3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

TỪ HOÀNG HÔN EMMAU ĐẾN BÌNH MINH GIÊRUSALEM

Trong cuộc đời mỗi con người, ai cũng có ít nhất một lần đi trên con đường Emmau của riêng mình. Đó là con đường của những bước chân trĩu nặng sau một thất bại cay đắng, là quay gót sau những dự định dở dang, là rút lui vào bóng tối khi ánh sáng lý tưởng dường như đã lịm tắt. Nhưng chính trên con đường tháo chạy ấy, một cuộc gặp gỡ kỳ diệu đã thay đổi hoàn toàn định mệnh của nhân loại.

  1. Khi hy vọng chỉ còn là “chuyện đã từng”

Câu chuyện bắt đầu vào một buổi chiều tà, khi nắng xế chiều hôm đổ dài trên con đường mòn cách Giêrusalem mười một cây số. Hai môn đệ bước đi, nhưng lòng họ còn nặng hơn cả bước chân. Tin Mừng Luca ghi lại một chi tiết đầy xót xa: “Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu” (Lc 24: 17).

Tại sao họ buồn? Vì họ vừa trải qua một cơn sang chấn đức tin. Họ nói về Chúa Giêsu bằng thì quá khứ: “Ngài là một ngôn sứ đầy uy thế... Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Ngài... Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Ngài là Đấng sẽ cứu chuộc Israel” (Lc 24: 19-21).

Câu chữ “vẫn hy vọng”, ở thì quá khứ, là một cái tang cho niềm tin. Đối với họ, mọi chuyện đã kết thúc trên đồi Canvê. Ngôi mộ trống hay lời các bà đạo đức chỉ khiến họ “cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin” (Lc 24: 11-12). Họ đang đi ngược chiều: từ Giêrusalem nơi có Thập giá và Phục sinh quay về Emmau là nơi để ẩn dật và quên lãng.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhận xét về tình trạng này của hai môn đệ, cũng là của chúng ta, một cách đầy thấu cảm: “Có bao nhiêu nỗi buồn, bao nhiêu thất bại, bao nhiêu sai lầm trong cuộc đời mỗi người! Sâu thẳm trong lòng, tất cả chúng ta đều có phần nào đó giống hai môn đồ ấy. Bao nhiêu lần chúng ta đã hy vọng trong đời? Bao nhiêu lần chúng ta cảm thấy mình chỉ còn một bước nữa là đến hạnh phúc, rồi lại thấy mình bị đánh gục, thất vọng? Nhưng Chúa Giêsu đồng hành cùng tất cả những người nản lòng, cúi đầu buồn bã. Và bằng cách đồng hành một cách kín đáo, Ngài có thể khôi phục lại hy vọng cho họ… Tất cả chúng ta đều đã trải qua những khoảnh khắc khó khăn trong cuộc sống, những khoảnh khắc tăm tối mà ta chìm trong buồn bã, trầm tư, không có tương lai, chỉ thấy trước mặt là bức tường…” (Tiếp kiến chung, ngày 24 tháng 5 năm 2017).

Chúng ta cũng vậy, có những lúc ta nhìn đời qua lăng kính của sự thất vọng. Ta thấy Chúa “vắng mặt” trong những biến cố đau thương, ta thấy lời hứa của Ngài dường như lỗi nhịp. Ta đi lễ, đọc kinh nhưng lòng trí lại đang “xuôi về Emmau”, tìm kiếm một sự an ủi thế trần để khỏa lấp khoảng trống tâm linh.

Chúa Giêsu không hiện ra với ánh hào quang chói lòa để dọa dẫm họ. Ngài hiện ra như một khách bộ hành bình thường, cùng đi, cùng nghe và cùng thấu cảm. Ngài bắt đầu bằng việc đặt câu hỏi. Ngài cho họ trút cạn nỗi lòng. Và rồi, Ngài dùng “phương thuốc” mạnh nhất: Lời Chúa. Đó là đường lối sư phạm của Đấng Phục Sinh: đốt lên ngọn lửa từ Kinh Thánh: “Bấy giờ Chúa Giêsu nói với hai ông rằng: Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ!” (Lc 24: 25). Ngài không an ủi bằng những lời sáo rỗng, nhưng Ngài dẫn họ về với gốc rễ của đức tin. Ngài giải thích cho họ thấy rằng Thập giá không phải là một sự cố ngoài ý muốn, mà là một phần trong kế hoạch cứu độ thần thánh: “Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Ngài sao?” (Lc 24: 26).

Ngài bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ. Ngài dệt lại bức tranh cuộc đời Ngài bằng những sợi chỉ của Cựu Ước. Lúc này, trí hiểu của họ bắt đầu được khai mở. Lời Chúa giống như luồng gió thổi vào đống tro tàn của lòng họ, khiến những đốm lửa hy vọng bắt đầu cháy lại.

Thánh Giêrônimô đã nói một câu bất hủ: “Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô.” Trên đường Emmau, Chúa Giêsu đã chứng minh điều đó. Khi ta tách rời cuộc đời mình khỏi Lời Chúa, ta sẽ thấy mọi biến cố chỉ là sự ngẫu nhiên nghiệt ngã. Nhưng khi soi rọi đời mình vào Kinh Thánh, ta sẽ thấy bàn tay Chúa đang viết những đường thẳng trên những dòng kẻ cong.

  1. Bẻ Bánh – khoảnh khắc soi sáng

Khi bóng tối sập xuống, hai môn đệ đã làm một việc đúng đắn duy nhất: nài ép khách lạ ở lại. “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn” (Lc 24: 29). Đây là lời cầu nguyện đẹp nhất của mọi thời đại. Giữa sự hữu hạn của đời người giống như “ngày sắp tàn”, chúng ta cần tha thiết mời Đấng Vĩnh Cửu ở lại.

Và tại bàn ăn, vị khách trở thành gia chủ. Ngài làm bốn cử chỉ: Cầm lấy bánh – Dâng lời chúc tụng – Bẻ ra – Trao cho họ. Đây chính là cử chỉ của Bữa Tiệc Ly. Và “Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Ngài” (Lc 24: 31). Tại sao lại là lúc bẻ bánh? Vì trong hành động bẻ bánh, họ thấy lại con người đích thực của Thầy: một cuộc đời được “bẻ ra” vì người khác. Sự bẻ bánh là sự hiến tế. Họ nhận ra Ngài không phải qua khuôn mặt, nhưng qua tình yêu hiến mạng.

Nhưng ngay khi họ nhận ra, Ngài lại biến mất. Tại sao? Thánh Lêô Cả suy niệm rằng “Điều hữu hình nơi Đấng cứu độ chúng ta được chuyển vào trong các bí tích” (Sermo 74, 2: CCL 138A, 457 PL 54, 398) vì “Các mầu nhiệm của cuộc đời Chúa Kitô là nền tảng cho những gì Ngài ban phát trong các bí tích nhờ các thừa tác viên của Hội Thánh Ngài” (GLHTCG, số 1115).

Hành trình Emmau dạy chúng ta rằng: Bí tích Thánh Thể là nơi hẹn gặp tối hậu. Khi ta rước lấy tấm bánh bẻ ra, ta không chỉ rước lấy một biểu tượng, mà rước lấy chính Đấng đã chiến thắng cái chết để ở lại với ta mọi ngày cho đến tận thế sau khi Ngài gánh chịu khổ hình trên Thập giá. Thánh Phêrô nói: “Anh em biết rằng không phải bằng vàng bạc hay hư nát mà anh em đã được cứu chuộc... nhưng bằng máu châu báu của Đức Kitô, Con Chiên tinh tuyền” (1 Pr 1: 18-19). Cái giá của sự cứu chuộc không phải do vàng bạc hư nát. Thánh Phêrô nhắc nhở chúng ta về giá trị đích thực của con người. Chúng ta thường đánh giá mình bằng những tiêu chuẩn thế gian: bằng cấp, địa vị, tài sản. Nhưng Thánh Phêrô kéo chúng ta về với một sự thật lớn lao: giá trị của bạn là do bởi Máu của Con Thiên Chúa. Ơn cứu độ không phải là một món quà rẻ tiền, nhưng được trả bằng những giọt máu cuối cùng của Chúa Giêsu trên đồi Canvê.

Chúa Giêsu phải chịu khổ hình vì tội lỗi của nhân loại là thực tại quá đỗi kinh khủng, nhưng đồng thời nó cũng là minh chứng cho một tình yêu “không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Chúa Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8: 39). Khi hai môn đệ Emmau hiểu được giá trị của Máu Châu Báu này, họ không còn thấy Thập giá là nỗi nhục nhã, nhưng là một vinh quang cứu độ.

Thánh Gioan Phaolô II đã viết: “Con người không thể sống thiếu tình yêu. Họ vẫn là một hữu thể không thể hiểu được chính mình, cuộc sống của họ vô nghĩa, nếu tình yêu không được bày tỏ cho họ, nếu anh ta không gặp gỡ tình yêu, nếu họ không trải nghiệm nó và biến nó thành của riêng mình...Sự Cứu Chuộc đã được hoàn thành trong mầu nhiệm Phục Sinh, dẫn dắt qua Thập Giá và cái chết đến sự Phục Sinh” (Thông điệp Redemptor Hominis - Đấng Cứu Chuộc con người, số 10).

  1. Sự sống không thể bị cầm giữ

Hành trình từ Emmau quay ngược lại Giêrusalem là một hành trình từ sự sợ hãi đến sự can trường. Hai môn đệ vừa nhận ra Chúa liền “đứng dậy, quay trở lại Giêrusalem” (Lc 24: 33). Họ không còn sợ bóng đêm, không còn sợ lính canh, vì lòng họ đang cháy lửa Phục sinh. Lửa ấy sau đó đã bùng lên mạnh mẽ trong ngày Lễ Ngũ Tuần qua môi miệng của Thánh Phêrô. Vị tông đồ từng chối Thầy, nay đứng ra tuyên xưng dõng dạc: “Thiên Chúa đã giải thoát Ngài khỏi những đau khổ của cõi chết mà cho Ngài phục sinh, vì không thể nào để cho Ngài bị cầm giữ trong đó” (Cv 2: 24). 

Không thể nào để cho Ngài bị cầm giữ trong đó” là một định luật của tình yêu. Sự chết có thể giam cầm những gì thuộc về cát bụi, nhưng không thể cầm giữ được Đấng là nguồn mạch sự sống. Chúa Giêsu là Đấng Thánh, và như lời vua Đavít đã tiên báo: “Chúa không để linh hồn tôi trong cõi chết, và không để Đấng Thánh của Chúa thấy sự hư nát” (Cv 2: 27).

Sức mạnh của Phục sinh không phải là một sự kiện lịch sử xảy ra một lần rồi thôi. Đó là một động lực đang vận hành trong thế giới. Khi gặp khó khăn, khi bệnh tật hay đau khổ bủa vây, chúng ta hãy nhớ rằng: sự chết không có tiếng nói cuối cùng. Thiên Chúa đã “bẻ gãy xiềng xích tử thần.”

Hành trình của hai môn đệ trên đường Emmau đem lại cho chúng ta những bài học đức tin:

  • Để Lời Chúa chỉnh sửa cuộc đời, đừng bắt Chúa theo ý mình, hãy siêng năng suy niệm Kinh Thánh mỗi ngày để biến đổi suy nghĩ theo cách nghĩ của Ngài.
  • Nhận ra Chúa nơi Thánh Thể, đừng dự lễ theo thói quen, nhưng hãy tham dự Thánh lễ với lòng khát khao Chúa Phục Sinh ở lại với chúng ta và biến đời chúng ta thành “tấm bánh bẻ ra” cho tha nhân.
  • Cuộc gặp gỡ Chúa đích thực sẽ làm lòng bừng cháy và thúc bách ta chia sẻ niềm vui Phục Sinh cho mọi người, thay vì giữ riêng cho mình.

Chúa Giêsu luôn ở bên cạnh chúng ta để ban cho chúng ta hy vọng, sưởi ấm trái tim chúng ta và nói: “Hãy tiến lên, Ta ở cùng các con. Hãy tiến lên”. Bí quyết của con đường dẫn đến Emmau đơn giản là: bất chấp vẻ bề ngoài trái ngược, chúng ta vẫn được yêu thương và Chúa sẽ không bao giờ ngừng yêu thương chúng ta. Chúa sẽ luôn đồng hành cùng chúng ta, ngay cả trong những khoảnh khắc đau đớn nhất, ngay cả trong những khoảnh khắc tồi tệ nhất, ngay cả trong những khoảnh khắc thất bại. Đó là nơi Chúa hiện diện. Và đó là niềm hy vọng của chúng ta. Hãy tiến bước với niềm hy vọng này! Bởi vì Ngài ở bên cạnh chúng ta và đồng hành cùng chúng ta. Luôn luôn!” (ĐGH Phanxicô, đã dẫn trên).

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, khi đời “xế chiều” và hy vọng cạn kiệt, xin hãy cùng đi với chúng con. Xin mở mắt chúng con khỏi cái nhìn hạn hẹp để nhận ra Chúa qua Lời và Thánh Thể, hầu biết bẻ đời mình chia sẻ cho tha nhân. Vì Chúa đã chiến thắng tử thần, niềm hy vọng của chúng con là bất diệt. Chúa đã trỗi dậy! Alleluia! Amen.

 

Phêrô Phạm Văn Trung

HOÁ RA LÀ NGÀI

Thứ Bảy Tuần 2 Phục Sinh A

“Các ông hoảng sợ”.

Trong “When All Hell Breaks Loose”, tạm dịch, “Khi Tất Cả Đổ Vỡ”, Steven J. Lawson viết: “Có thể bạn đang ở trong một cơn bão. Chúa có mục đích khi dẫn bạn vào đó. Hãy hướng mắt về Ngài!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Các ông hoảng sợ”. Giữa ‘biển trong đêm’, khi tất cả đổ vỡ, các môn đệ chao đảo không chỉ bởi bão tố, nhưng trước một sự hiện diện chưa được nhận biết. Chỉ khi Chúa Giêsu cất tiếng, họ mới chợt hiểu: ‘hoá ra là Ngài’.

Vậy điều gì đã xảy ra với các môn đệ? Giữa ‘biển trong đêm’, gió nổi sóng gào, thuyền chao đảo; họ bị cuốn vào chính những gì đang đổ vỡ trước mắt. Khi mọi sự dồn dập, họ quay khỏi Thầy để chống chọi giữa những hỗn mang. Chính trong khoảnh khắc ấy, khi nỗi kinh hoàng chiếm trọn tâm hồn, họ không còn nhận ra ai đang đến gần; đến nỗi, như các Tin Mừng khác kể lại, họ tưởng chỉ là một bóng ma. Họ không chỉ không nhận ra Ngài, họ còn đặt tên sai cho Ngài. “Chúng ta chỉ thấy điều mình đã sẵn sàng để thấy!” - Walter Lippmann.

Chính lúc ấy, Chúa Giêsu cất tiếng: “Thầy đây mà, đừng sợ!”. Trong nguyên ngữ Gioan, egō eimi - “Ta là”; công thức mặc khải vang vọng từ Xuất Hành, nơi Thiên Chúa tiết lộ danh tính, và trong truyền thống Latinh được diễn đạt là Ego sum. Đó không chỉ là lời nhận diện, nhưng là một sự hiện diện tự xưng, không cần được chứng minh; không chỉ là lời trấn an, nhưng là một mặc khải: Ngài tự nói ra căn tính của mình. Từ đó, nỗi sợ bắt đầu tan biến, không phải vì bão đã yên, nhưng vì họ nhận ra ai đang ở trước mặt. Điều họ tưởng là đe doạ, ‘hoá ra là Ngài’ - Thầy của mình.

Đó cũng là trải nghiệm vượt những ‘biển trong đêm’ của Hội Thánh sơ khai. Khi các tín hữu bắt đầu kêu trách nhau, khi sự kỳ thị xé rách cộng đoàn; chính trong những đổ vỡ ấy, họ không dừng lại nơi xung đột, nhưng quay về với Chúa Phục Sinh. Từ đó, các phó tế đầu tiên được thiết lập, trật tự dần được tái ổn định, giông bão lắng xuống - bài đọc một. Điều đã xảy ra với họ cũng là điều xảy ra nơi chúng ta: không phải vì không có sóng gió, nhưng vì biết quay về với Chúa trong nguyện cầu. “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài!” - Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Chính Chúa Giêsu đã đi qua những ‘biển trong đêm’: cám dỗ, rình rập, và cuối cùng là thập giá. Nhưng trong tất cả, Ngài không quay khỏi Cha; Ngài nhận ra Cha ngay giữa bóng tối và trao phó chính mình: “Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha”. Đó cũng là nơi đời sống chúng ta chạm tới: không phải khi sóng gió qua đi, nhưng ngay giữa những điều chưa sáng tỏ. Không phải vì chúng ta giữ được mình, nhưng vì có một tương quan giữ chúng ta lại; để giữa những ‘biển trong đêm’, chúng ta không còn bị cuốn đi, nhưng dần nhận ra một sự hiện diện không hề xa - ‘hoá ra là Ngài’, “đấng gần chúng ta hơn chính chúng ta gần mình!” - Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi mọi sự xem ra đổ vỡ, xin cho con đừng gọi Ngài bằng một cái tên sai!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

CÙNG CHÚA PHỤC SINH MANG LẠI NIỀM TIN YÊU CHO THA NHÂN

HIỆP SỐNG TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH ABC

Cv 2,42-47; 1 Pr 1,3-9; Ga 20,19-31

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Ga 20,19-31

(19) Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em !” (20) Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. (21) Người lại nói với các ông: “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em”. (22) Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. (23) Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha. Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”. (24) Một người trong nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. (25) Các môn đệ khác nói với ông: “Chúng tôi đã được thấy Chúa !” Ông Tô-ma đáp: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin. (26) Tám ngày sau, các Môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em” (27) Rồi Người bảo ông Tô-ma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”. (28) Ông Tô-ma thưa Người: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !” (29) Đức Giê-su bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thầy mà tin !” (30) Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ, nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. (31) Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người.

2. Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng thuật lại hai lần Chúa Giê-su Phục Sinh hiện ra với các môn đệ cách nhau một tuần lễ, để chứng minh Người đã từ cõi chết trỗi dậy:

- LẦN THỨ NHẤT Chúa Giê-su đã hiện ra với các môn đệ mà thiếu Tô-ma. Người đã cho các ông xem các vết thương ở bàn tay và cạnh sườn Người rồi thổi hơi ban Thánh Thần cho các ông (23).

- LẦN THỨ HAI sau tám ngày, Chúa Phục Sinh lại hiện ra thỏa mãn đòi hỏi của Tô-ma và khi gặp Chúa Tô-ma đã tuyên xưng đức tin. Chúa Giê-su đã chúc phúc cho những ai không thấy mà tin ! (29)

3. CHÚ THÍCH:

- C 19-20: + Ngày Thứ Nhất trong tuần: Ngày nay, Giáo Hội đã chọn Ngày Thứ Nhất trong tuần để mừng mầu nhiệm Chúa Phục Sinh và gọi là Chúa Nhật hay Ngày Của Chúa. Đây là ngày lễ nghỉ, thay thế Thứ Bảy (Sa-bát) của Do Thái Giáo là ngày hưu lễ, để noi gương Thiên Chúa đã làm việc sáng tạo trời đất muôn vật trong sáu ngày, và ngày thứ Bảy thì Ngài nghỉ ngơi (x. St 1,1-2,2). + Đức Giê-su đến: Chúa Phục Sinh hiện đến Nhà Tiệc Ly khi cửa nhà vẫn đóng kín, cho thấy thân xác của Người sau phục sinh mang đặc tính thiêng liêng siêu việt, có khả năng hiện diện ở khắp nơi. + Bình an cho anh em ! Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa: Đức Ki-tô Phục Sinh đem lại sự bình an (x. Ga 20,19.21) và niềm vui (x Ga 20,20) cho các Môn đệ (x Ga 14,27). + Người cho các ông xem tay và cạnh sườn: Cho thấy Chúa Phục Sinh chính là Đấng đã bị đóng đinh thập giá (x. Ga 19,18), và bị lưỡi đòng đâm thâu (x. Ga 19,34). Qua đó ta thấy sự liên quan mật thiết giữa hai mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh.

- C 21-23: + Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em: Tông đồ nghĩa là “được sai đi”. Sứ mạng này từ Chúa Cha truyền cho Đức Giê-su, và giờ đây Người lại truyền cho các Môn đệ và các tín hữu sau này. + Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”: Theo Kinh Thánh, hơi thở chính là sự sống. Như xưa, Thiên Chúa đã thổi sinh khí vào A-đam và ban sự sống cho ông (x. St 2,7), thì nay, Đức Giê-su Phục Sinh cũng thổi Thần Khí cho các Môn đệ. Rồi đến lượt các Môn đệ lại sẽ thông truyền sự sống thiêng liêng ấy cho các tín hữu. + “Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha. Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”: Đức Giê-su được Gio-an Tẩy Giả giới thiệu là Con Chiên của Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian (x Ga 1,29). Khi làm phép lạ chữa lành một người bại liệt, Đức Giê-su cho thấy Người có quyền tha tội (x. Mt 9,6). Trong Tin Mừng hôm nay, Người còn thiết lập bí tích Giải Tội, ban quyền tha tội cho các Tông đồ bằng việc thông ban Thánh Thần cho các ông. Sau này các Giám mục kế vị các Tông đồ sẽ tiếp tục thông chia quyền tha tội cho các linh mục là những cộng tác viên của mình.

- C 24-25: + Một người trong Nhóm Mười Hai tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô: Tô-ma là một trong Nhóm Mười Hai Tông đồ (x. Mt 10,3). Biệt danh là “Sinh Đôi”. Tính tình bộc trực và can đảm (x. Ga 11,16). Ông thường nêu ra thắc mắc để được Thầy giải thích rõ hơn (x.Ga 14,5). + Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người…: Tô-ma đòi được “mắt thấy tay sờ”, nghĩa là đòi một thứ đức tin khả giác giống như một nhà khoa học thực nghiệm (x. Ga 20,25). + “… thì tôi chẳng có tin”: Nhiều môn đệ khác cũng cứng lòng tin như thế. Tin Mừng Nhất lãm cũng nói tới sự cứng tin của các môn đệ: Matthêu viết: “Nhưng có mấy ông vẫn hoài nghi” (Mt 28,17); Mác-cô thuật lại: “Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người sau khi Người trỗi dậy” (Mc 16,14); Lu-ca ghi lại lời Chúa trách các môn đệ: “Sao anh em lại hoảng hốt ? Sao còn ngờ vực trong lòng ?” (Lc 24,38).

- C 26-27: + “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay thầy”. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy: Đức Giê-su đã thoả mãn những đòi hỏi của Tô-ma. + Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin: Đức Giê-su tuy trách tội cứng lòng của Tô-ma, nhưng Người cũng thông cảm và chỉ kêu gọi ông hãy tin vào mầu nhiệm Phục sinh của Người.

- C 28-31: + Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !”: Tuy Tô-ma là người tin Chúa sống lại sau cùng, nhưng ông lại tuyên xưng một đức tin đầy đủ nhất: Đức Giê-su vừa là Chúa (Đấng Cứu Thế), vừa là Thiên Chúa (Con Thiên Chúa). + Phúc thay những người không thấy mà tin”:  Từ đây, đức tin vào mầu nhiệm Phục Sinh của các tín hữu sẽ không dựa trên kinh nghiệm khả giác về các lần Chúa Phục Sinh hiện ra nữa, nhưng căn cứ trên lời chứng của các Tông đồ (x. Ga 19,35). Về sau, các ông còn làm chứng bằng việc sẵn sàng chịu chết vì niềm tin vào mầu nhiệm ấy.

4. CÂU HỎI:

1) Tại sao Hội Thánh chọn ngày Thứ Nhất trong tuần làm ngày Chúa Nhật thay vì Thứ Bảy (Sa-bát) như đạo Do thái ? 2) Việc Đức Giê-su Phục Sinh đến giữa các môn đệ tại nhà Tiệc ly khi cửa đóng kín cho thấy thân xác sống lại của Chúa có đặc tính gì ? 3) Qua lời chào, Chúa Phục Sinh đã ban cho các môn đệ điều gì ? 4) Khi cho môn đệ xem tay và cạnh sườn, Chúa Phục Sinh muốn nói gì với các ông ? 5) Sứ mệnh tông đồ thừa sai của Hội Thánh phát xuất từ đâu và vào lúc nào ? 6) Đức Giê-su thổi hơi ban Thần Khí cho các môn đệ nhằm mục đích gì ? 7) Bằng chứng nào cho thấy Đức Giê-su có quyền tha tội và Người trao quyền ấy cho Hội Thánh vào lúc nào ? 8) Tin Mừng cho biết gì về Tông đồ Tô-ma ? 9) Các Tông đồ có phải là những người dễ tin vào mầu nhiệm Phục Sinh không ? 10) Khi hiện ra lần thứ hai, Chúa Giê-su đã làm gì để thỏa mãn đòi hỏi của ông Tô-ma ? 11) Cuối cùng Tô-ma đã đạt tới đức tin trọn vẹn qua lời tuyên xưng như thế nào ? 12) Ngày nay các tín hữu cần dựa vào bằng chứng nào để tin vào mầu nhiệm Phục Sinh? 13) Sự cứng lòng của Tô-ma và của các Tông đồ có giá trị ra sao đối với đức tin của các tín hữu hôm nay ?

II. SỐNG LỜI CHÚA:

1. LỜI CHÚA: “Những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đức Ki-tô Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Ga 20,31).

2. CÂU CHUYỆN:

1) THỰC THI LÒNG THƯƠNG XÓT LÀ «QUÊN MUÔN OÁN VÀ GHI NHỚ MUÔN ƠN»:

Tác giả Ron Lee đã viết một câu chuyện trong cuốn "Một Thiên Chúa Tha thứ trong một thế giới không tha thứ" như sau: Có một vị linh mục là một người rất yêu mến Chúa, nhưng ông luôn bị ám ảnh bởi một tội mà ông đã phạm trong quá khứ. Ngài đã ăn năn sám hối nhưng vẫn không bình an tâm hồn. Ngày nọ, nghe nói có một phụ nữ trong giáo xứ thường được tiếp xúc và nói chuyện với Chúa trong giấc mơ. Vị linh mục không tin, muốn thử bà nên nói: « Lần sau nếu còn gặp Chúa thì bà hỏi Ngài xem, tôi đã phạm tội gì nhé? » Mấy ngày sau gặp lại bà, vị linh mục đã hỏi bà xem Chúa đã nói gì? Bà trả lời: « Chúa nói rằng: Ta chẳng còn nhớ gì nữa! »

Còn chúng ta hôm nay cần làm gì để noi gương Thiên Chúa giàu lòng từ bi thương xót.

2) LÀM CHỨNG CHO CHÚA BẰNG VIỆC SẴN SÀNG CHỊU CHẾT VÌ DANH CHÚA :

Tờ báo TIẾNG GỌI (L’Appelle) đã thuật lại một câu chuyện thật cảm động như sau: Một bà góa nghèo có một cậu con trai 16 tuổi đang học làm thủy thủ trên một tàu buôn chở hàng từ Pháp sang Nữu Ước (Hoa Kỳ). Trên tàu có 40 thủy thủ thì chỉ có cậu bé này là còn có đức tin vào Chúa.

Cậu bé được bà mẹ đạo đức khuyên dạy con rằng: “Chúa đặt con trên con tàu này là để cho con có dịp làm chứng cho Người”. Do đó, mỗi khi thấy đám thủy thủ trên tàu dùng thì giờ rảnh rỗi để uống rượu say xỉn hay chơi cờ bạc ăn tiền, hoặc mỗi khi con tàu cặp bến họ rủ nhau lên bờ tìm đến những tửu lầu để chơi bời sa đọa, thì cậu ta đều cố ngăn cản bằng cách này hay cách khác. Nhưng không những họ không chịu nghe cậu, mà nhiều khi còn chế diễu nhạo báng cậu: khi cậu nhắm mắt cầu nguyện tạ ơn Chúa trước khi ăn, thì họ bí mật đem đĩa đồ ăn của cậu giấu đi chỗ khác. Khi cậu quỳ gối đọc kinh, thì họ cố tình hát to những bài hát tục tĩu để chế nhạo. Có lần họ còn đổ cả xô nước dơ lên người cậu. Để đáp lại, cậu thiếu niên chỉ mỉm cười và âm thầm cầu xin Chúa cho họ.

Một lần kia khi đang làm việc trên boong tàu, thấy các bạn ngồi đánh bài, cậu liền đến giành lấy bộ bài đem dấu đi. Đám thủy thủ tức giận tóm lấy cậu và hè nhau quăng cậu xuống biển. Thấy cậu bơi lại gần con tàu thì họ lại dùng cây sào đẩy ra xa. Năm lần bảy lượt như vậy, cậu đã bị yếu sức dần. Khi sắp buông xuôi chìm xuống biển, cậu cố ngoi lên lần cuối và hét to rằng: “Các bạn ơi, hãy tin vào Chúa Giê-su thì các bạn sẽ được cứu độ… Xin hãy nhắn lại với mẹ tôi rằng: tôi đã được chịu chết vì danh Chúa Giê-su !” Nghe vậy, năm thủy thủ liền nhảy xuống biển đưa cậu lên boong tàu làm hô hấp nhân tạo. Một hồi sau cậu tỉnh dậy. Thấy mình còn sống, cậu đã cám ơn các bạn và lại tiếp tục kêu gọi họ đừng phạm tội nữa, nhưng hãy quay trở về với Chúa. Kết quả là sau đó toàn thể các thủy thủ trên tàu đều rất xúc động trước tấm gương can đảm trung kiên của cậu. Không ai bảo ai, họ đã quỳ gối xuống cầu nguyện và tuyên xưng đức tin, đồng thời ăn năn sám hối để xin ơn Chúa tha thứ tội lỗi cho mình.

3. THẢO LUẬN:

Cậu bé trên đã bất chấp nguy hiểm, can đảm trung thành với Chúa để làm chứng về Chúa, nên sau nhiều gian nan thử thách, cậu đã thành công. Để chu toàn sứ mệnh được sai đi, bạn cần làm gì để giúp những người chưa tin nhận ra tội lỗi để hồi tâm sám hối và theo làm môn đệ Chúa Giê-su ?

4. SUY NIỆM :

   1) Chúa Phục Sinh luôn đồng hành với các môn đệ trong cuộc sống:

- Chúa Giê-su Phục Sinh không bị giới hạn trong không gian: Người có thể xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau. Chẳng hạn: Hiện ra với bà Ma-ri-a Mác-đa-la ở gần ngôi mộ đã an táng Người; Hiện ra với các môn đệ tại nhà Tiệc Ly khi cửa đóng kín vì sợ người Do thái; Hiện ra với hai môn đệ trên con đường dài 11 cây số từ Giê-ru-sa-lem về làng Em-mau; Hiện ra với các môn đệ trên bờ hồ Ga-li-lê, sau khi các ông nghe tin nhắn và đang chài lưới bắt cá; Về sau, Người còn hiện ra tại cửa thành Đa-mát xứ Sy-ri-a, khi Sau-lô mang quân đến bắt các tín hữu.

- Chúa Giê-su Phục Sinh cũng không bị giới hạn trong thời gian: Người xuất hiện với bà Ma-ri-a lúc sáng sớm khi trời còn tối. Người hiện ra bên bờ hồ với các môn đệ khi ánh bình minh đang ló rạng. Người hiện ra trong nhà Tiệc Ly vào buổi chiều ngày Thứ Nhất khi mới phục sinh. Người xuất hiện trên đường đi làng Em-mau lúc chiều tối. Đối với các tín hữu chúng ta, Chúa Phục Sinh luôn đồng hành trong mọi lúc mọi nơi. Người có thể xuất hiện qua những người chúng ta gặp hằng ngày ở giữa đời thường: Người có thể là người làm vườn khi hiện ra với Ma-ri-a Mác-đa-la; là một khách bộ hành đi cùng đường với hai môn đệ về lang Em-mau; là một người rành về nghề bắt cá khi chỉ dẫn thành công cho các môn đệ đã vất vả suốt đêm mà không bắt được con nào. Người xuất hiện để đánh tan sự nghi ngờ của ông Tô-ma.

2) Chúa Phục Sinh ban ơn bình an và niềm hy vọng cho các môn đệ:

- Mỗi lần hiện ra, Chúa Phục Sinh đều chào chúc bình an như sau: "Bình an cho anh em". Rồi cũng như khi sáng tạo A-đam thời kỳ sáng thế, Chúa Phục Sinh cũng thổi hơi ban sự sống cho các môn đệ đang bị chết về đức tin mà nói: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần". Chính Thần Khí của Chúa Phục Sinh sẽ dần mạnh mẽ lên cho đến lễ Ngũ Tuần thì trở thành Cơn Gió Lốc ào vào nhà các môn đệ mở tung cửa ra, làm cháy lên lửa tin yêu trong lòng các ông và đẩy các ông đi rao giảng Tin Mừng Chúa Phục Sinh khắp thế gian để ban ơn cứu độ muôn người.

- Sau khi gặp Đức Kitô phục sinh, Ma-ri-a Mác-đa-la đang buồn bã trở nên vui tươi phấn khởi đi báo tin vui cho các anh em Chúa; Các môn đệ đang sợ hãi ẩn trốn trong nhà Tiệc Ly lấy lại được sự bình an; Hai môn đệ làng Em-mau đang u sầu tuyệt vọng trở nên nhiệt tình hăng say quay về Giê-ru-sa-lem báo tin cho các anh em; Các môn đệ đang mệt mỏi rã rời sau một đêm chài lưới vất vả vô ích, lập tức được hồi phục sức lực; Tô-ma đang tâm trạng nghi nan bối rối lấy lại niềm tin khi tuyên xưng đức tin: “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi”.

3) Chúa Phục Sinh đã sai các môn đệ đi loan báo Tin Mừng:

- Chúa Phục Sinh chính là Tin Mừng lớn lao mang lại ý nghĩa cho cuộc đời các môn đệ, nên họ không thể không loan báo Tin Mừng lớn lao đó: Ma-ri-a Mác-đa-la sau khi gặp Chúa Phục Sinh đã lập tức chạy về loan tin cho các môn đệ, thúc bách hai ông là Phê-rô và Gio-an chạy đua đến mộ để xem sự thể ra sao, và hai ông đã đạt tới đức tin; Hai môn đệ làng Em-mau lập tức trở về Giê-ru-sa-lem loan báo tin vui cho các anh em; Và sau này, Sau-lô sau khi bị ngã ngựa, đã gặp Chúa Phục Sinh và trở thành thánh Phao-lô, vị tông đồ dân ngoại hăng say loan báo Tin Mừng không mệt mỏi…

- Có thể nói: Tất cả những người đã gặp Chúa Phục Sinh đều trở thành sứ giả đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho mọi người, đều sẵn sàng lấy máu mình làm chứng cho lời mình rao giảng. Vì Đức Kitô phục sinh chính là một Tin Mừng không thể không chia sẻ cho mọi người.

4) Loan báo Tin Mừng chính là làm chứng về lòng Chúa thương xót:

- Trước khi về trời, Chúa Phục Sinh đã ra lệnh truyền cho các môn đệ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19-20). Loan báo Tin Mừng chính là làm chứng nhân của Chúa dưới ơn phù trợ của Thánh Thần như lời Chúa Phục Sinh: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).

- Lệnh sai đi loan báo Tin Mừng làm chứng nhân của Chúa Phục Sinh không thể không thi hành, như thánh Phao-lô nói: "Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng" (1 Cr 9,16). Hôm nay Chúa Phục Sinh cũng đang ở bên chúng ta trong mọi thời gian: từ khi mới chào đời đến tuổi thanh niên, từ tuổi trung niên đến giờ chết của mỗi người. Chúa Phục Sinh vẫn luôn ở bên chúng ta mọi nơi mọi lúc: Tại nhà thờ, nơi trường học, ở sở làm, nơi giải trí, trong gia đình, tại khu xóm. Người vẫn ở bên ta trong mọi cảnh ngộ vui buồn của cuộc đời của chúng ta… Chỉ cần dừng bước là chúng ta có thể gặp được Người đang hiện thân nơi người bên cạnh, nhất là nơi những người đau khổ bệnh tật nghèo đói vật chất cũng như tinh thần. Chúng ta sẽ đối xử thế nào với Người để có được sự bình an, có sự sống dồi dào trong tình thương của Chúa…

- Hôm nay là Chúa Nhật 2 Phục Sinh, kính nhớ lòng Chúa thương xót, Hội Thánh mời gọi chúng ta ý thức thân phận tội nhân của mình, đã được Chúa Giê-su chịu chết đền tội thay và đã sống lại để phục hồi sự sống cho chúng ta. Chúng ta cũng phải thể hiện lòng thương xót tha nhân noi gương Chúa Cha trên trời là Đấng giàu lòng từ bi đã thể hiện lòng thương xót đối với chúng ta. Chúa đang cần có thêm những người tốt để Ngài có thể tha thứ thế giới tội lỗi, giống như tổ phụ Áp-ra-ham xưa đã cầu xin Đức Chúa tha tội và không giáng phạt dân thành Sô-đô-ma, bằng việc tìm ra những người công chính trong thành. Cuối cùng do không tìm được đủ 10 người công chính, nên thành Sô-đô-ma đã bị lửa sinh diêm từ trời rơi xuống tiêu diệt. Hôm nay, cùng với thánh nữ Faus-ti-na, chúng ta cũng dâng lên Thiên Chúa những đau khổ chúng ta đang phải chịu, như của lễ đền tội, để xin Chúa tha tội loài người. Chúng ta cũng không quên dâng lên Chúa bản thân chúng ta, gia đình chúng ta và cả nhân loại để Ngài dủ lòng thương xót tha thứ và biến đổi thế giới chúng ta đang sống sớm nên “Trời Mới Đất Mới” đẹp lòng Ngài.

5. NGUYỆN CẦU:

- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Chúa đã sống đến cùng cuộc Vượt Qua của Chúa: Vượt qua đau khổ sự chết để được vào vinh quang sống lại. Xin cho chúng con biết sống mầu nhiệm Vượt Qua mỗi ngày: Vượt qua những sự ích kỷ, nhỏ nhen và những đam mê đang kéo ghì chúng con xuống bùn đen tội lỗi, vượt qua những nỗi sợ hãi khổ đau và nhục nhã. Vượt qua những nỗi khắc khoải đa nghi và những thành kiến không tốt về người khác.

- LẠY CHÚA. Chính sự phục sinh của Chúa động viên chúng con vui mừng và can đảm vượt qua những mất mát thua thiệt gặp phải trong cuộc sống. Ước gì chúng con biết noi gương Chúa : luôn gieo rắc sự bình an và niềm hy vọng khắp nơi, gieo rắc sự an ủi cho những người bệnh hoạn tật nguyền, gieo tình thương và cơm bánh cho những người cô đơn đói khát. Gieo lòng thương xót cho các người đang lạc xa Chúa để họ mau trở về với Chúa. Nhờ đó, thế giới này sẽ trở nên « Trời Mới Đất Mới » đầy tình thương, bình an và hạnh phúc theo thánh ý Chúa.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

LM ĐAN VINH -  HHTM

KHÔNG CHỈ ĐỦ – NHƯNG DƯ

Thứ Sáu Tuần 2 Phục Sinh A

“Họ liền đi thu những miếng thừa…, và chất đầy được mười hai thúng”.

“Thiên Chúa ban ân sủng theo lòng quảng đại của Ngài, không theo công trạng của chúng ta!” – Grêgôriô Cả.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không chỉ kể một phép lạ thết năm ngàn người ăn, nhưng mặc khải một cách thức: Thiên Chúa không ban theo công trạng hay mức cần thiết; Ngài ban dẫy đầy, ‘không chỉ đủ – nhưng dư’.

Trong Gioan, chi tiết “mười hai thúng” không chỉ là phần dư, nhưng là dấu chỉ mang chiều kích toàn thể: duodecim – con số của Israel, của Dân Chúa trong sự viên mãn. Như thế, điều còn lại không phải là phần thừa vô nghĩa, nhưng là phần không được giữ lại, vì tự nó đã hướng tới việc được trao đi. Ân sủng chỉ thực sự dư đầy khi không bị giữ lại. Không phải vì Thiên Chúa ban ít, nhưng vì con người không dám mở ra. Chính tại đây, một lệch hướng dễ xảy ra: điều được ban để trao đi bị giữ lại; từ đó, sự dư đầy dần mất ý nghĩa của nó. Vì thế, phép lạ không chỉ đáp ứng một cơn đói, nhưng mặc khải một logic: Thiên Chúa không hành động theo sự thiếu thốn của con người, nhưng theo sự phong phú của chính Ngài – ‘không chỉ đủ, nhưng dư’.

Thánh Augustinô coi “mười hai thúng” không như phần dư vật chất, nhưng như dấu chỉ của một sự phong phú vượt quá khả năng lãnh hội: Thiên Chúa không ban ít; chính con người không thể đón nhận hết. Vì thế, phần còn lại vượt quá tầm hiểu; có những điều chỉ được mở ra khi “về nhà”, Ngài giải thích riêng. Khoảng cách, vì thế, không nằm ở ân sủng, nhưng ở tương quan; ai ở lại, người đó đi sâu hơn vào sự dư đầy. Và chính những người ở lại sẽ trở thành trung gian phân phát: ân sủng không dừng lại nơi việc lãnh nhận, nhưng lưu chuyển. Đó không phải là điều xa: nhiều khi chúng ta chỉ dừng lại ở mức vừa đủ để hiểu, mà không bước vào để sống, để ra đi phân phát. “Là Kitô hữu không phải là kết quả của một lựa chọn luân lý hay một ý tưởng cao đẹp, nhưng là một cuộc gặp gỡ với một biến cố, một con người!” – Bênêđictô XVI.

Anh Chị em,

Nơi Đức Giêsu Kitô, ân sủng không còn là điều được ban, nhưng là chính Ngài. Ngài không chỉ trao ban, nhưng là sự sống được trao; không dừng lại ở mức đủ, nhưng trở thành dồi dào. “Tôi đến cho chiên tôi được sống, và sống dồi dào”. Sự sống ấy trước hết nuôi dưỡng con người trong cơn đói sâu sắc; rồi chạm đến những đổ vỡ để chữa lành; và cuối cùng mở ra ơn tha thứ, nơi con người được tái tạo từ bên trong. Vì thế, “Ở đâu tội lỗi lan tràn, ở đó, ân sủng càng chứa chan”. Vấn đề không phải là thiếu, nhưng là không dám sống từ sự dư đầy ấy. Vậy mà chúng ta thường chỉ tìm đủ để tồn tại, hơn là dám mở ra cho một sự sống dồi dào – chữa lành, tha thứ và sai đi. “Có những Kitô hữu sống như thể Mùa Chay không bao giờ dẫn đến Phục Sinh!”; “Có những Kitô hữu chọn một đời sống an toàn, khép kín, thay vì để mình được sai đi!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con sống cầm chừng vừa đủ, nhưng biết sống từ sự dư đầy của Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Chúa Thánh Thần Bảo Chứng Của Lòng Xót Thương

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH - KÍNH LÒNG CHÚA XÓT THƯƠNG

Ngay sau lời bình an, Chúa Phục Sinh lập tức trao ban Thánh Thần của Người. Lặp lại hành động tạo dựng năm xưa nơi địa đàng (x.St 2, 7), Chúa Phục Sinh “thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20, 22).

  1. CHÚA THÁNH THẦN TRONG TẠO DỰNG MỚI.

Cuộc tạo dựng đầu tiên đã bị tội lỗi phá vỡ. Chúa Kitô, trong sự phục sinh, đã xây dựng lại bằng ơn cứu chuộc của Người, hoàn lại cho thế giới sự sống trong Thiên Chúa mà Ađam từng đánh mất.

Ađam, người đầu tiên của vũ trụ, từ nắm đất, trở thành con người có sự sống nhờ hơi thở của Thiên Chúa. Nay, sau khi sống lại từ cõi chết, Chúa Kitô thổi hơi trên các tông đồ để biến đổi họ thành những con người của công cuộc tạo dựng mới, xứng hợp với công trình mới.

Hơi thở của Thiên Chúa là Thánh Thần của Chúa Cha và Chúa Kitô. Nếu chỉ một mình Ađam lãnh nhận sự sống là lãnh nhận cho cả loài người, thì Thánh Thần được trao ban từ Chúa Phục Sinh cũng dành cho mọi người, không trừ ai. Vì thế, bất cứ ai sinh ra trong trần thế, sẽ được sống trong Thiên Chúa, sống nhờ Thánh Thần tác sinh của Thiên Chúa.

Cũng vậy, lúc khởi đầu của Hội Thánh, Hội Thánh chỉ có các tông đồ. Hội Thánh là chính các tông đồ. Vì thế, khi Thánh Thần của sự sống mới từ nơi Đấng Phục Sinh được trao ban, thì không phải chỉ riêng các tông đồ nhận lãnh. Nhưng các tông đồ nhận lãnh, là nhận lãnh cho chúng ta, toàn thể Hội Thánh.

Nói cách khác, Chúa Kitô ban Thánh Thần của Người cho Hội Thánh qua các tông đồ. Hội Thánh ấy bao gồm cả các tông đồ và chúng ta.

  1. CHÚA THÁNH THẦN SỨC SỐNG MỚI CỦA HỘI THÁNH.

Thánh Thần của Chúa Kitô Phục Sinh luôn luôn khơi lên trong mỗi chúng ta sức sống mãnh liệt cho Thiên Chúa, cho Chúa Kitô, miễn là chúng ta mở lòng bằng cách để Người thực hiện mọi điều Người cần nơi chúng ta.

Hãy nhớ, khởi đầu sự sống đã là công trình của Chúa Thánh Thần thì chóp đỉnh của sự sống vinh quang cũng là do Chúa Thánh Thần.

Chúa Thánh Thần tiếp tục tác động mọi sự, âm thầm như hạt giống đang nảy mầm trong lòng đất, dai dẳng như hạt men vùi lấp giữa đống bột, để đến một ngày, sẽ đơm bông kết trái, sẽ dậy men toàn bộ sự sống trần thế thành sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa.

Từ ngàn xưa, Thiên Chúa không giữ sự sống, không độc quyền Thần Khí riêng mình. Vì lòng xót thương, sự sống thần linh, Thần Khí thánh của Người, luôn sung mãn, trào tràn, trao ban cho trần thế, cho loài thụ tạo mà Người xót thương.

  1. CHÚA THÁNH THẦN BẢO CHỨNG CỦA LÒNG THIÊN CHÚA XÓT THƯƠNG.

Điều đầu tiên ngay sau phục sinh, Chúa Kitô không làm gì khác hơn là trao ban Thánh Thần. Thánh Thần của Chúa Kitô cùng là Thánh Thần của Thiên Chúa, trở thành bảo chứng của lòng Thiên Chúa thương xót chúng ta.

Từ nay, Chúa Thánh Thần sẽ tiếp tục dạy dỗ ta, thánh hóa ta, đưa ta ngày càng đến với ơn cứu độ mà Chúa Kitô đã thực hiện. Chúa Thánh Thần chính là sự bảo đảm cho ta về một tình yêu cao cả mà Thiên Chúa không bao giờ ngừng, không bao giờ mệt mỏi để trao ban.

Chúa Thánh Thần được trao ban, là cách Thiên Chúa mạc khải lòng thương xót ngút ngàn của mình. Sau Chúa Kitô, Người Con Chí Ái của Người, giờ đây, Chúa Thánh Thần tiếp tục công trình cứu chuộc vì chúng ta, vì lợi ích thiêng liêng của chúng ta.

Như thế, trong lòng thương xót vô cùng dành cho trần thế, Thiên Chúa đã hiến dâng chính mình cách nhưng không, không phải trong một Ngôi, nhưng trọn cả Ba Ngôi Chí Thánh, dù sự tự hiến chính mình ấy theo phẩm tính riêng nơi mỗi Ngôi.

Tình yêu thương xót của Thiên Chúa dành cho chúng ta, không có bất cứ khoảnh khắc nào là “không”, nhưng luôn luôn là “có”. Từng người luôn hiện diện trong trái tim Thiên Chúa, luôn hiện diện cách ấm áp trong nỗi lòng xót thương của Thiên Chúa. Càng cụ thế hơn cho sự “có” ấy, Chúa Thánh Thần được ban cho trần thế, như bảo chứng đời đời của lòng thương xót, mãi mãi ở giữa trần thế, cư ngụ nơi mỗi con người.

Để bắt đầu cho loạt bài tĩnh tâm về Lòng Chúa thương xót, chúng ta khởi đi từ lời Thánh vịnh: “Tình yêu Chúa phải chăng nay cạn hẳn, và thánh ngôn chấm dứt đời đời? Hay Thiên Chúa đã quên thương xót, vì giận hờn mà khép kín từ tâm?” (Tv 77, 9-10).

Lời Thánh vịnh như tiếng than ai oán của người đau khổ. Tuy tâm tư nặng trĩu u buồn, lòng như chất chứa đầy đau thương, nội dung Thánh vịnh vẫn cho thấy lòng tin, sự trông chờ vào nỗi lòng của Thiên Chúa xót thương, chứ không phải thể hiện sự tuyệt vọng, sự phản kháng.

Cũng vậy, giữa lúc cuộc sống của mình, của những hoàn cảnh xung quanh bế tắc, ta như mang cùng tâm trạng với lời Thánh vịnh. Ta ôm nỗi u hoài trong tiêu hao, mỏi mòn của cuộc sống mà thốt lên để khần nài, để van lơn: Lạy Chúa, xin tiếp tục đoái nghe, xin đừng cạn yêu thương, đừng quay mặt mà không trao ban lời sống của Chúa.

Đã bao nhiêu lần, chúng ta cũng lần mò trong đức tin giữa những vây bũa của đau khổ. Nhưng chúng ta không nổi loạn, không tìm cách sa thải Chúa khỏi đời mình. Ngược lại, chúng vẫn bám víu vào Chúa: Lạy Chúa xin đừng quên thương xót, xin đừng giận hờn, đừng bỏ qua lòng từ tâm.

Vẫn nắm chặt tương quan với Chúa, dù phải ngập chìm trong đau khổ, ta mới có thể nhận thấy, hơn thế, ta xác tín:

“Lòng thương xót của Thiên Chúa là mãi mãi; lòng thương xót không bao giờ lụi tàn, không bao giờ cạn kiệt, không bao giờ đầu hàng khi đối diện với những cánh cửa khép kín, và không bao giờ mỏi mệt. Trong sự không bao giờ này, chúng ta tìm thấy sức mạnh trong những giây phút gặp thử thách và yếu đuối bởi vì chúng ta chắc chắn rằng Thiên Chúa không bỏ mặc chúng ta. Ngài vẫn ở với chúng ta mãi mãi” (Giáo hoàng Phanxicô, bài giảng lễ Lòng Chúa thương xót 2016).

  Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

Subcategories