúa Giêsu. Nay hai ông trở về như hai kẻ thua cuộc. Ngày ra đi ôm ấp giấc mộng thành đạt. Ngày trở về ôm nặng một mối sầu. Sầu vì đã mất Người Thầy yêu quí. Sầu vì giấc mộng không thành. Hai linh hồn sầu não, thất vọng lê bước trong ánh mặt trời chiều.

Những giữa lúc buồn tủi, thất vọng ấy, Chúa Giêsu đã xuất hiện. Lập tức ánh sáng rực lên giữa màn đêm đen. Niềm vui rộn rã xoá tan u sầu. Ngọn lửa bừng lên sưởi ấm những trái tim lạnh giá. Vì Chúa Giêsu đã đem đến cả một trời hy vọng.

Đọc trong bài Tin Mừng, ta thấy Chúa Giêsu đã nhen nhúm niềm hy vọng trong tâm hồn các môn đệ Emmau bằng ba loại ánh sáng.

1) Ánh sáng đức tin thắp lên niềm hy vọng.

Hai môn đệ đã chứng kiến cuộc sống và cái chết của Chúa Giêsu từ đầu cho đến cuối. Các ông đã thấy biết bao nhiêu phép lạ Người làm. Các ông đã nghe biết bao lời hay ý đẹp từ miệng Người phán ra. Các ông đã công nhận Người là một “Ngôn sứ đầy uy thế xét về việc làm cũng như lời nói”. Các ông đã hy vọng Người là Đấng giải thoát Israel. Nhưng cuộc thương khó và cái chết của Đức giêsu khiến các ông chán nản và thất vọng. Đến nỗi khi các phụ nữ ra mộ, gặp Thiên Thần báo tin Chúa đã phục sinh, về kể lại cho các ông vẫn không tin.

Bấy giờ Chúa Giêsu bảo các ông “Lòng trí các anh sao mà chậm tin lời các ngôn sứ vậy”. Chúa Giêsu kêu gọi đức tin trở về. Chúa Giêsu khơi dậy đức tin đã lụi tàn bằng cặp mắt phàm trần và các ông không hiểu gì. Khi có đức tin, các ông sẽ hiểu tất cả. Đức tin là nguồn ánh sáng giúp ta nhìn ra ý nghĩa của các biến cố trong cuộc đời. Đức tin là đốm lửa thắp lên niềm hy vọng giữa đêm đen tuyệt vọng.

2) Ánh sáng lời Chúa gieo mầm hy vọng.

Hai môn đệ đã đọc Kinh Thánh. Các ông thuộc vanh vách sách Lề Luật Môsê, các Ngôn sứ và Thánh vịnh. Thế nhưng các ông vẫn thất vọng. Vì các ông đọc Kinh Thánh mà không hiểu Kinh Thánh. Các ông học Kinh Thánh như học một bài thuộc lòng. Các ông đọc Kinh Thánh như đọc một bản văn cổ, chỉ có những con chữ vô hồn.

Chúa Giêsu phải giải thích Kinh Thánh cho các ông. Bắt đầu từ sách Lề Luật, rồi lời các Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh. Khi nghe Chúa nói, tim các ông rộn ràng niềm vui, trí các ông bừng sáng như thể một ngọn lửa nhen nhúm trong lòng. Chúa Giêsu đã dạy các ông một cách đọc Kinh Thánh mới mẻ. Phải đọc giữa những hàng chữ để thấy rõ những ý nghĩa nhiệm mầu. Phải tìm sau những hàng chữ để thấy được ý định kỳ diệu của Thiên Chúa. Phải đọc Kinh Thánh dưới sự hiện diện của Thiên Chúa. Phải thấy bóng dáng Thiên Chúa thấp thoáng suốt những trang sách. Và phải đọc Kinh Thánh với một trái tim yêu mến tha thiết.

Khi trái tim mở rộng đón nhận, lời Chúa sẽ gieo vào hồn ta những mầm mống hy vọng. Và cuộc đời sẽ thấy lại ý nghĩa, tìm được niềm vui.

3) Ánh sáng Thánh Thể nuôi dưỡng niềm hy vọng

Niềm hy vọng trở thành hiện thực khi Chúa Giêsu bẻ bánh. Chính qua cử chỉ bẻ bánh mà các môn đệ nhận ra ChúaGiêsu Phục Sinh. Niềm hy vọng không còn là hy vọng nữa, nhưng đã trở thành hiện thực. Hết còn những bàn tin bán nghi. Hết còn những hoang lo lắng. Hết còn những thấp thỏm lo âu. Vì các ông đã gặp được chính niềm hy vọng.

Cuộc gặp gỡ chỉ thoáng qua, nhưng các ông đã mãn nguyện. Chúa Giêsu bẻ bánh là nhắc lại cử chỉ khi lập phép Thánh Thể. Nhờ phép Thánh Thể toàn bộ con người các ông đổi mới. Dường như một linh hồn mới vừa nhập vào những xác thân mệt mỏi rã rời. Dường như dòng máu đã trở nên đỏ thắm. Dường như những tế bào đã trở nên tươi trẻ. Dường như trái tim đã trở nên rộn rã nhịp yêu đời. Lập tức các ông trở lại Giêrusalem. Đường đi khi trời còn sáng mà thấy xa xôi ngại ngùng. Đường đi về lúc trời đã tối đen mà sao thấy tươi vui gần gũi. Lúc đi có Chúa ở bên mà vì con mắt đức tin mù tối nên vẫn thấy buồn sầu. Lúc về tuy vắng bóng Chúa vẫn an tâm vì con mắt đức tin đã mở ra, vì vẫn biết có Chúa ở bên. Thánh Thể Chúa chính là lương thực nuôi dưỡng niềm hy vọng.

Nhờ có Thánh Thể, đường xa trở nên gần. Nhờ có Thánh Thể, đường buồn trở nên vui. Vì nhờ có Thánh Thể, ta luôn được ở bên Chúa.

Đời sống ta không thiếu những giờ phút khó khăn. Cuộc đời đầy thử thách nhiều lúc đẩy ta vào hố thẳm tuyệt vọng. Ta hãy học bài học Chúa dạy các môn đệ trên đường Emmau: Hãy biết nhìn các biến cố trong cuộc đời bằng con mắt đức tin. Dưới ánh sáng đức tin, mị đau khổ sẽ xuất hiện với một ý nghĩa tốt đẹp cho cuộc đời. Ánh sáng đức tin sẽ thắp sáng niềm hy vọng. Hãy biết nghe, đọc và suy gẫm Lời Chúa. Đừng đọc Kinh Thánh như đọc tiểu thuyết. Đừng học hỏi Kinh Thánh như học một lý thuyết. Hãy đọc với tình yêu. Hãy tìm bóng dáng Chúa xuyên qua các hàng chữ. Hãy mở rộng tâm hồn đón nhận Lời Chúa. Lời Chúa sẽ như một hạt giống gieo vào lòng ta mầm hy vọng xanh tươi. Và sau cùng hãy đến với Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể.

Hãy kết hiệp với Chúa Giêsu trong Thánh Thể. Thánh Thể sẽ là lương thực nuôi dưỡng niềm hy vọng của ta.

Đường đời chúng ta cũng như quãng đường từ Giêrusalem đi Emmau. Khi ta không có niềm hy vọng thì con đường ta đi thật dài, thật xa, thật buồn, thật tối dù ta đi giữa ban ngày. Nhưng khi ta có niềm hy vọng, con đường sẽ trở nên gần gũi, vui tươi, và sáng sủa dù ta đi trong bóng đêm.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh là niềm hy vọng của con. Xin cho đường con đi trở thành đường hy vọng vì luôn có Chúa ở bên con.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Chúa Giêsu đã chiếu soi các môn đệ Emmaus bằng những ánh sáng nào?

2) Có khi nào đang buồn, bạn cảm nhận được niềm vui vì gặp Chúa không?

3) Bạn đọc Kinh Thánh thế nào? Tìm kiến thức hay tìm Chúa?

4) Khi tham dự Thánh Lễ, bạn có cảm nhận mãnh liệt sự hiện diện của Chúa trong phép Mình Thánh không?

TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

BỊ QUẬT NGÃ ĐỂ Ở LẠI

Thứ Sáu Tuần 3 Phục Sinh A

“Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” - bài đọc một.

“Thiên Chúa chỉ có thể lấp đầy một linh hồn khi đã làm cho nó trống rỗng!” - Gioan Thánh Giá.

Kính thưa Anh Chị em,

Không phải mọi gục ngã đều là kết thúc; có những trống rỗng, những thất bại mở ra một ở lại khác. Lời Chúa hôm nay cho thấy: hành trình đức tin không chỉ là đứng vững hay đi tiếp, nhưng là dám ‘bị quật ngã để ở lại’.

Saolô không chỉ ngã xuống; ông bị đánh gãy một cách hiểu về Thiên Chúa. Cú quật ngã ấy không đơn thuần là một biến cố thể lý, nhưng là sự sụp đổ của một nhiệt thành sai hướng; tại đó, một con người tưởng mình đang phục vụ Thiên Chúa lại bị đặt trước chính Ngài mà ông không nhận biết. “Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta?”; câu hỏi ấy không chỉ tra vấn hành vi, nhưng vạch ra một đứt gãy: ông đã tách Chúa Kitô khỏi chính những người ông đang bách hại; và chính tại điểm này, ông bị quật ngã. “Ngài không nói: ‘Sao ngươi bắt bớ các tôi tớ Ta?’, nhưng: ‘Sao ngươi bắt bớ chính Ta?’” - Gioan Kim Khẩu.

Nhưng Saolô không bị quật ngã để bị loại trừ; ông bị quật ngã để được dẫn vào. Mù loà, ông để cho người khác dắt đi; im lặng, ông học lại cách lắng nghe; trống rỗng, ông bắt đầu được lấp đầy. Chính khi không còn tự đứng vững, Saolô mới được đặt vào một tương quan khác: không còn là kẻ nhân danh Thiên Chúa để bắt bớ, tống ngục; nhưng là người được ở lại trong Ngài. Từ đó, hành trình của ông không còn là khẳng định mình, nhưng là rao giảng Đấng sống trong mình: “đi khắp tứ phương thiên hạ mà loan báo Tin Mừng” - Đáp ca; hành trình của con người dám ‘bị quật ngã để ở lại’.

Nếu Đamas là nơi Saolô ngã, thì Tin Mừng hôm nay cho thấy đích điểm của cú ngã ấy: không phải chỉ để đổi hướng, nhưng để ở lại. Chúa Giêsu không nói về một tương quan dành riêng cho một ai, nhưng được ban cho mọi người: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy!”. “Ở lại” - menein - không là một cảm xúc, nhưng là một sự gắn kết liên lỉ, một ở trong nhau. Điều đã được mặc khải nơi Phaolô, nay được ban cho mọi tín hữu: không còn đứng ngoài, nhưng ở trong Ngài, và để Ngài ở trong mỗi người.

Anh Chị em,

Đức Kitô, Đấng đã chấp nhận bị quật ngã trên đồi Sọ, chịu đóng đinh để mở ra một ở lại trong phục sinh. Nơi Ngài, bị quật ngã không còn là mất mát, nhưng trở thành lối vào; không còn là cố giữ, nhưng là được giữ lại trong một tình yêu lớn hơn. Vì thế, hành trình ‘bị quật ngã để ở lại’ không chỉ là câu chuyện của Saolô, nhưng là câu chuyện của mỗi chúng ta: khi những gì chúng ta bám víu bị đánh đổ, khi những bảo đảm lung lay, đó có thể là lúc chúng ta được dẫn vào để ở lại. “Thế gian trao cho con sự tiện nghi, nhưng con không được dựng nên cho điều đó; con được dựng nên cho sự cao cả!” - Bênêđictô XVI.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin quật ngã nơi con những gì không thuộc về Ngài; dẫn con vào trong Ngài; giữ con lại trong tình yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Đồng hành với Chúa trong cuộc đời

HIỆP SỐNG TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH A

Cv 2,14.22-33 ; 1 Pr 1,17-21 ; Lc 24,13-35

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Lc 24,13-35

(13) Cùng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem sáu mươi dặm. (14) Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. (15) Đang lúc trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. (16) Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. (17) Người hỏi họ: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu. (8) Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời: “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay”.  (19) Đức Giê-su hỏi: “Chuyện gì vậy ?” Họ thưa: “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một Ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. (20) Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá (21) Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. (22) Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, (23) không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. (24) Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói: còn chính Người thì họ không thấy”. (25) Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng: “Ôi những kẻ tối dạ, những lòng chậm tin vào lời các ngôn sứ ! (26) Nào Đức Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ? (27) Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh. (28) Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. (29) Họ nài ép Người rằng: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn”. Bấy giờ Người vào ở lại với họ (30) Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ. (31) Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. (32) Họ mới bảo nhau: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?” (33) Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở về Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp lại đó (34) Những người này bảo hai ông: “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-mon” (35) Còn hai ông thì thuật lại những việc đã xảy ra dọc đường, và mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.

2. Ý CHÍNH: CHÚA PHỤC SINH HIỆN RA VỚI HAI MÔN ĐỆ LÀNG EM-MAU:

Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức Giê-su đã hướng dẫn hai môn đệ về đức tin để họ từ tâm trạng chán nản và vấp ngã trước mầu nhiệm thập giá (18 và 21), đã tìm lại được niềm tin yêu vào mầu nhiệm Phục Sinh qua việc nghe lời Người giải thích Kinh Thánh (25-27.32), và được tham dự nghi thức Bẻ Bánh do chính Người thực hiện (30-31).

3. CHÚ THÍCH:

- C 13-16: + Cùng ngày hôm ấy: Tức là ngày Thứ Nhất trong tuần. + Có hai người trong nhóm môn đệ: Hai môn đệ này thuộc nhóm 72 (x. Lc 10,1), không thuộc nhóm 12. Tin Mừng nhắc đến tên một trong hai ông là Cơ-lê-ô-pát (18). Còn ông thứ hai không được nêu tên và được suy đoán là chính Lu-ca, tác giả đã tường thuật câu chuyện này. + Làng Em-mau: Một nơi cách Giê-ru-sa-lem khoảng 11 km về phía Tây. Nhưng cho tới nay các nhà chú giải vẫn chưa xác định được vị trí của ngôi làng này. + Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra: Biến cố tử nạn của Đức Giê-su là mối bận tâm sâu đậm của các môn đệ, đến nỗi dù đang buồn chán thất vọng, các ông vẫn bàn tán với nhau đang khi đi đường. + Chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ: Đức Giê-su Phục Sinh luôn yêu thương và quan tâm đến các môn đệ. Khi họ gặp hoàn cảnh khó khăn nan giải, thì Người liền hiện đến để ban ơn nâng đỡ. + Mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người: Bị ngăn cản có thể do tâm trạng buồn sầu thất vọng, nên không nghĩ người khách lạ kia lại có thể là Thầy Giê-su của họ. Cũng có thể do khuôn mặt Đức Giê-su Phục Sinh đã được biến dạng khác với khi còn sống. Trước đó vào sáng Ngày Thứ Nhất trong tuần, bà Ma-ri-a Mác-đa-la cũng đã không nhận ra Chúa Phục Sinh khi Người hiện ra gần bên ngôi mộ đã an táng Người.

- C 17-18: + “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” : Chúa Phục Sinh chủ động bắt chuyện để các ông dễ dàng tâm sự những lo buồn chất chứa trong lòng. + Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem…: Các ông nghĩ đây là một khách hành hương đi lên Giê-ru-sa-lem dự lễ Vượt Qua, và không quan tâm đến một biến cố lớn lao mới xảy ra trong thành mấy ngày qua.

- C 19-21: + Chuyện ông Giê-su Na-da-rét…: Cho đến lúc này, các môn đệ mới công nhận Đức Giê-su là Ngôn sứ có quyền lực trong lời rao giảng và các phép lạ đã làm. Các ông đi theo Người với hy vọng có được một địa vị trong Vương quốc của Người. + Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình: Sự kiện mới xảy ra đã làm các ông chán nản thất vọng: các nhà lãnh đạo dân Ít-ra-en đã nộp Người để quan Phi-la-tô kết án đóng đinh thập giá. Còn Thiên Chúa thì không làm gì để cứu vị Ngôn sứ của Người. Sự việc xảy ra tới nay đã sang ngày thứ ba rồi !

- C 22-24: + Cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi…: Tâm trạng của các ông vẫn hoang mang, dù mấy phụ nữ và các Tông đồ đã nhìn thấy mồ trống, và thiên thần hiện ra bảo rằng “Người vẫn còn sống”, nhưng riêng các ông này thì cho điều đó thật khó tin. Câu này cho thấy hai môn đệ này không phải thuộc loại người dễ tin. Do đó, một khi họ tin thì chắc đã phải có những bằng chứng xác đáng không thể phản bác được.

- C 25-27: + Ôi những kẻ tối dạ, những lòng chậm tin vào lời các ngôn sứ !: Lời Chúa quở trách đức tin yếu kém của hai ông có hơi nặng nề, nhưng thực ra vẫn hàm chứa một tình cảm âu yếm. + Nào Đức Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ?: Chúa Giê-su nhắc lại lời Người đã từng báo trước về số phận của Người trước đó: “Con Người phải chịu đau khổ, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy” (Lc 9,22; 17,25). + Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ…: Luật Mô-sê và sấm ngôn của các ngôn sứ ám chỉ tòan bộ Thánh Kinh Cựu Ước, đã làm chứng về con đường cứu thế mà Đức Giê-su đã chọn theo là: « Qua đau khổ vào trong vinh quang » (x. Lc 24,44 tt).

- C 28-31: + Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa: Thái độ giả vờ ở đây không phải là giả dối, nhưng là cách thử để xem phản ứng của các môn đệ, xem các ông có thực lòng muốn nghe và muốn Người ở lại hay không. Một đức tin chỉ có giá trị khi người tin tự nguyện mở lòng đón nhận, chứ không bị ép buộc. + Họ nài ép Người: Đây là thái độ hiếu khách quen thuộc của Người Pa-lét-tin (x. Lc 14,23). Chính Lời Chúa giải thích Kinh Thánh đã đánh tan những lo lắng bất an trong lòng hai môn đệ, nên các ông đã xin Người ở lại nhà các ông để có thể tiếp tục nói chuyện với các ông. + Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn: Đây là lời hai môn đệ mời vị khách lạ kia ở lại một cách khép léo tế nhị. Đây cũng là lời cầu nguyện tâm tình của các tín hữu muốn kết hiệp mật thiết với Chúa.

- C 32-31: + Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ: Khó có thể nghĩ rằng Đức Giê-su đã truyền phép Thánh Thể như đã làm trong bữa Tiệc Ly. Nhưng ở đây, Lu-ca cố ý dùng kiểu nói quen thuộc trong phụng vụ Thánh Thể (x. Lc 22,19). Đó là cử chỉ Đức Giê-su đã làm khi nhân bánh ra nhiều (x. 9,16), ám chỉ nghi lễ Bẻ Bánh (x. Cv 2,46; 20,7.11). Sau này mỗi khi tham dự thánh lễ, các tín hữu cũng được nghe lời Chúa giáo huấn và được tham dự bàn tiệc Thánh Thể giống như hai môn đệ làng Em-mau. + Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người: Tiến trình đức tin của các tín hữu cũng bắt đầu từ việc lắng nghe Lời Chúa, rồi tin theo Chúa và được thánh hóa nhờ tham dự bàn tiệc Thánh Thể như bà Ly-đi-a thời Giáo Hội sơ khai (x. Cv 24,13-15). + Nhưng Người lại biến mất: Từ đây Chúa Giê-su sẽ hiện diện cách thiêng liêng vô hình khi các tín hữu đọc Thánh Kinh, nghe lời giảng của các mục tử, tham dự thánh lễ hay phục vụ người nghèo…

- C 32-35: + Lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?: Nhờ được nghe giảng Thánh Kinh, các môn đệ đã thấy được ý nghĩa cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su như một chặng đường Người phải trải qua để vào trong vinh quang phục sinh. + Ngay lúc ấy, họ đứng dậy…: Việc nhận ra Chúa Phục Sinh và lòng tin yêu Chúa đã biến đổi hai môn đệ từ chỗ thất vọng muốn buông xuôi, trở thành con người mới đầy phấn khởi và hy vọng. Tâm trạng ấy làm các ông hăng hái đi lại quãng đường dài 11 cây số trở về Giê-ru-sa-lem để báo tin vui cho các tông đồ và môn đệ khác. + Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-mon: Sự kiện Si-mon Phê-rô được Chúa Phục Sinh hiện ra trước các tông đồ khác đã được chính Chúa Giê-su tiên báo trước cuộc khổ nạn (x Lc 22,31-32) và sau này cũng được thánh Phao-lô nhắc đến trong thư Cô-rin-tô (x 1 Cr 15,5). + Thuật lại những việc đã xảy ra dọc đường: Cuối cùng hai môn đệ làng Em-mau đã chia sẻ niềm vui Phục Sinh cho Nhóm Mười Một tông đồ và các môn đệ ở Giê-ru-sa-lem.

4. CÂU HỎI:

1) Hai môn đệ quê làng Em-mau kể trên thuộc nhóm 12 tông đồ hay nhóm 72 môn đệ ? Tên của các ông là gì ? 2) Tại sao hai môn đệ làng Em-mau và bà Ma-ri-a Mác-đa-la lại không nhận ra ngay người đang nói chuyện với mình là Chúa Phục Sinh? 3) Việc Chúa Phục Sinh hiện ra với hai môn đệ làng Em-mau nói lên điều gì về tình yêu của Người đối với các tín hữu chúng ta ? 4) Câu trả lời của hai môn đệ cho thấy đức tin của các ông về sứ mạng của Đức Giê-su thế nào ? Các ông đi theo Đức Giê-su nhằm mục đích gì ? Tại sao giờ đây các ông lại chán nản tuyệt vọng ? 5) Hai môn đệ này có phải là những người dễ tin vào mầu nhiệm sống lại của Chúa Giê-su không ? Tại sao ? 6) Chúa Giê-su trong vai khách bộ hành đã làm gì để củng cố đức tin còn non yếu của hai môn đệ ? 7) Chúa Giê-su giả vờ muốn đi xa hơn nhằm mục đích gì ? 8) Câu nào của hai môn đệ là lời cầu nguyện mẫu về lòng tin yêu Chúa cho các tín hữu chúng ta hôm nay ? 9) Hai môn đệ đã nhận ra người khách lạ chính là Thầy Giê-su Phục Sinh khi nào ? 10) Hai ông cho biết lòng mình bừng cháy lên ngọn lửa tin yêu Chúa vào lúc nào ? 11) Điều gì khiến hai môn đệ nhiệt tình loan báo Tin Mừng Chúa Phục Sinh cho người khác ?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: Họ mới bảo nhau: “Dọc đường khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?” (Lc 24,32)

2. CÂU CHUYỆN:

1) CHÚA BỒNG TA TRÊN ĐÔI TAY CỦA NGƯỜI ?

Một người tân tòng sau khi theo đạo đã gặp phải nhiều tai ương hoạn nạn: bệnh tật, rủi ro mất xe, mất tiền bạc… Anh đã nhiều lần xin Chúa cho tai qua nạn khỏi mà xem ra Chúa vẫn ngỏanh mặt làm ngơ khiến anh đâm ra chán nản và thôi không cầu nguyện và cũng không đến nhà thờ dự lễ nữa. Thế rồi một đêm kia, anh nằm mơ thấy mình đang đi bách bộ với Chúa Giê-su trên bãi biển. Anh quay nhìn ra sau thì thấy trên nền cát ướt có 4 dấu chân: hai dấu chân lớn của Chúa, và hai dấu chân nhỏ của anh. Khi gặp chỗ lởm chởm nhiều sỏi đá thì anh không thấy Chúa đi bên cạnh nữa. Quay lại nhìn thì anh chỉ thấy hai dấu chân trên cát của anh. Anh chán nản ngồi nghỉ mệt trên một tảng đá thì Chúa Giê-su lại hiện đến ngồi bên. Anh thắc mắc hỏi Người: “Lạy Chúa, vừa qua Chúa biến đi đâu để con phải một mình đương đầu với những khó khăn như vậy ?” Bấy giờ Chúa Giê-su mới âu yếm nhìn anh và nói: “Con hãy thử nhìn kỹ lại xem hai dấu chân trên cát kia là của ai ?” Lúc đó, anh ta mới nhìn kỹ và nhận ra đó hai dấu chân to là của Chúa Giê-su. Anh lại hỏi: “Lạy Chúa, thế thì dấu chân của con đâu ?” Chúa liền trả lời: “Con ơi, hãy nhớ rằng: Ta luôn ở bên con mọi giây phút trong cuộc đời con. Những khi con gặp phải sự gian nan thử thách thì đó là lúc Ta đang bồng con trên cánh tay Ta đó !”

2) CHÚA ĐẾN VỚI CHÚNG TA QUA THA NHÂN CẦN ĐƯỢC TRỢ GIÚP :

         Vào một buổi sáng cuối đông, bác thợ giầy thức dậy rất sớm dọn dẹp nhà cửa và cho thêm củi than vào lò sưởi để đón chờ khách quý là Chúa Giê-su. Người đã hiện ra với bác trong giấc mơ ban đêm và hứa sẽ đến nhà thăm bác vào ngày hôm sau. Khi ánh bình minh vừa ló rạng, thì bác thợ  giầy đã nghe thấy có tiếng gõ ngoài cửa. Tưởng là Chúa đã đến, bác liền vội ra mở cửa. Thế nhưng kẻ đứng mặt bác không phải là Chúa Giê-su, mà là anh phát thư như mọi lần. Băng tuyết ngoài trời khiến mặt mũi và tay chân của anh ta đỏ lên như gấc. Bác thợ giầy cảm thông liền mời anh ta vào nhà ngồi bên lò sưởi và pha trà nóng mời khách. Sau khi đã được sưởi ấm, người phát thư đã nói lời cám ơn và từ giã đi lo công việc.

Ít phứt sau, nhìn qua khung cửa kính, bác thấy một bé gái khoảng 7-8 tuổi đang co ro đứng trước cửa nhà khóc, bác liền ra hỏi thăm thì được biết em bị lạc mẹ ngoài chợ và đang tìm đường về nhà nhưng không tìm thấy đường vì tuyết rơi trắng xóa. Bác thợ giầy liền lấy bút viết vài chữ trên tờ giấy và gắn ngoài cửa nhà để thông báo cho Chúa Giê-su biết mình cần đi ra ngòai một lát. Nhưng tìm đường dẫn cô bé về nhà không đơn giản. Mất mấy tiếng đồng hồ bác mới tìm được nhà của đứa bé, và khi ra về thì trời đã xế chiều.

Về đến nhà, bác lại thấy có người đang ngồi đợi nhưng không phải là Chúa, mà là một bà mẹ trẻ gần nhà với vẻ mặt buồn bã. Chị cho biết đứa con nhỏ của chị đang lên cơn sốt ở nhà và chị chạy sang tìm bác để nhờ giúp đưa bé đi nhà thương. Bác thợ giầy liền hối hả theo chị về nhà giúp đưa cháu bé đến bệnh viện chăm sóc. Nửa đêm bác mới trở về nhà mình và nằm lăn ra giường ngủ quên cả việc ăn uống. Trong giấc mơ, bác thợ giầy đã nghe thấy tiếng Chúa Giê-su: « Hôm nay Ta cám ơn con đã sẵn sàng tiếp đón và cho Ta vào nhà để sưởi ấm và còn dọn trà nóng cho Ta uống. Cám ơn con đã dẫn Ta bị lạc có thể trở về nhà mình. Cám ơn con đã giúp đưa Ta đến bệnh viện để kịp thời thuốc thang chữa trị ». Thì ra hôm nay Chúa Giê-su đã giữ lời hứa đến thăm bác thợ giầy không phải một mà là ba lần. Người hiện thân qua những người cần được trợ giúp như Người đã nói: « Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy » (Mt 25,40).

3) TÍN THÁC VÀO TÌNH THƯƠNG QUAN PHÒNG CHA TRÊN TRỜI :

Một sĩ quan công giáo, người Anh được sai đến phục vụ tại một nơi xa xôi hẻo lánh. Ông cùng với gia đình xuống tầu đến một nơi được chỉ định. Tầu rời bến được vài ngày thì biển động dữ dôi. Một cơn bão ập đến làm tầu có nguy cơ bị đắm.  Mọi người trên tầu hết sức sợ hãi. Bà vợ của vị sĩ quan là người mất bình tĩnh hơn cả vì bà đã không tiếc lời trách móc chồng  đã đưa cả gia đình vào mối nguy hiểm, nhất là khi thấy chồng vô tư chẳng mấy quan tâm.  Chính thái độ bình tâm này của chồng mà bà vợ  xem như là một biểu hiệu thiếu lo lắng, thông cảm, yêu thương đối với vợ con nên bà càng tức giận xỉ vả hơn.

          Trước tình thế khó xử đó, khi đã có đôi lời giãi bầy vắn tắt, viên sĩ quan rời căn phòng một lát rồi quay trở lại  với thanh kiếm tuốt trần trên tay. Bằng ánh mắt đau khổ ông tiến lại bên vợ và dí mũi kiếm vào ngực bà. Mới đầu bà ta tái xanh mặt mày, nhưng sau đó bà bỗng cười lớn tiếng không chút gì nao núng cả.

 Viên sĩ quan hỏi :

- Làm sao mình có thể cười khi nhận thấy mũi kiếm sắp đâm vào ngực?

Bà vợ trả lời :

- Làm sao em lại phải sợ khi biết lưỡi kiếm ấy nằm trong tay một người thương yêu em.

Bấy giờ viên sĩ quan nghiêm giọng nói :

- Vậy tại sao em lại muốn anh sợ hãi cơn bão tố này khi anh biết rằng nó ở trong tay của Chúa  là Đấng luôn luôn yêu thương anh ?

4) LỜI CHÚA PHÁN KHIẾN MỌI SÓNG GIÓ LIỀN YÊN LẶNG :

          Được thăng  giáo hoàng là một việc rất trọng đại. Khi Đức Pi-ô  XI đăng quang, sau khi thực hiện xong các lễ nghi rồi, ngài về phòng riêng, ngồi vào chiếc bàn viết của Đức Giáo hoàng trước ngài Bê-nê-dic-tô XV, thì tự nhiên ngài cảm thấy một mối lo âu ập xuống trên ngài, vì Giáo hội đang bị kẻ thù tấn công tư bề, Hội Thánh đang phải trải qua một giai đoạn thử thách mới : Tuy Thế Chiến Thứ Nhất đã chấm dứt, nhưng Thế chiến Thứ Hai lại đang âm ỉ và có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nghĩ đến những chuyện ấy, lòng Đức Pi-ô XI lại ngập tràn lo âu. Bấy giờ ngài qùi gối trước Thánh Giá và cầu nguyện sốt sắng. Đang lúc cầu nguyện, tự nhiên tay ngài chạm phải một tấm ảnh đặt trên bàn làm việc của Đức tiên giáo hoàng. Bấy giờ Đức Pi-ô liền cầm tấm ảnh lên xem và tự nhiên ngài thấy nỗi lo sợ trong lòng biến mất, và ngài lại cảm nghiệm được sự bình an trong tâm hồn. Đó là bức hình vẽ Chúa Giê-su đang đứng trên mũi thuyền và truyền cho sóng gió yên lặng. Từ ngày đó, Đức Pi-ô XI luôn để bức hình ấy trên bàn làm việc, và mỗi khi gặp hoàn cảnh khó khăn không biết phải làm gì, Đức Pi-ô XI ngồi nhìn vào bức ảnh rồi cầu xin Chúa Giê-su hãy phán một lời, thế là mọi khó khăn đang gặp phải đều tự nhiên tan biến hết (W.J. Diamond- Đồng cỏ non).

3. SUY NIỆM:

1) Tâm trạng của hai môn đệ về làng Em-mau:

         Đây là hai trong số 72 môn đệ của Đức Giê-su đã được Người sai từng hai người đi giảng đạo (x. Lc 10,1a). Hai ông đã đến Giê-ru-sa-lem dự lễ Vượt Qua. Giờ đây đại lễ đã xong, hai ông quay trở về nhà riêng tại làng Em-mau. Một trong hai ông tên là Cờ-lê-ô-pát, còn người kia không được nêu tên, có thể là chính tác giả Lu-ca. Hai ông này vừa đi vừa trò chuyện với nhau với vẻ mặt buồn bã thất vọng. Sở dĩ họ mang tâm trạng như thế là vì mấy lý do như sau:

        - Một là vì Đức Giê-su « là một Ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá » (Lc 24,19b-20).

        - Hai là biến cố đau thương của Đức Giê-su đã xảy ra trái với ước vọng của các ông khi đi theo làm môn đệ của Thầy, khiến các ông hoàn toàn thất vọng muốn buông xuôi: « Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Nhưng các sự việc ấy đã xẩy ra đến nay là ngày thứ ba rồi » (Lc 24,21).

        2) Vai trò của Kinh Thánh và Phụng Vụ trong việc củng cố đức tin:

- Lời Kinh Thánh đã làm bùng cháy ngọn lửa tin yêu nơi lòng các ông: Trong vai một người khách bộ hành, Đức Giê-su đã « giải thích cho hai ông tất cả lời Thánh Kinh chỉ về Người ». Còn về “vụ ông Giê-su” thì sau khi lắng nghe quan điểm của hai ông về vụ án, về cuộc tử nạn, và việc Người bị treo trên thập giá, Đức Giê-su đã giải thích Kinh Thánh và khích lệ tinh thần của các ông như sau: ”Nào Đấng Ki-tô chẳng phải chịu đau khổ rồi mới được vinh quang sao”? (Lc 24,26). Sau đó các ông đã nói với nhau : « Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?” (Lc 24,32).

- Chính cử chỉ yêu thương đã mở mắt đức tin của các ông : Để được nhận biết tin yêu Chúa, đòi các môn đệ phải khao khát lắng nghe Lời Chúa qua lời cầu: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn”. Bấy giờ Người vào ở lại với họ (Lc 24,29). Rồi chính bầu khí yêu thương giữa cộng đoàn đã mở mắt đức tin cho các ông, như Tin Mừng thuật lại: « Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất » (Lc 24,30-31).

        3) Vai trò của Tin, Cậy, Mến trong sứ vụ loan báo Tin Mừng:

Sau khi nhận ra Chúa Phục Sinh thì Người lại biến mất. Chính lòng tin và lòng mến đã thúc bách hai môn đệ lập tức quay lại Giê-ru-sa-lem loan báo Tin Vui như Tin Mừng ghi nhận : « Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở về Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp lại đó. Những người này bảo hai ông: “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-mon” Còn hai ông thì thuật lại những việc đã xảy ra dọc đường, và mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh (Lc 24,33-35).

4) Sống và chu toàn sứ vụ loan báo tin mừng Phục Sinh cho thế giới hôm nay:

- Trong cuộc sống, mỗi lần gặp thử thách, nhiều tín hữu thường nghĩ rằng: Chúa đã bỏ rơi mình rồi. Chúa không còn quan tâm giúp đỡ mình nữa… và từ đó sinh ra chán nản, bỏ bê đọc kinh cầu nguyện, lười biếng dự lễ Chúa Nhật và có khi còn mê tín dị đoan: đi coi bói tóan, cậy nhờ thầy bùa thầy ngải…

- Lẽ ra chúng ta phải xác tín rằng: Chúa Phục Sinh luôn đồng hành với chúng ta. Không những Người ở bên chúng ta khi ta được bình an, mà ngay cả những lúc gặp gian nan khốn khó như bệnh tật tai nạn, chúng ta vẫn tin rằng Chúa đang đồng hành với chúng ta. Người luôn đi bên ta và sẵn sàng giơ tay trợ giúp và bồng ẵm ta trên tay nếu ta biết cậy trông vào Người, như « ông Phê-rô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước và đến với Đức Giê-su. Nhưng thấy gió thổi thi ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên: Lạy Thầy xin cứu vớt con. Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy ông và nói: Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi! » (Mt 14,29-31).

- Nếu mỗi ngày chúng ta quyết tâm từ bỏ các thói hư như : tham lam, gian ác, ích kỷ, tự mãn cùng các đam mê tội lỗi khác, sẵn sàng vác thập giá là chu tòan các việc bổn phận của mình mà theo chân Chúa Giê-su, thì chắc chắn chúng ta sẽ đạt tới hạnh phúc Nước Trời đời sau. Nếu chúng ta cùng chết với Chúa Giê-su, thì chúng ta sẽ cùng được sống lại với Người.

- Mỗi người sẽ làm gì để noi gương hai môn đệ làng Em-mau, lập tức đi loan báo Tin Mừng cho tha nhân và phải loan báo thế nào để giúp họ dễ nhận biết tin yêu Chúa ?

4. THẢO LUẬN: 1) Khi gặp một người lỡ đường xin tá túc ban đêm, chúng ta nên làm gì để vừa bảo đảm an toàn cho gia đình, vừa thực hành bác ái “Cho khách đỗ nhà” như kinh Thương Người đã dạy ? 2) Hát bài: Có Chúa đi với tôi, tôi sẽ không còn sợ chi. Có Chúa đi với tôi, tôi sẽ không còn thiếu gì. Dù trời tăm tối, bước đi không lo lạc lối. Đường dù nguy nan, không chút vấn vương tâm hồn.

5. NGUYỆN CẦU:

- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin ở lại với chúng con, vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn rồi, vì lòng chúng con đang khao khát được nghe lời Chúa. Xin ở lại với chúng con, vì đức tin chúng con mỏng dòn yếu đuối, rất cần được Chúa trợ giúp vượt qua khó khăn của cuộc đời. Xin ở lại với chúng con, vì chúng con dễ sa chân lạc bước, hay chạy tìm kiếm thỏa mãn những đam mê bất chính, dễ chán nản buông xuôi khi gặp thử thách gian nan. Xin ở với chúng con, để chúng con thấy Chúa đang hiện diện nơi những người đau khổ và chân thành phục vụ họ như phục vụ chính Chúa. Xin ở lại với chúng con, vì khi gặp được Chúa, chúng con sẽ được ơn biến đổi cuộc đời. Xin ở lại với chúng con, vì tâm hồn chúng con vẫn còn xao xuyến mãi, cho tới khi nào được nghỉ yên trong Chúa.

- LẠY CHÚA. Hai môn đệ làng Em-mau đã sằn sàng đón tiếp một người khách lạ đang cần một bữa ăn tối và một chỗ nghỉ đêm. Chính nhờ lòng quảng đại ấy, mà hai ông đã nhận ra Chúa Phục Sinh, và được biến đổi nên vui tươi phấn khởi. Xin cho chúng con cũng biết quảng đại đi bước trước để làm quen với một người lạ đang bị đau khổ, cho chúng con biết sẵn sàng lắng nghe những tâm sự của họ và năng tham dự thánh lễ moi ngày. Nhờ được gặp Chúa, chắc chắn chúng con sẽ được ơn biến đổi trở nên người mới và chu toàn được sứ mệnh loan Tin Mừng cho tha nhân, như hai môn đệ làng Em-mau xưa.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

LM ĐAN VINH -  HHTM

Subcategories