7. Đời Sống Mới Trong Thần Khí

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - GIÁO LÝ CẦU NGUYỆN 30

  •  
    Tinh Cao  - ĐTC -
     
    Wed, Apr 14 at 6:35 PM
     
     

     

    ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Cầu Nguyện 

    Bài 30: Cầu Nguyện nơi Học Đường Giáo Hội

      

    Xin chào anh chị em thân mến,

    Giáo Hội là một đại học đường về cầu nguyện. Nhiều người trong chúng ta đã học được cách thức bập bẹ những kinh nguyện đầu tiên trên đùi của cha mẹ hay ông bà của chúng ta. Có lẽ chúng ta cảm thấy vui với hồi niệm về ba má của chúng ta, những người dạy chúng ta cầu nguyện trước khi đi ngủ. Những giây phút hồi tưởng này thường là những giây phút mà cha mẹ của chúng ta nghe thấy một điều kín mật nào đó và có thể cống hiến cho chúng ta lời khuyên nhủ theo Phúc Âm. Thế rồi khi lớn lên, chúng ta lại có được những cuộc gặp gỡ khác, với những chứng nhân và thày cô khác dạy chúng ta cầu nguyện (see Catechism of the Catholic Church, 2686-2687). Thật là tốt đẹp để tưởng nhớ.

    Đời sống của một giáo xứ và của hết mọi cộng đồng Kitô giáo được đánh dấu bằng những giây phút phụng vụ và những giây phút cầu nguyện cộng đồng. Chúng ta nhận thức được rằng tặng ân chúng ta đã nhận được một cách đơn giản thuở ấu thơ là một gia sản lớn lao, một di sản phong phú, và cảm nghiệm cầu nguyện này đáng được sâu đậm mỗi ngày một hơn (see ibid., 2688). Tấm áo đức tin không được vo hòn đóng cục mà là triển phát cùng với chúng ta; nó không được cứng ngắc mà là gia tăng, thậm chí qua cả những lúc khủng hoảng và phục sinh. Thực sự là không thể nào tăng trưởng nếu không có những giây phút khủng hoảng, vì khủng hoảng làm anh chị em tăng trưởng. Việc trải nghiệm khủng hoảng là cách thức cần thiết để tăng trưởng. Hơi thở của đức tin là cầu nguyện - chẳng những cầu nguyện tư riêng mà còn cầu nguyện với anh chị em của chúng ta, cũng như với một cộng đồng đã hỗ trợ và nâng đỡ chúng ta, với những người biết chúng ta, với những người chúng ta xin cầu nguyện cho chúng ta.

     Chính vì lý do này mà các cộng đồng cũng như các nhóm tập trung cầu nguyện cũng triển nở trong Giáo Hội. Một số Kitô hữu thậm chí cảm thấy được kêu gọi coi cầu nguyện là hoạt động chính cho ngày sống của họ. Có những đan tu viện, những công tu viện, những ẩn tu viện trong Giáo Hội là nơi những ngưòi tận hiến cho Thiên Chúa sống. Chúng thường trở thành trung tâm của ánh sáng thiêng liêng. Chúng là những trung tâm của cộng đồng cầu nguyện rạng ngời linh đạo. Chúng là những ốc đảo nho nhỏ, ở đó diễn ra việc cầu nguyện với nhau, và là nơi hằng ngày kiến tạo nên mối hiệp thông huynh đệ. Chúng là những tế bào sống còn chẳng những cho mô sợi Giáo Hội mà còn cho chính xã hội nữa. Chẳng hạn, chúng ta hãy nghĩ đến vai trò đời sống đan tu đã thủ vai trong việc hạ sinh và tăng trưởng của nền văn minh Âu Châu, và cả những nền văn hóa khác nữa. Cầu nguyện và làm việc trong cộng đồng là những gì giữ cho thế giới này tiến phát. Nó là một động lực!

    Hết mọi sự ở trong Giáo Hội đều bắt nguồn từ cầu nguyện, và hết mọi sự phát triển nhờ cầu nguyện. Khi kẻ thù, Tên Gian Ác, muốn chiến đấu với Giáo Hội, thì trước hết bằng cách cố gắng làm cạn khô những bể nước của Giáo Hội, ngăn cản đến với những bể nước này bằng cầu nguyện. Chẳng hạn chúng ta thấy xẩy ra điều này ở một số nhóm hội bằng lòng với việc canh tân tiến bước của Giáo Hội, với những thay đổi trong đời sống của Giáo Hội cũng như của tất cả mọi cơ cấu tổ chức, đó là một thứ phương tiện truyền thông loan tin cho hết mọi người... Thế nhưng cầu nguyện thì chẳng thấy đâu, chẳng có cầu nguyện gì. Chúng ta cần thay đổi điều này; chúng ta cần làm cho quyết định này khó một chút... Thế nhưng dự thảo là những gì đáng chú trọng. Nó đáng chú trọng! Chỉ bằng bàn luận, chỉ qua phương tiện truyền thông. Vậy thì cầu nguyện để đâu? Cầu nguyện là yếu tố mở cửa ra cho Thánh Linh, Đấng tác động sự tiến bộ. Những đổi thay trong Giáo Hội mà thiếu cầu nguyện thì không phải là những thay đổi do Giáo Hội thực hiện. Chúng là những thay đổi được thực hiện bởi các nhóm hội. Khi Kẻ Thù - như tôi đã nói - muốn chiến đấu với Giáo Hội, hắn chiến đấu trước hết bằng việc làm cạn khô các bể nước của Giáo Hội, ngăn chặn việc cầu nguyện, và biến những thứ này thành các dự thảo khác. Nếu ngưng việc cầu nguyện một chút thì dường như hết mọi sự vẫn có thể tiến triển như nó vẫn luôn như thế - không, mà bị ù lí chứ? - thế nhưng, sau một thời gian ngắn, Giáo Hội nhận ra rằng Giáo Hội đã trở thành như là một cái vỏ trống rỗng, đã bị mất đi những thứ chất chứa của mình, không còn sở hữu mạch nguồn sưởi ấm và yêu thương của mình.

    Những con người nam nữ thánh đức không sống một cuộc đời dễ dàng hơn những người khác. Thậm chí họ thực sự có những vấn để cần phải giải quyết, hơn thế nữa, họ còn thường trở thành đối tượng chống đối nữa. Thế nhưng, sức mạnh của họ là cầu nguyện. Họ luôn kín múc từ "giếng nước" bất khả cạn khô của Mẹ Giáo Hội. Bằng việc cầu nguyện, họ nung nấu ngọn lửa đức tin của họ, một đức tin như dầu được dùng cho đèn sáng. Vì thế họ tiến bước bằng đức tin và đức cậy. Các vị thánh, thường bị cho là thấp hèn trước mặt thế gian, thực sự là những con người duy trì thế giới này, không phải bằng những thứ khí giới tiền bạc hay quyền lực, khí giới của các thứ truyền thông - vân vân - mà bằng thứ khí giới cầu nguyện.

    Trong Phúc Âm Thánh Luca, Chúa Giêsu đã đặt một câu hỏi thảm thiết luôn làm cho chúng ta suy nghĩ, đó là "Khi Con Người đến thì không biết Người có còn thấy đức tin trên thế gian này hay chăng?" (18:8), hay là Người sẽ chỉ thấy toàn là những cơ cấu, như những nhóm thầu khoán của đức tin, thấy mọi sự được tổ chức tốt đẹp, thấy những con người làm việc bác ái, làm được nhiều điều, hay Người thấy đức tin? "Khi Con Người đến thì không biết Người có còn thấy đức tin trên thế gian này hay chăng?" Câu hỏi này ở cuối dụ ngôn cho thấy nhu cầu cần kiên trì cầu nguyện không mệt mỏi (see vv. 1-8). Bởi thế, chúng ta có thể kết luận rằng cây đèn đức tin sẽ luôn được cháy sáng trên thế gian này bao lâu còn thứ dầu cầu nguyện. Cầu nguyện giúp đức tin tiến bước và dẫn dắt đời sống của chúng ta - yếu hèn, tội lỗi - tiến lên, thế nhưng cầu nguyện dẫn dắt cuộc đời của chúng ta tiến lên một cách an toàn. Vấn đề Kitô hữu chúng ta cần tự vấn đó là: Tôi có cầu nguyện hay chăng? Chúng ta có cầu nguyện hay chăng? Tôi cầu nguyện như thế nào? Như con vẹt hay bằng tấm lòng? Tôi cầu nguyện ra sao? Tôi có cầu nguyện hay không khi tin rằng tôi ở trong Giáo Hội và tôi cầu nguyện với Giáo Hội? Hay tôi cầu nguyện một chút theo những ý nghĩ của tôi, rồi biến những ý nghĩ ấy thành lời cầu nguyện? Đó là thứ cầu nguyện dân ngoại, không phải Kitô giáo. Tôi xin lập lại: Chúng ta có thể kết luận rằng cây đèn đức tin sẽ luôn cháy sáng trên trái đất này bao lâu còn dầu cầu nguyện.

    Đó là công việc thiết yếu của Giáo Hội: là cầu nguyện và dạy cách cầu nguyện. Là truyền dạt cây đèn đức tin và dầu cầu nguyện từ đời nọ đến đời kia. Cây đèn đức tin chiếu sáng điều chỉnh lại những điều đúng như chúng là, nhưng nó chỉ có thể tiến tới bằng dầu cầu nguyện. Bằng không nó bị tắt lịm. Không có ánh sáng của cây đèn này, chúng ta sẽ không thể thấy được đường lối truyền bá phúc âm hóa, hay đúng hơn, chúng ta sẽ không thể thấy được đường đi nước bước để tin tưởng một cách tốt đẹp; chúng ta sẽ không thể thấy được khuôn mặt của anh chị em chúng ta để đến gần họ và phục vụ họ; chúng ta sẽ không thể chiếu soi căn phòng chúng ta gặp gỡ trong cộng đồng. Không có đức tin hết mọi sự sẽ sụp đổ; và không cầu nguyện đức tin bị tắt lịm. Đức tin và cầu nguyện là những gì đi với nhau. Không có chọn lựa nào khác. Vì thế, Giáo Hội, như nhà và học đường của hiệp thông, là nhà và học đường của đức tin và cầu nguyện.

     

    https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210414_udienza-generale.html

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

     

    --
    You received this message because you are subscribed to the Google Groups "LTXC-TD5" group.
    To unsubscribe from this group and stop receiving emails from it, send an email to This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it..
    To view this discussion on the web visit https://groups.google.com/d/msgid/ltxc-td5/CAKivYHqR4vfsSSNLtPPBdWt-fpmfzvzZD7LpS0qhH9kbtp4vrg%40mail.gmail.com.
     

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - NHÀ CHÚA CHA LÀ ĐIỂM NÓNG -

  •  

    Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới

    Peace As The Fruit Of Justice and Solidarity

    (Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39)

    www.conggiaovietnam.net      This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

     

     

     

    Bai06_JPG.jpg

     

     

        

    TẠI SAO “NHÀ CHÚA CHA” LÀ ĐIỂM NÓNG?

     Chuỗi Suy Tư Thần Học 02 (Hiện Tượng “NCC”) – Bài 05

    Tác giả: Jorathe Nắng Tím

    Nguồn: https://tinmungduongpho.com/

     

    TMĐP- Phần những người Kitô hữu, chúng ta phải làm gì khi đứng trước điểm nóng có thể tạo thành đám cháy?

    Xin lưu ý: Kính mời theo dõi những bài viết khác chia sẻ về hiện tượng "Nhà Chúa Cha tại Bảo Lộc, nay đã lập thêm nhà khác tại Virginia Hoa Kỳ":

    ĐỘC CHIÊU  “ĐÁNH LẬN CON ĐEN” CỦA MA QUỶ | Chuỗi Suy Tư Thần Học 02 (Hiện Tượng “NCC”)-Bài 04

    https://youtu.be/SuUZ9ewEQ0s

    https://tinmungduongpho.com/doc-chieu-danh-lan-con-den-cua-ma-quy-suy-tu-than-hoc/   

    MẸ CHÚA CHA là ai ? | Chuỗi Suy Tư Thần Học 02 (Hiện tượng "NCC") - Bài 03

    https://youtu.be/tXIQkknuEho

    https://tinmungduongpho.com/me-chua-cha-la-ai-nha-chua-cha-bao-loc-suy-tu-than-hoc/

    Từ trừ quỷ đến nuôi quỷ  | Chuỗi Suy Tư Thần Học 02 (Hiện tượng "NCC") - Bài 02

    https://youtu.be/cTXFAJweVcw

    https://tinmungduongpho.com/tu-tru-quy-den-nuoi-quy-suy-tu-than-hoc/

    Chia sẻ về hiện tượng Đức Mẹ nhập hồn  | Chuỗi Suy Tư Thần Học 02 (Hiện tượng "NCC") - Bài 01

    https://youtu.be/6iF3STvhiJM

    https://tinmungduongpho.com/chia-se-ve-hien-tuong-duc-me-nhap-hon-suy-tu-than-hoc/

    Một vài chia sẻ trước hiện tượng "Nhà Chúa Cha" ở Bảo Lộc  | Chuỗi Suy Tư Thần Học 01 (Hiện tượng "NCC") - Bài 01

    https://www.youtube.com/watch?v=fWeR3Au_K7k&t=352s

    https://tinmungduongpho.blogspot.com/2021/01/mot-vai-chia-se-truoc-hien-tuong-nha.html

    ***

     

    TẠI SAO “NHÀ CHÚA CHA” LÀ ĐIỂM NÓNG?

     

    Khi phân tích những vấn đề của “Nhà Chúa Cha”, người viết luôn tự nhủ mình phải “sống theo sự thật và trong tình bác ái” (Ep 4,15) như thánh Phaolô đã căn dặn, vì mục đích của việc trình bầy chân lý đức tin không nhằm đưa đến chia rẽ,  nhưng tìm về hiệp nhất, vì tất cả “chỉ là một thân thể trong Đức Kitô, mỗi người liên đới với người khác như những bộ phận của thân thể” (Rm 12,5); không nhằm xét đoán “để tránh gây cớ cho anh em mình phải vấp hay phải ngã” (Rm 14,13), vì không ai được “xét xử điều gì trước kỳ hạn, trước ngày Chúa đến” (1 Cr 4,5),  nhưng “theo đuổi những gì đem lại bình an và những gì xây dựng cho nhau” (Rm 14,19); cũng không nhằm tẩy chay, cô lập, loại trừ bất cứ người nào, dù người đó hoàn toàn  đi ngược đường lối của giáo lý đức tin, và bất tuân phục Huấn Quyền, nhưng “đón nhận nhau” như Đức Kitô đã đón nhận mọi người (x. Rm 15,7), vì không phải những người anh em đang bị ma quỷ cám dỗ, lôi kéo, quậy phá mà chúng ta chống, nhưng cùng với những anh em này, chúng ta chống lại ma quỷ, bằng cùng nhau “tìm sức mạnh trong Chúa và trong uy lực toàn năng của Người… để có thể đứng vững trước những mưu chước của ma quỷ. Vì chúng ta chiến đấu không phải với phàm nhân, nhưng là với những quyền lực thần thiêng, với những bậc thống trị thế giới tối tăm này, với những thần linh quái ác chốn trời cao” ( Ep 6,10-12).

    Và để  tất cả “chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Đức Kitô vì Người là Đầu. Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và toàn thân được kết cấu chặt chẽ.” (Ep 4,15-16), chúng ta phải cư xử với nhau  như “những người  được Thiên Chúa tuyển lựa, thánh hiến và yêu thương” với “lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà, nhẫn nại, chịu đựng, và tha thứ cho nhau” (x. Cl 3,12-13). Riêng với những vị có trách nhiệm giáo huấn, “người ấy phải lấy lòng hiền hoà mà giáo dục những kẻ chống đối: biết đâu Thiên Chúa lại chẳng ban cho họ ơn sám hối để nhận biết chân lý, và họ sẽ tỉnh ngộ, thoát khỏi cạm bẫy của ma quỷ đã dùng để bắt giữ họ và khiến họ làm theo ý nó?” (2 Tm 2,25-26).

     

    1.jpg

     

    Với tinh thần của người Kitô hữu nói trên, chúng ta mới có thể cùng nhau tìm xem đâu là nguyên nhân đã biến “Nhà Chúa Cha” thành điểm nóng, mà không làm tổn thương những anh chị em đang sống dưới mái nhà ấy, vì trong mọi trường hợp, họ vẫn luôn là anh em của chúng ta, nên chúng ta không được phép  quy kết, chụp mũ họ là quỷ, hoặc  người của quỷ, cánh tay nối dài của quỷ, con cái ma quỷ, vì chỉ một mình Thiên Chúa mới có quyền phán xét, vì chỉ một mình Ngài thấu suốt tâm can mỗi người.

     

    Nhà Chúa Cha là điểm nóng vì mức độ leo thang trong hoạt động không phù hợp với giáo lý đức tin công giáo:

    Hoạt động lúc đầu của Nhà Chúa Cha chỉ là chữa bệnh, trừ quỷ. Hầu như mọi người biết đến Nhà Chúa Cha qua hoạt động trừ quỷ, chữa bệnh này.

    Tâm lý bình thường thì ai cũng muốn mình và người thân khỏi bệnh, nhất là những bệnh mà y khoa không tìm ra nguyên nhân, hoặc tái đi tái lại mà không hy vọng chữa hết, nên chuyện đi tìm nơi trị bệnh, kiếm thầy chữa bệnh, “vái tứ phương để gặp thầy gặp thuốc” là chuyện không có gì phải ầm ĩ. Ngay cả chữa bằng cách nào, trị theo kiểu nào cũng không là vấn đề cần quan tâm đối với người bệnh,  miễn sao hết bệnh. Đó cũng là lý do nhiều người tự xưng mình là “thần y”, hoặc xưng là “thầy trừ tà, trừ quỷ”, và cũng là lý do nhiều con bệnh rơi vào hoàn cảnh “tiền mất tật mang”.

    Nhà Chúa Cha thì hoàn toàn khác, vì ở đây, bệnh nhân được mời gọi đi vào sinh hoạt đạo đức bằng dự lễ mỗi ngày, ăn chay trường, cầu nguyện liên lỷ, sống tự hạ,  và tha thứ như điều kiện để được chữa lành bệnh thân xác, vì bệnh được coi là hậu quả của việc ma quỷ đang hiện diện và quậy phá  đương sự, nên bệnh chỉ hết, khi ma quỷ bị trục xuất ra khỏi người bệnh.

    Nếu hoạt động ở Nhà Chúa Cha chỉ có thế, nghiã là chỉ thuần túy trừ quỷ, trừ tà thì có thể  vấn đề không trở nên trầm trọng đến nỗi Đấng Bản Quyền giáo phận phải mạnh tay can thiệp, vì công việc trừ quỷ, sau một thời gian quan sát và phân định, Giám Mục giáo phận có thể hợp pháp hoá cách này cách khác, theo sự khôn ngoan của ngài, vì dù gì đi nữa, mục đích chính vẫn là duy trì “hiệp nhất, hiệp thông”  trong Giáo Hội, để làm vinh danh Chúa và mưu ích cho các linh hồn mà  Bản Quyền giáo phận luôn nhắm tới, và cố gắng thực hiện.

    Nhưng vấn đề trở nên nhiêu khê, khi hoạt động của Nhà Chúa Cha đã không dừng ở việc trừ quỷ, trừ tà, nhưng leo thang một cách mau chóng và quyết liệt bằng những hoạt động thuộc phạm vi giáo lý đức tin, khi qủa quyết: Chúa Cha nhập cuộc với chương trình cứu thế mới của riêng Ngài, khi chọn một người và qua con người này, Chúa Cha trực tiếp mặc khải từ những việc bình thường trong ứng xử, và sinh hoạt hằng ngày, như phải trả lời thư của  đức cha giáo phận thế nào, phải chăm sóc em bé thuộc diện “thai thánh” làm sao, có cần phải gỡ xuống các clip làm chứng theo lệnh của Giám Mục không… đến những mặc khải quan trọng gây hoang mang trong cộng đồng dân Chúa,  và có thể làm đảo lộn toàn bộ Giáo Lý Đức Tin của Hội Thánh công giáo, có nguy cơ dẫn đến ly giáo như “không cần phải vâng phục Đấng Bản Quyền”, “Đức Maria là Mẹ của Chúa Cha”, “Đức Mẹ chọn chị Toàn và nhập vào chị để nói với nhân loại những điều Chúa Cha muốn, do chỉ thị trực tiếp của Chúa Cha, và tác động của Chúa Thánh Thần”, hoặc “Nhà Chúa Cha là nơi duy nhất Chúa Cha chọn đến ngự,  chị Thiên Thương là người duy nhất Chúa Cha chọn để viết ra những mặc khải mới cho thời đại mới, và thánh ý của Ngài cho từng người, từng công việc”.

    Vấn đề sở dĩ ngày càng trở nên nghiêm trọng mà hậu quả sẽ không nhỏ đối với đức tin của cộng đồng Dân Chúa, là vì hoạt động của Nhà Chúa Cha không còn được khoanh vùng, đóng khung, và giới hạn  ở việc trừ quỷ, nhưng đã đi qúa xa, vượt qúa những gì Giáo Lý Đức Tin cho phép, khi tự cho mình quyền nhận mặc khải mới,  quyền cắt nghiã và quảng bá mặc khải mới. Nói tóm lại, những bước chân của Nhà Chúa Cha đang lún sâu trong tiến trình ly giáo, tách khỏi Giáo Hội công giáo bằng  những việc làm hoàn toàn đi ngược Giáo Lý Đức Tin tông truyền.

     

    2.jpg

     

    “Nhà Chúa Cha ” là điểm nóng vì quy tụ được nhiều thành phần trong Giáo Hội:

    Có nhiều nhóm tự đặt mình ra ngoài Giáo Hội, khi không tuân phục Đấng Bản Quyền và tự động quảng bá những điều sai lạc, trái với giáo lý của Giáo Hội, nhưng những nhóm này không mấy được biết tới, và thường chỉ tồn tại một thời gian ngắn, và rất èo uột, vì  thành viên của những nhóm này hầu như chỉ  là giáo dân.

    Khác với những nhóm này, “Nhà Chúa Cha” thu hút sự chú ý của rất nhiều người, lôi kéo cảm tình và ủng hộ của số đông đáng kể trong nước cũng như ngoài nước, vì có sự tham gia của nhiều linh mục, tu sĩ nam nữ, là thành phần ưu tú, đươc tuyển chọn, được thánh hiến, có kiến thức thần học, đạo đức, đáng tin cậy, từng giữ vai trò chủ chăn, lãnh đạo, hướng dẫn cộng đoàn.

    Với người giáo dân, ở đâu có linh mục, tu sĩ hiện diện; hoạt động nào có linh mục, tu sĩ tham gia điều hành, cộng tác, ở đó có Giáo Hội, và an toàn của chân lý đức tin, vì với nhiều người: Cha là Chúa, Cha nói là Chúa nói, ý Cha là ý Chúa, nên không bận tâm suy nghĩ, cũng chẳng phải nặng lòng đắn do, nếu ở đó có cha, có sơ, có thầy; nếu việc đó có cha, sơ, thầy đang dấn thân thực hiện, vì các ngài không biết thì ai biết bây giờ, các ngài không thấy rõ thì ai thấy rõ đây.

    Vấn đề còn lại là công tác quảng bá, lan toả sứ điệp, đường lối, và các phương tiện truyền thông đại chúng được khai thác, tận dụng. Chúng ta đừng quên: ở thời đại công nghệ thông tin cực kỳ tân tiến này, con người không chỉ lười biếng di chuyển, mà còn lười biếng suy nghĩ nữa, nên người ta chỉ dễ dàng đón nhận những gì đến tận phòng ngủ, vào tận giường, kề tận tai, ngay trước mắt. Vì thế, việc truyền giáo của chúng ta cũng phải thích nghi với con người thời đại, khi biết xử dụng những phương tiện của thời đại để loan báo Tin Mừng đến  mọi người, mọi nhà. Và điểm này, Nhà Chúa Cha biết tận dụng.

     

    “Nhà Chúa Cha ” là điểm nóng, vì gồm nhiều thành viên có khả năng, cá tính và nhiệt huyết:

     

     

    3.jpg

     

    Không thể chối cãi một sự thật, đó là đa số thành viên Nhà Chúa Cha đều là những người có khả năng về nhiều lãnh vực, và là những người có cá tính mạnh và đầy nhiệt huyết. Nhờ những tính cách này, anh chị em tuy khác nhau ở tuổi tác, địa vị xã hội cũng như chức vụ trong Giáo Hội, và hoàn cảnh sinh hoạt đời thưòng đã làm nên  một nhóm gắn bó chặt chẽ, có cùng đường lối, chọn lựa. Chẳng hạn như khi được Giám Mục, hay Bề Trên nhà dòng yêu cầu tháo gỡ các clip làm chứng xuống , thì hầu như tất cả đã đồng lòng từ chối đề nghị này, và giữ vững lập trường chung.

    Thực vậy, những yếu tố nhân loại này đóng góp không ít vào sự thành công của Nhà Chúa Cha, và với đà phát triển hiện nay, với những con người hội nhiều điều kiện thuận lợi, không lâu sẽ mọc lên đó đây nhiều Nhà Chúa Cha khác, như vừa khai trương Nhà Chúa Cha thứ hai ở tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ.

     

     

    4.jpg

     

    Đứng trước  hiện tượng Nhà Chúa Cha được xem như điểm nóng, chúng ta thấy có nhiều nhận định khác nhau từ nhiều phía: người ủng hộ thì cho rằng “Nhà Chúa Cha” đích thực là công trình của Thiên Chúa. Những người này hầu hết không quan tâm đến những vấn đề thuộc tín lý, nhưng hài lòng vì Nhà Chúa Cha đang làm một công việc, mà từ xưa đến nay chưa bao giờ xẩy ra, cũng chưa ai dám làm, đó là trở thành “Tiếng Nói Sự Thật”  công khai đối đầu với tiếng nói của Giáo Quyền mà từ bao đời vẫn mãi chỉ là tiếng nói “độc thoại, độc quyền, độc đóan”;  hài lòng vì nhờ có “Nhà Chúa Cha ”, công trình của Chúa Cha, Tiếng Nói  của Sự Thật mới được cất lên, mới có cơ hội bật ra từ cửa miệng những người giáo dân “thấp cổ bé miệng” mà chưa bao giờ được tích cực hướng dẫn, khuyến khích, nâng đỡ  bởi những người thuộc hàng giáo sĩ, tu sĩ.

     Bên cạnh những người ủng hộ là những người đả kích, lên án. Tất nhiên những người này xem “Nhà Chúa Cha” là nhà của ma quỷ, là tổ quỷ và nặng lời nguyền rủa những ai đến cư ngụ và làm việc trong nhà này.

    Đứng giữa hai nhóm người này là nhóm có khuynh hướng bàng quan, nhưng thực dụng: bàng quan vì tận thâm tâm, vấn đề tín lý hoàn toàn được coi nhẹ, vì những Giáo Lý Đức Tin không giữ một vai trò nào trong đời sống của họ. Nhưng thực dụng, khi cho rằng phải có Nhà Chúa Cha, phải có lực lượng đối kháng, giữ vai trò phản biện, phê bình, thì Giáo Hội  mới canh tân, đổi mới, cũng như phải có người chê xấu, ta mới chăm chút diện mạo.

     

    Phần chúng ta, những người Kitô hữu, chúng ta phải làm gì khi đứng trước điểm nóng có thể tạo thành đám cháy?

    Một tâm hồn sôi sục căm tức? Không. Một trái tim vô cảm, không quan tâm ? Không. Một cõi lòng trống vắng, như  thửa đất hoang để thú dữ tha hồ tung hoành? Không.

    Bởi điều chúng ta phải làm chính là điều thánh Phaolô đã căn dặn tín hữu Philipphê trong thư của ngài: “Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Và bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Kitô Giêsu… Và Thiên Chúa là nguồn bình an sẽ ở với anh em” (Pl 4,6-7.9).

    Chính trong Đức Giêsu Kitô, với ơn Bình An của Ngài, tất cả chúng ta sẽ hiệp thông, hiệp nhất với nhau, dù hiện nay chúng ta đang đứng ở những vị trí khác nhau, có khi đối nghịch nhau trước “điểm nóng”, miễn là tất cả chúng ta đều biết “đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều chúng ta thỉnh nguyện ”.

    Xin Đức Maria là trạng sư thần thế trước mặt Thiên Chúa Ba Ngôi thương cầu bầu cho Giáo Hội và  chúng con !

    Jorathe Nắng Tím

    ***** 

    Thông báo chung từ Tin Mừng Đường Phố: Với mục đích Loan Báo Tin Mừng, tác giả Jorathe Nắng Tím và Tin Mừng Đường Phố chân thành cám ơn sự chia sẻ rộng rãi của Quý bạn, nhưng không đồng ý và không chịu trách nhiệm về những việc “làm lại” hoặc “thay đổi” nội dung cũng như hình ảnh của những clip gốc lấy từ nguồn Tin Mừng

      

     

 

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - ĐTC - GIÁO LÝ VỀ CẦU NGUYỆN # 29

 

  •  
    Tinh Cao
     
    Wed, Apr 7 at 6:45 PM
     
     

    ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Cầu Nguyện Bài 29:

     

    Cầu Nguyện trong mối Hiệp Thông với Các Thánh

     

    Xin chào anh chị em thân mến,

    Hôm nay, tôi muốn chia sẻ về mối liên hệ giữa cầu nguyện và mối hiệp thông với các thánh. Thật vậy, khi chúng ta cầu nguyện, chúng ta không bao giờ đơn độc một mình: cho dù  không nghĩ đến, chúng ta vẫn được chìm ngập trong một giòng sông uy nghi của các lời nguyện cầu đã tuôn trào trước chúng ta và tuần hành sau chúng ta. Một giòng sông uy nghi.

    Được chất chứa ở các lời cầu nguyện chúng ta thấy trong Thánh Kinh, những lời cầu nguyện thường âm vang phụng vụ, là những dấu vết của các câu truyện cổ xưa, về những cuộc giải phóng thần kỳ, về những tống xuất và đầy ải buồn thảm, về những cuộc trở về xúc động, về việc ngợi khen chúc tụng trước các kỳ quan của thiên nhiên vạn vật...Bởi thế mà các lời này đã được lưu truyền lại từ đời nọ đến đời kia, một kết nối liên tục giữa cảm nghiệm cá nhân với cảm nghiệm của dân chúng, cũng như của nhân loại có cả chúng ta trong đó. Không ai có thể tách khỏi lịch sử của mình, lịch sử của dân mình. Chúng ta luôn chất chứa nơi các thái độ của chúng ta cái gia sản này, ngay cả ở nơi cách thức nguyện cầu của chúng ta. Trong lời nguyện cầu chúc tụng, nhất là lời cầu xuất phát từ cõi lòng của những kẻ bé mọn và những ai khiêm hạ, âm vang những gì trong Ca Vịnh Ngợi Khen được Mẹ Maria đã dâng lên Thiên Chúa trước mặt người chị họ Isave của Mẹ; hay vang vọng lời cầu khẩn than van của vị Simeon lão thành, khi ẵm Bé Giêsu trên cánh tay của mình, đã nói như thế này: "Giờ đây xin Chúa cho tôi tớ Chúa đây được ra đi bằng an, như lời của Ngài" (Luca 2:29).

    Những lời cầu nguyện tốt đẹp như thế này đều có tinh chất "trải dài vươn rộng", như bất cứ những gì tốt đẹp khác; những lời cầu nguyện ấy tự mình tiếp tục lan truyền, dù có được đăng trên các hệ thống truyền thông xã hội hay chăng: ở các phòng trong bệnh viện, ở những lúc qui tụ lại mừng lễ đến những lúc chúng ta âm thầm chịu khổ... Nỗi đớn đau của một người là nỗi đớn đau của hết mọi người, và niềm hạnh phục của người này được truyền đạt cho tâm hồn của ai đó. Nỗi đớn đau và niềm hạnh phúc, tất cả chỉ là một câu truyện, các câu chuyện tạo nên câu chuyện đời sống của ai đó, câu chuyện này được kể lại bởi lời lẽ của ai đó, nhưng lại có cùng một cảm nghiệm.

    Cầu nguyện bao giờ cũng được tái sinh, ở chỗ mỗi lần chúng ta nắm tay nhau và mở lòng mình ra trước Thiên Chúa, chúng ta thấy mình hợp đoàn với các vị thánh vô danh cùng với các vị thánh được tuyên nhận là những vị đang cầu nguyện với chúng ta, và là những vị đang chuyển cầu cho chúng ta, như những người anh chị em lớn đã ra đi trước chúng ta trên cùng một cuộc hành trình trần thế. Không có vấn đề sầu thương nào ở trong Giáo Hội mà được xuất phát một cách cô độc hết, không có những giọt lệ nào nhỏ ra bị lãng quên, vì hết mọi người hít thở và tham phần vào cùng một ân sủng duy nhất. Không có vấn đề xẩy ra trùng hợp ngẫu nhiên, ở nhà thờ cổ, dân chúng được chôn táng trong các khu vườn được vây quanh bởi một dinh thự linh thánh, như muốn nói rằng, ở một nghĩa nào đó, cả đoàn lũ những ai đã ra đi trước chúng ta tham dự vào hết mọi phụng vụ Thánh Thể vậy. Cha mẹ và ông bà của chúng ta ở đó, cha mẹ đỡ đầu của chúng ta ở đó, các giáo lý viên cùng các thày cô khác cũng ở đó... Đức tin được truyền lại, được chuyển đạt, là đức tin chúng ta đã lãnh nhận. Cùng với đức tin, cả cách thức nguyện cầu và kinh nguyện cũng được truyền đạt lại nữa.

    Các thánh vẫn còn ở đây, không xa chúng ta; và các hình ảnh tiêu biểu của các vị ở trong các nhà thờ gợi lên cho thấy cả một "đám mây đầy những chứng nhân" luôn vây quanh chúng ta (see Heb 12:1). Khi mở đầu buổi triều kiến chung này, chúng ta đã nghe bài đọc từ đoạn Thư gửi Do Thái. Các vị là những chứng nhân chúng ta không tôn thờ - tức chúng ta không tôn thờ các thánh nhân - nhưng là những vị chúng ta tôn kính và là những vì bằng cả trăm ngàn cách mang Chúa Giêsu Kitô đến cho chúng ta, Vị Chúa và Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người. "Vị thánh" nào đó không mang anh chị em đến với Chúa Giêsu thì không phải là thánh, thậm chí cũng chẳng phải là một Kitô hữu nữa. Một vị thánh làm cho anh chị em nhớ đến Chúa Giêsu Kitô vì ngài đã theo lối sống của một Kitô hữu. Các thánh đều nhắc nhở chúng ta rằng, cho dù đời sống của chúng ta yếu hèn và tội lỗi, chúng ta vẫn có thể nên thánh. Thậm chí vào giây phút cuối cùng. Thật vậy, chúng ta đọc trong Phúc Âm thấy rằng vị thánh đầu tiên được chính Chúa Giêsu tuyên phong đó là một kẻ trộm cướp, chứ không phải là một vị Giáo Hoàng. Thánh thiện là một hành trình đời sống, một cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu dài hay ngắn hoặc tức khắc. Thế nhưng họ bao giờ cũng là một chứng nhân, thánh nhân là một chứng nhân, một người nam nữ đã gặp gỡ Chúa Giêsu và đã theo Chúa Giêsu. Không bao giờ quá trễ để hoán cải trở về cùng Chúa là Đấng tốt lành và cao cả trong tình yêu thương (see Ps 103:8).

    Sách Giáo Lý giải thích rằng các thánh chiêm ngắm Thiên Chúa, chúc tụng Ngài và liên lỉ chăm sóc cho những ai các ngài còn để lại trên trần thế. [...] Việc chuyển cầu của các ngài là việc phục vụ cao cả nhất của các ngài với dự án của Thiên Chúa. Chúng ta có thể và cần phải xin với các ngài chuyển cầu cho chúng ta cũng như cho toàn thế giới" (CCC 2683). Có một liên kết huyền diệu trong Chúa Kitô giữa những ai đã qua đi vào sự sống khác với thành phần lữ hành chúng ta nơi đời sống này, ở chỗ, từ Trời, các vị qua đời yêu dấu của chúng ta tiếp tục chăm sóc cho chúng ta. Các vị cầu nguyện cho chúng ta, và chúng ta cầu nguyện cho các vị và chúng ta cầu nguyện với các vị.

    Việc liên kết trong nguyện cầu giữa chúng ta và những ai đã cập bến - chúng ta cảm nghiệm thấy được mối liên kết này trong việc cầu nguyện ở trong đời sống trần gian này. Chúng ta cầu nguyện cho nhau, chúng ta ngỏ lời cầu xin và dâng lên các lời cầu xin.... Cách đầu tiên cầu nguyện cho ai đó là thưa cùng Thiên Chúa về họ. Nếu chúng ta làm điều này thường xuyên, làm từng ngày, lòng chúng ta không bị khép lại mà là mở ra cho anh chị em của chúng ta. Việc cầu cho người khác là cách thức trước hết tỏ lòng yêu thương họ, và hướng chúng ta tới chỗ cận kề một cách cụ thể. Ngay cả trong những lúc xung khắc, cách thức để giải quyết xung khắc, làm giảm bớt xung khắc, đó là cầu nguyện cho người chúng ta đang bị xung khắc. Một cái gì đó thay đổi theo lời cầu nguyện. Điều đầu tiên là điều thay đổi lòng của chúng ta và thái độ của chúng ta. Chúa thay đổi nó để nó trở thành một cuộc hội ngộ, một cuộc gặp gỡ mới mẻ, nhờ đó mà cuộc xung khắc không trở thành một cuộc chiến bất tận.

    Cách đầu tiên để đối diện với một thời khắc thử thách nào đó là xin anh chị em chúng ta, nhất là các thánh, cầu cho chúng ta. Cái tên được đặt cho chúng ta lúc chúng ta lãnh nhận Phép Rửa không phải là một thứ nhãn hiệu hay là một thứ trang trí vậy thôi! Nó thường là tên của Đức Trinh Nữ, hay một Vị Thánh, những vị chẳng mong gì ngoài việc "hỗ trợ" chúng ta trong đời sống, giúp chúng ta lãnh nhận ân sủng của Thiên Chúa mà chúng ta cần có. Nếu các thử thách của đời sống không tiến đến chỗ không thể chịu đựng, nếu chúng ta vẫn còn có thể kiên trì, nếu chúng ta vẫn còn tin tưởng tiến bước bất chấp mọi sự xẩy ra, không phải chỉ nhờ công nghiệp của chúng ta, mà có lẽ chúng ta nặng nợ tất cả những điều ấy nhờ lời chuyển câu của tất cả các vị thánh, nhờ ai đó trên Trời, những người khác đang đồng hành như chúng ta trên trái đất này, những con người trên trời dưới đất này đã bảo vệ và hỗ trợ chúng ta, vì tất cả chúng ta biết rằng có những con người thánh thiện trên trái đất này, những con người nam nữ thánh đang sống thánh. Họ không biết đến điều ấy; chúng ta cũng thế. Thế nhưng có những vị thánh, những vị thành hằng ngày, những vị thánh ẩn thân, hay như tôi thích nói, "những vị thánh bên cạnh", những con người chia sẻ đời sống của họ với chúng ta, những con người hoạt động với chúng ta và sống một cuộc đời thánh đức.

    Bởi thế, chúc tụng Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế duy nhất của thế giới này, cùng với muôn vàn các con người nam nữ thánh thiện đang sống trên trái đất này và những vị đã từng chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa bằng đời sống của họ. Vì - như Thánh Basiliô khẳng định - "Thần Linh thực sự là nơi cư ngụ của các thánh nhân, vì các vị hiến bản thân mình như là một nơi cư ngụ cho Thiên Chúa và được gọi là đền thờ của Ngài" (On the Holy Spirit, 26, 62: PG 32, 184A; see CCC, 2684).

     

    https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210407_udienza-generale.html

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

     

    --
    You received this message because you are subscribed to the Google Groups "LTXC-TD5" group.
    To unsubscribe from this group and stop receiving emails from it, send an email to This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it..
    To view this discussion on the web visit https://groups.google.com/d/msgid/ltxc-td5/CAKivYHpt%2Ba9NPCYGSiCUmfX56xL4%3D8jo4_8BWPTNx5i_wCuFCQ%40mail.gmail.com.
     

 

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - ĐTC GIÁNG CN2PS - LCT XOT

  •  
    Tinh Cao
    ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ
     
    Sun, Apr 11 at 9:12 AM
     
     

    ĐTC Phanxicô - Giảng Lễ Chúa Nhật II Phục Sinh Lễ LTXC

      

    Chúa Giêsu phục sinh đã hiện ra với các môn đệ mấy lần. Người đã nhẫn nại xoa dịu tấm lòng trục trặc của các vị. Tự mình sống lại, giờ đây Người mang đến "sự phục sinh cho các môn đệ"Người làm cho tinh thần của các vị sống lại và làm cho đời sống của họ đổi thay.

     Trước đó, những lời của Chúa cùng với gương sống của Người đều không thay đổi được các vị. Giờ đây, vào lúc Phục Sinh, một cái gì đó mới lạ đang xẩy ra, và nó xẩy ra theo chiều hướng của lòng thương xótChúa Giêsu làm cho các vị sống lại bằng lòng thương xót. Một khi đã lãnh nhận được lòng xót thương, các vị cũng biết thương xót. Thật khó lòng mà thương xót nếu không cảm thấy mình được xót thương trước.

    Trước hết, các vị nhận lãnh được lòng thương xót nhờ ba tặng ân. Tiên vàn, Chúa Giêsu cống hiến cho các vị tặng ân bình an, rồi tặng ân Thần Linh và sau cùng là tặng ân các Thương Tích của Người. Các vị môn đệ này bị khủng hoảng. Họ đã khóa kín cửa lại vì sợ hãi, sợ bị bắt và cuối cùng là giống như Thày. Thế nhưng các vị chẳng những cùng nhau bị hỗn độn trong một căn phòng; các vị tự mình còn cảm thấy một nỗi hối xót nữa. Các vị đã ruồng bỏ và chối bỏ Chúa Giêsu. Các vị đã cảm thấy mình bất lực, mất uy tín, chẳng lợi ích gì hết. Chúa Giêsu đã đến và nói cùng các vị hai lần rằng: "Bình an cho các con!Người không mang lại một thứ bình an để cất đi cho họ các thứ vấn đề rắc rối bề ngoài mà là thứ bình an thấm nhiễm lòng tin tưởng bên trong. Đó không phải là thứ bình an ngoại tại, mà là thứ bình an trong lòng. Người nói cùng các vị "Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thày thế nào thì Thày cũng sai các con như vậy" (Jn 20:21). Người như thể nói với các vị rằng: "Thày sai các con đi vì Thày tin vào các con". Những con người môn đệ thoái chí nản lòng này được ban cho bình an. Bình an của Chúa Giêsu làm cho các vị vượt qua từ nỗi hối xót sang sứ vụBình an của Chúa Giêsu làm bừng lên sứ vụ. Nó không bao gồm những gì là dễ dàng và dễ chịu, mà là thứ thách đố làm chúng ta bung mình ra. Bình an của Chúa Giêsu là những gì giải thoát chúng ta khỏi một tình trạng thu mình bại liệt; nó chặt đứt những thứ xích xiềng tâm can. Các vị môn đệ đã nhận ra rằng các vị đã được xót thương: các vị đã nhận thấy rằng Thiên Chúa đã không lên án các vị hay khinh miệt các vị, mà còn tin tưởng vào các vị nữa. Thật vậy, Thiên Chúa tin tưởng vào chúng ta hơn cả chính chúng ta tin vào bản thân chúng ta nữa. "Người yêu chúng ta hơn chúng ta yêu bản thân mình"(cf. SAINT JOHN HENRY NEWMAN, Meditations and Devotions, III, 12, 2). Một khi được Thiên Chúa quan tâm đến thì chẳng có ai là vô dụng, là mất uy tín hay là một thứ đồ bỏ. Hôm nay Chúa Giêsu cũng nói với chúng ta rằng: "Bình an cho các con! Các con là những gì quí báu trước mắt của Thày. Bình an cho các con! Các con là những gì quan trọng đối với Thày. Bình an cho các con! Các con có một sứ vụ. Không ai có thể chiếm chỗ của các con. Các con là những con người bất khả thay thế. Thày tin tưởng vào các con".

     Sau nữa, Chúa Giêsu tỏ lòng thương xót cho các môn đệ của Người bằng việc ban cho các vị Thánh LinhNgười đã ban Thần Linh thứ tha tội lỗi (cf.vv 22-23). Các vị môn đệ là những con người tội lỗi; các vị đã bỏ chạy, các vị đã ruồng bỏ một Bậc Thày. Tội lỗi đang hành hạ các vị; các vị đang phải trả giá sự dữ. Tội lỗi của chúng ta, như Thánh Vịnh gia nói (cf.51:5), luôn ở trước chúng ta. Tự mình, chúng ta không thể loại trừ tội lỗi. Chỉ một mình Thiên Chúa mới cất nó đi được thôi, chỉ duy mình Người, bằng lòng thương xót của Người, mới có thể làm cho chúng ta trồi lên khỏi những vực thẳm khốn cùng của chúng ta thôi. Như các vị môn đệ xưa, chúng ta cần phải được tha thứ, cần phải chân thành xin Chúa thứ tha. Chúng ta cần mở lòng chúng ta ra để được tha thứ. Ơn tha thứ trong Thánh Linh là tặng ân Phục Sinh giúp cho nội tâm của chúng ta nhờ đó mà được phục sinh. Chúng ta hãy xin ơn biết chấp nhận tặng ân này, biết tha thiết với Bí Tích tha thứVà ơn hiểu được rằng Bí Tích Giải Tội không phải là việc về bản thân chúng ta và tội lỗi của chúng ta, mà là về Thiên Chúa và là về lòng thương xót của Ngài. Chúng ta không xưng tội để hạ thấp chúng ta xuống, mà là để được nâng lên. Chúng ta, tất cả chúng ta, rất ư là cần đến điều này. Như một trẻ nhỏ, bất cứ khi nào chúng ngã, chúng đều cần được cha mẹ chúng nâng lên thế nào, chúng ta cũng cần như thế. Chúng ta cũng thường xuyên sa ngã. Và bàn tay Cha của chúng ta sẵn sàng nâng chúng ta đứng lên lại và làm cho chúng ta tiếp tục bước đi. Bàn tay bảo đảm và khả tín này là Bí Tích Giải Tội. Bí Tích Giải Tội là bí tích nâng chúng ta lên; bí tích này không để chúng ta nằm trên mặt đất, than khóc về những tảng đá cứng khiến chúng ta vấp ngã. Bí Tích Giải Tội là Bí Tích phục sinh, hoàn toàn thương xót. Tất cả những ai giải tội cần phải chuyển đạt những gì là ngọt ngèo của lòng thương xót. Đó là những gì vị giải tội cần phải làm, đó là chuyển đạt những gì là êm ái dịu dàng của lòng thương xót Chúa Giêsu, Đấng tha thứ hết mọi sự. Thiên Chúa là Đấng thứ tha hết tất cả mọi sự.

    Cùng với thứ bình an làm chúng ta phục hồi và ơn tha thứ nâng chúng ta lên, Chúa Giêsu đã cống hiến cho các môn đệ của Người tặng ân thứ ba là tặng ân của lòng thương xótở chỗ, Người đã tỏ ra cho các vị thấy các thương tích của Người. Bởi những thương tích này mà chúng ta đã được chữa lành (cf. 1 Pet 2:24; Is 53:5). Thế nhưng những vết thương này đã chữa lành chúng ta ra sao? Bằng lòng thương xót. Nơi những vết thương ấy, như Toma, chúng ta có thể thật sự chạm tới sự thật Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta cho đến cùng. Người đã làm cho các thương tích của chúng ta thành thương tích của Người, và đã mang lấy các thứ yều hèn của chúng ta nơi thân xác của Người. Các thương tích của Người là những thông mạch mở ra giữa Người và chúng ta, lan tỏa lòng thương xót trên tình trạng khốn nạn của chúng ta. Các thương tích của Người là những ngõ lối Thiên Chúa đã mở ra chúng ta tiến vào tình yêu dịu dàng của Người và thật sự "chạm đến" Đấng là Người. Chúng ta đừng bao giờ ngờ vực lòng thương xót của Người nữa. Bằng việc tôn thờ và hôn kính các thương tích của Người, chúng ta nhận ra rằng tất cả những yếu hèn của chúng ta đều đã được chấp nhận bằng tình yêu dịu dàng của NgườiĐiều này xẩy ra ở mỗi Thánh Lễ, khi Chúa Giêsu cống hiến cho chúng ta Thân Mình bị thương tích và phục sinh của Người. Chúng ta chạm đến Người và Người đụng vào đời sống của chúng ta. Người làm cho trời cao xuống với chúng ta. Các thương tích rạng ngời của Người xua tan bóng tối tăm trong lòng của chúng ta. Như Toma, chúng ta nhận biết Thiên Chúa; chúng ta nhận thấy Người gần gũi với chúng ta biết bao, và chúng ta cảm kích than lên rằng "Lạy Chúa của con và là Thiên Chúa của con!" (Jn 20:28). Tất cả mọi sự đều xuất phát từ đấy, từ ân sủng của việc lãnh nhận lòng thương xót. Đó là khởi điểm của hành trình Kitô hữu chúng ta. Thế nhưng, nếu chúng ta tin vào các khả năng của mình, vào tính chất hiệu năng của những gì chúng ta cấu trúc và dự phóng, chúng ta sẽ chẳng tiến được bao xa. Chỉ khi nào chúng ta chấp nhận tình yêu thương của Thiên Chúa, chúng ta mới có thể cống hiến một cái gì mới cho thế giới thôi.

    Những gì các vị môn đệ đã làm đó là lãnh nhận lòng thương xót, để rồi về phần mình các vị cũng biết xót thương. Chúng ta thấy được điều ấy trong bài đọc thứ nhất. Sách Tông Vụ thuật lại rằng "không ai lấy gì làm của riêng mình, nhưng tất cả những gì họ có đều làm của chung" (4:32). Đó không phải là cộng sản, mà là thuần Kitô giáo. Lại càng lạ lùng hơn nữa khi chúng ta nghĩ rằng cũng là những con người môn đệ ấy trước kia đã tranh cãi với nhau về những gì là phần thưởng và việc tưởng thưởng, và về ai là kẻ cao trọng nhất (cf. Mt 10:37; Lk 22:24). Giờ đây họ biết chia sẻ với nhau hết mọi sự; họ "chỉ có một lòng trí" (4:32). Làm sao họ có thể thay đổi như thế chứ? Bấy giờ họ thấy nơi những người khác bằng chính lòng thương xót đã thay đổi cuộc đời của họ. Họ đã khám phá ra rằng họ đã chia sẻ cùng một sứ vụ, ơn tha thứ và Thân Mình Chúa Giêsu, và vì thế họ tự nhiên biết chia sẻ những sở hữu trần gian của họ. Đoạn sách này tiếp tục: "Không còn người nào thiếu thốn trong họ nữa" (v.34). Những nỗi sợ hãi của họ đã bị tan biến bởi việc họ chạm tới các thương tích của Chúa, nên họ không sợ chữa lành những thương tích của những ai thiếu thốn cần giúp đỡ. Vì họ thấy Chúa Giêsu ở đó. Vì Chúa Giêsu ở đó, nơi những thương tích của những ai thiếu thốn cần giúp đỡ.

    Anh chị em thân mến, anh chị em có muốn dấu chứng Thiên Chúa đã chạm đến đời sống của anh chị em không? Nếu muốn thì anh chị em hãy cúi mình xuống để bằng bó các vết thương của người khác. Hôm nay là ngày cần đặt vấn đề xem "Tôi là người rất thường đã nhận được bình an của Chúa, lòng thương xót của Người, có biết xót thương người khác hay chăng? Tôi là người rất hay thường được nuôi dưỡng bằng Thân Mình của Chúa Giêsu, có nỗ lực để làm vơi đi tình trạng đói khổ của người nghèo hay chăng?" Chúng ta đừng cứ tiếp tục tỏ ra dửng dưng lạnh lùng. Chúng ta đừng sống thứ đức tin một chiều, thứ đức tin chỉ biết nhận lãnh mà không biết cho đi, thứ đức tin nhận lấy tặng ân những không biết chia sẻ tặng ân ấy. Được lãnh nhận lòng thương xót, thì chúng ta hãy biết xót thương. Vì nếu tình yêu chỉ là những gì về mình thì đức tin trở thành khô cằn, son sẻ và có tính cách tình cảm. Không có người khác, đức tin trở thành cái xác vô hồn. Thiếu các việc của lòng thương xót thì chỉ là thứ đức tin chết mà thôi (cf. Jas 2:17).

    Anh chị em thân mến, chúng ta hãy để cho mình được canh tân bởi thứ bình an, ơn tha thứ và các thương tích của Chúa Giêsu xót thương nhân hậu. Chúng ta hãy xin ơn trở thành các chứng nhân của lòng thương xót. Chỉ có thể đức tin của chúng ta mới sống động và đời sống của chúng ta mới được hiệp nhất nên một. Chỉ có thế chúng ta mới có thể công bố Phúc Âm của Chúa, Phúc Âm của lòng thương xót vậy.

     

    https://www.vatican.va/content/francesco/en/homilies/2021/documents/papa-francesco_20210411_omelia-divinamisericordia.html

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

     

    --
    You received this message because you are subscribed to the Google Groups "LTXC-TD5" group.
    To unsubscribe from this group and stop receiving emails from it, send an email to This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it..
    To view this discussion on the web visit https://groups.google.com/d/msgid/ltxc-td5/CAKivYHo7KsRbdMCya2556DUGXyxcDUWyaXTf%2By0E3KsegzjHvg%40mail.gmail.com.
     

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - SỐNG LẠI VỚI CHÚA

 

  •  
    nguyenthi leyen
     
    Sun, Apr 4 at 11:00 PM
     
     
    ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ
     
     

    Sống lại với Chúa

    GM VŨ VĂN THIÊN

     

    Giáo Hội không chỉ loan báo Đức Giêsu phục sinh, nhưng Giáo Hội còn mời gọi các con cái mình sống mầu nhiệm Phục sinh, tức là canh tân chính mình, đổi mới mỗi ngày để nên giống Đức Giêsu Phục sinh. Như thế, hành trình đức tin cũng là hành trình cố gắng để được sống lại với Chúa.

     
    Chúa Giêsu đã chết và đã sống lại! Đó là Tin Mừng lớn lao nhất mà Giáo Hội có sứ mạng loan báo cho mọi thời đại. Ngay từ thời đầu, các tông đồ đã ý thức được tầm quan trọng của thông điệp Phục sinh, nên mặc dù bị chống đối nhạo cười, thậm chí bị đánh đón và bắt giam, các ông vẫn kiên vững và khẳng định: Đức Giêsu đã chết và hiện đang sống. Khi bị đe dọa và cấm không được rao giảng Đức Kitô Phục sinh, ông Phêrô và ông Gioan đã trả lời các thủ lãnh Do Thái: “Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra” (Cv 4,20). Niềm xác tín và lý luận của các ông đã gây nên sự ngỡ ngàng nơi các thành viên Thượng Hội đồng, vì họ biết các ông là những người ít học. Giáo Hội không chỉ loan báo Đức Giêsu phục sinh, nhưng Giáo Hội còn  mời gọi các con cái mình sống mầu nhiệm Phục sinh, tức là canh tân chính mình, đổi mới mỗi ngày để nên giống Đức Giêsu Phục sinh. Như thế, hành trình đức tin cũng là hành trình cố gắng để được sống lại với Chúa.
     
    Trước hết, sống lại với Chúa để có mối liên hệ thân tình thâm sâu với Người. Cuộc sống hằng ngày làm chúng ta luôn bận rộn và nhiều khi lãng quên Thiên Chúa. Những âm thanh ồn ào bon chen của cuộc sống làm cho chúng ta không nghe được tiếng nói của Ngài. Sống lại với Chúa giúp ta nhận ra sự hiện hữu đầy yêu thương của Chúa. Chúa như người mẹ, luôn ấp ủ dưỡng dục con mình. Sự chăm sóc yêu thương ấy nhiều khi người con không nhận ra. Thiên Chúa luôn phù trợ chăm sóc chúng ta, mặc dù chúng ta không nhận ra điều ấy. Sống lại với Chúa là nhận ra sự quan phòng yêu thương của Ngài, đồng thời thường xuyên trao gửi phó thác nơi Ngài những bận tâm âu lo của cuộc sống, xin Ngài giúp tháo gỡ những bế tắc, để cuộc sống an vui. Sau khi gặp gỡ Đấng Phục sinh, các môn đệ hết ủ rũ buồn phiền. Nhờ được Chúa Phục sinh tiếp sức, các ông đã trở nên mạnh mẽ, can đảm. Hai môn đệ làng Emmau, sau khi gặp Chúa Phục sinh, đã trỗi dậy, trở về Giêrusalem ngay trong đêm, không còn thất vọng và chạy trốn nữa. Các ông tin chắc Đấng Phục sinh đang hiện diện giữa các ông.
     
    Sống lại với Chúa để thay đổi cách nhìn và đánh giá những người xung quanh. Vào lúc Chúa Giêsu tắt thở trên thập giá, viên Đại đội trưởng người Rôma thốt lên: “Người này đích thực là người công chính!” (Lc 23,47). Viên Đại đội trưởng đại diện cho những người thay đổi cái nhìn về Chúa Giêsu, khi chứng kiến cái chết của Người. Hình ảnh Chúa Giêsu giang tay trên thập giá, như muốn ôm lấy tất cả nhân loại không phân biệt. Người tin Chúa được mời gọi coi mọi người đều là anh chị em, đồng thời nhìn nhận phẩm giá của họ. Con người đáng quý trọng không phải bởi cái họ có, mà bởi cái họ là. Như thế, sự nghèo nàn, kém cỏi, bệnh tật, quê mùa... không phải là lý do để ta coi thường một người nào đó. Trái lại, ta phải tôn trọng phẩm giá của họ, vì họ cũng là con Thiên Chúa và được Ngài yêu thương. Cử hành lễ Phục sinh phải đi đôi với những cố gắng để dàn xếp những bất hòa, tha thứ những lỗi lầm, hàn gắn những chia rẽ. Lời ca “Alleluia” chỉ mang niềm vui đích thực khi tâm hồn chúng ta đổi mới, sống vị tha và an hòa với mọi người.
     
    Sống lại với Chúa để nhận ra Đấng Phục sinh đang hiện diện trong Giáo Hội và để yêu mến Giáo Hội hơn. Nhờ Bí tích Thanh tẩy, mỗi chúng ta đều là phần tử của Giáo Hội. Thánh Phaolô đã dùng hình ảnh một thân thể để diễn tả Giáo Hội. Chi thể nào cũng cần thiết để có một cuộc sống an bình mạnh khỏe. Một chi thể đau, các chi thể khác cũng bị ảnh hưởng. Chúa Phục sinh trao phó Giáo Hội của Người cho các tông đồ hướng dẫn. Vị tông đồ trưởng là Thánh Phêrô được Chúa trao nhiệm vụ trực tiếp, để “chăn dắt các chiên con” của Người (x. Ga 21, 15-18). Yêu mến Giáo Hội là cùng cảm thông với Giáo Hội trong mọi biến cố vui buồn, đồng thời đóng góp phần mình để Giáo Hội được tỏa sáng giữa trần gian. Trong xã hội Việt Nam, còn trên 90% đồng bào của chúng ta người chưa biết Chúa. Những người này dựa vào lối sống của các Kitô hữu để đánh giá Giáo Hội. Thái độ sống của chúng ta là lời giới thiệu hình ảnh của Giáo Hội. Một số người, do cố ý hay vô tình, đã làm biến dạng hình ảnh của Giáo Hội, làm cớ cho nhiều người phê phán Giáo Hội, vì lối sống của những người tín hữu này đi ngược lại với đức tin mà họ tuyên xưng.
     
    Sống lại với Chúa để yêu mến cuộc đời hiện tại hơn. Ơn cứu độ của Chúa Giêsu vừa tác động đến con người, vừa tác động đến vạn vật. Ơn Cứu độ của Người như mưa từ trời, dồi dào phong phú và đều khắp cho mọi người sống trên trần gian. Một số người không tin Chúa có thể khước từ ơn Cứu độ của Người, nhưng họ không thể khước từ những điều tốt lành Người thông ban trong thiên nhiên vũ trụ và nơi cuộc sống hằng ngày. Vì những ân ban của Thiên Chúa không phụ thuộc vào con người có tin hay không. Như mặt trời hiện hữu và tỏa sáng cho loài người và cho muôn vật, người khiếm thị không nhìn thấy mặt trời, nhưng không vì thế mà nói rằng không có mặt trời. Người tín hữu được phục sinh với Chúa sẽ cố gắng đóng góp phần mình để xây dựng cuộc sống trần thế tốt đẹp hơn, là “phác thảo của đời sau” như Công đồng Vatican II mong muốn. Những người thiếu thiện cảm với Giáo Hội thường phê phán các tín hữu chỉ lo hướng về đời sau mà quên lãng hoặc khinh chê các giá trị trần thế. Trong thực tế thì ngược lại, giáo huấn của Giáo Hội dạy chúng ta: vũ trụ này cũng sẽ được cứu thoát để trở nên tinh tuyền, không còn vương nhiễm khỏi tội lỗi do con người gây nên. Vì vậy, người tín hữu phải tôn trọng những giá trị nhân bản, văn hóa, đồng thởi bảo vệ thiên nhiên và môi trường sinh thái, vì trái đất là ngôi nhà chung của hết thảy chúng ta.
     
    Chúa Giêsu đã sống lại! Người đang sống giữa chúng ta. Những ai đón nhận Người, cuộc đời họ sẽ được thay đổi, niềm hy vọng sẽ được thắp sáng, đem lại an vui cho cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội. Chúng ta hãy loan tin vui này cho những người đang sống xung quanh chúng ta, nhất là những người chưa có cơ hội nghe nói về Chúa. Như thế, mỗi chúng ta sẽ là một chứng nhân của Chúa Phục sinh.
     
    Lễ Phục Sinh 
    +TGM Giuse Vũ Văn Thiên