7. Đời Sống Mới Trong Thần Khí

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - ĐTC HUẤN TỪ CN12TN-B

  •  
    Tinh Cao
     
     

     

    ĐTC Phanxicô: Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật XIV Thường Niên Năm B

     

    Thân ái chào anh chị em,

    Phúc Âm Chúa Nhật tuần này (Mk 6:1-6) nói với chúng ta về tình trạng bất tin tưởng của những người đồng hương với Chúa Giêsu. Sau khi rao giảng ở các làng mạc khác của xứ Galilêa, Chúa Giêsu đã trở về Nazarét, nơi Người đã khôn lớn với Mẹ Maria và Bõ Giuse; và vào ngày hưu lễ, Người bắt đầu giảng trong hội đường. Nhiều người lắng nghe Người xì xèo với nhau rằng: Bởi đâu hắnlại khôn ngoan như thể nhỉ? Hắn chẳng phải là con bác thợ mộc và bà Maria, những người dân làng quá quen thuộc của chúng ta hay sao?" (vv.1-3). Đối lại với phản ứng này, Chúa Giêsu đã khẳng định sự thật đã từng trở thành một lời nói khôn ngoan phổ thông, đó là "một vị tiên tri không được trân trọng ở quê hương xứ sở của mình, nơi họ hàng của mình và nơi gia đình của mình" (v.4). Chúng ta đã từng nói điều này nhiều lần...

    Chúng ta hãy suy nghĩ về thái độ của những người đồng hương với Chúa Giêsu. Chúng ta có thể nói rằng họ đã quen biết Chúa Giêsu, nhưng họ đã không nhận biết Người. Đó là những gì khác biệt giữa quen biết và nhận biết. Thật vậy, tính chất khác biệt này giúp chúng ta hiểu rằng chúng ta có thể hiểu biết những điều khác nhau về một con người nào đó, có được một ý nghĩ nào đó về người ấy, dựa vào những gì người khác nói về người ấy, chúng ta có lẽ còn gặp được người ấy hết lúc này đến lúc khác trong khu xóm của mình; thế nhưng, tất cả những điều ấy vẫn chưa đủ. Đó mới là một thứ kiến thức thôi, theo tôi, mới là những gì bình thường, nông cạn, những gì chưa có tính chất nhận biết về cái đặc thù của con người đó. Tất cả chúng ta đều có nguy cơ này, đó là chúng ta nghĩ chúng ta biết nhiều về một người nào đó, một con người thậm chí tệ hại, chúng ta sử dụng những nhãn hiệu này nọ để gán ghép cho họ, và nhốt họ vào trong những gì là thành kiến của chúng ta. Những người đồng hương của Chúa Giêsu đã quen biết Người 30 năm trời vẫn cứ như thế, nên họ cứ tưởng họ đã biết hết mọi sự! "Vậy thì thằng nhỏ này không phải là đứa bé chúng ta đã từng thấy khôn lớn, người con trai của bác thợ mộc và bà Maria hay sao? Những điều này từ đâu mà có chứ?" Tâm trạng bất tin tưởng này... thực sự cho thấy họ chưa bao giờ nhận biết được Chúa Giêsu thực sự là ai. Họ vẫn ở tầm mức ngoại diện, và chối bỏ những gì là mới mẻ về Chúa Giêsu.

    Ở đây chúng ta đụng tới cái then chốt thực sự của vấn đề này, đó là chúng ta để cho tính chất thuận lợi của thói quen và tính chất độc đoán của thành kiến chi phối làm chủ, khó cởi mở trước những gì là mới mẻ và để cho mình cảm thấy lạ lùng bỡ ngỡ. Chúng ta cai trị bằng những thái độ, với những thành kiến... Nó thường xẩy ra trong đời sống khi chúng ta tìm kiếm thấy những gì từ cảm nghiệm của chúng ta, thậm chí tìm kiếm nơi con người ta chỉ thấy những gì đối nghịch với những ý tưởng và đường lối suy nghĩ của chúng ta, để không bao giờ cố gắng thay đổi. Điều này thậm chí xẩy ra với cả Thiên Chúa nữa, và ngay cả với thành phần tín hữu chúng ta nữa, chúng ta là thành phần cứ nghĩ rằng chúng ta hiểu biết Chúa Giêsu, chúng ta đã quá biết về Người, và chỉ cần lập đi lập lại những điều bao giờ cũng giống nhau là đủ. Như thế vẫn chưa đủ với Thiên Chúa. Thế nhưng, nếu không cởi mở với những gì là mới mẻ, nhất là - xin anh chị em nghe cho kỹ đây - cởi mở trước những gì là lạ lùng của Thiên Chúa, không biết ngỡ ngàng bàng hoàng, thì đức tin trở thành một thứ kinh cầu buồn chán, dần dần trở thành nhạt nhẽo vô nghĩa như một thói quen, một thứ thói quen xã hội.

    Tôi vừa nói đến chữ bàng hoàng ngỡ ngàng. Bàng hoàng ngỡ ngàng là gì? Bàng hoàng ngỡ ngàng xẩy ra khi chúng ta được gặp gỡ Thiên Chúa: "Tôi đã gặp Chúa". Thế nhưng chúng ta đọc thấy trong Phúc Âm đó là nhiều lần một con người gặp gỡ được Chúa Giêsu và nhận biết Người thì họ đã cảm thấy bàng hoàng ngỡ ngàng. Phần chúng ta, chúng ta cần phải theo đuổi con đường này, đó là nhờ được gặp gỡ Thiên Chúa mà cảm thấy bàng hoàng ngỡ ngàng. Nó như là một thứ bảo chứng thư chứng tỏ việc gặp gỡ ấy là những gì thực sự xẩy ra chứ không phải là những quen thuộc.

    Sau hết, đâu là lý do tại sao những người đồng hương của Chúa Giêsu đã không nhận biết và tìn vào Người? Tại sao? Đâu là lý do? Chúng ta có thể nói vắn tắt rằng họ không chấp nhận cái đê hèn của việc Nhập Thể. Họ đã không hiểu biết mầu nhiệm Nhập Thể này, họ lại còn không chấp nhận mầu nhiệm ấy: họ đã không biết được nó. Họ đã không biết được lý do và họ đã nghĩ nó là những gì là đê hèn khi tính chất bao la cao cả của Thiên Chúa lại được tỏ ra ở những gì là bé mọn nơi xác thịt, khi Người Con Thiên Chúa lại trở thành người con của một bác thợ mộc, khi thần linh lại phải ẩn kín nơi loài người, khi Thiên Chúa lại có dung nhan hình hài ngôn ngữ, hành vi cử chỉ của một con người tầm thường. Đó là một thứ đê hèn: việc nhập thể của Thiên Chúa, tính chất cự thể của Người, 'đời sống hàng ngày' của Người. Thiên Chúa đã trở thành cụ thể nơi một con người, Con Người Giêsu Nazarét, Người đã trở thành một kẻ đồng hành tiến bước, Người đã biến mình làm một với chúng ta. Chúng ta có thể nói với Chúa Giêsu rằng "Chúa là một người trong chúng con". Thật là một lời cầu nguyện tuyệt vời! Chỉ vì một người trong chúng ta hiểu biết chúng ta, hỗ trợ chúng ta, tha thứ cho chúng ta, yêu thương chúng ta rất nhiều. Một vị chúa trừu tượng, xa cách thực sự thì thoải mái hơn, vị chúa không dính dáng gì đến những tình huống nào hết, và chấp nhận một thứ đức tin xa vời với đời sống, với các vấn đề, với xã hội. Hay chúng ta thậm chí còn muốn tin vào một vị chúa 'gây ra những tác dụng đặc biệt', vị chỉ thực hiện những gì là phi thường và bao giờ cũng gây ra những cảm xúc mạnh. Anh chị em ơi, Thiên Chúa lại đích thân nhập thể: Vị Thiên Chúa khiêm hạ, Vị Thiên Chúa dịu dàng, Vị Thiên Chúa ẩn thân, Ngài cận kề gần gũi chúng ta, sống với những gì là bình thường của cuộc sống hằng ngày của chúng ta.

    Bởi thế, những gì xẩy ra cho những người đồng hương của Chúa Giêsu cũng xẩy ra cho chúng ta nữa, khi chúng ta có nguy cơ không nhận biết Người khi Người băng ngang qua chúng ta. Tôi xin lập lại một câu nói tuyệt vời của Thánh Âu Quốc Tinh: "Tôi cảm thấy sợ hãi Thiên Chúa, sợ Chúa, khi Người băng ngang qua". Thế nhưng, hỡi Thánh Âu Quốc Tinh, tại sao ngài lại sợ chứ? "Tôi sợ rằng tôi không nhận ra Người, tôi sợ rằng khi Chúa băng ngang qua: Timeo Dominum transenuntem. Chúng ta không nhận ra Người, chúng ta bị Người làm cho ghê sợ, chúng ta nghĩ tưởng theo cõi lòng của chúng ta về thực tại này.

    Giờ đầy, trong nguyện cầu, chúng ta hãy xin với Đức Mẹ, Vị đã đón nhận mầu nhiệm của Thiên Chúa nơi đời sống hằng ngày của Mẹ ở Nazarét, cho có được một đôi mắt và tấm lòng thoát khỏi những gì là thành kiến, và có được một cặp mắt mở ra để được bàng hoàng ngỡ ngàng: "Lạy Chúa xin cho chúng con được gặp gỡ Chúa!" và khi chúng ta gặp gỡ Chúa thì xẩy ra tâm trạng bàng hoàng ngỡ ngàng này. Chúng ta gặp gỡ Người một cách bình thường: bằng đôi mắt mở ra trước những gì là lạ lùng của Thiên Chúa, trước sự hiện diện thấp hèn và kín đáo của Người nơi cuộc sống hằng ngày.

     

    https://www.vatican.va/content/francesco/en/angelus/2021/documents/papa-francesco_angelus_20210704.html

     

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

     

    --

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - ĐTC - SAO ANH EM NHÁT THẾ ?

  •  
    Tinh Cao
     
     

    ĐTC Phanxicô - Huấn Từ Truyền Tin cho Chúa Nhật XII Thường Niên Năm B

     

    "SAO NHÁT THẾ ? ANH EM VẪN CHƯA CÓ LÒNG TIN SAO ? (MAC-CÔ 4, 40)

     

     

    Xin chào anh chị em thân mến,

     

    Phụng vụ hôm nay kể lại cho chúng ta tình tiết về việc Chúa Giêsu dẹp yên bão tố (Mk 4:35-41). Con thuyền chở các môn đệ đang băng ngang qua biển hồ thì bị sóng gió tấn công, khiến cho các vị sợ mình bị chìm xuống. Chúa Giêsu cũng ở với các vị trên con thuyền này, thế nhưng Người ở đàng lái dựa gối mà ngủ. Đầy sợ hãi, các môn đệ liền la lên với Người rằng: "Thày ơi, chúng con sắp nguy đến nơi rồi mà Thày không quan tâm đến sao? (câu. 38).

     

    Cả chúng ta nữa, khi bị các cuộc thử thánh tấn công, đã rất thường kêu lên cùng Chúa rằng: "Tại sao Chúa cứ im lìm như thế mà chẳng làm gì cho con hết vậy?" Nhất là lúc chúng ta dường như chìm xuống, bởi lòng yêu thích hay dự án nào đó của chúng ta vốn tràn đầy hy vọng bị tiêu tan; hay lúc chúng ta bị tấn công bởi những đợt sóng lo âu dữ dội; hoặc khi chúng ta cảm thấy mình bị chết chìm trong các thứ vấn đề, hay bị lênh đênh lạc loài giữa biển đời, không còn biết đâu là phương hướng, là bến bờ nữa. Thậm chí ở vào những lúc chúng ta cảm thấy không còn nghị lực để tiến lên, vì chúng ta không có công ăn việc làm, hay được bác sĩ cho biết về một chứng bệnh bất ngờ nào đó khiến chúng ta lo sợ cho sức khỏe của mình, hoặc sức khỏe của thân nhân chúng ta. Có nhiều lúc chúng ta cảm thấy chúng ta đang ở trong một cơn bão tố; chúng ta cảm thấy chúng ta hầu như bị kiệt quệ.

     

    Trong những trường hợp này hay những trường hợp khác, chúng ta cũng cảm thấy ngột ngạt bởi sợ hãi, và như các môn đệ, chúng ta có nguy cơ đánh mất đi những gì là quan trọng nhất. Thật vậy, trên thuyến, cho dù là ngủ đó, Chúa Giêsu cũng đang ở đó mà, và Người chia sẻ với những ai thuộc về Người tất cả những gì đang xấy ra. Việc Người ngủ, một đàng khiến chúng ta ngỡ ngàng, nhưng đàng khác nó trở thành thử thách đối với chúng ta. Chúa hiện diện ở đó; thật vậy, có thể nói Người chờ đợi chúng ta gắn bó với Người, kêu cầu Người, đặt Người làm tâm điểm của những gì chúng ta đang trải qua. Giấc ngủ của Người khiến chúng ta bừng tỉnh. Vì là thành phần môn đệ của Chúa Giêsu không phải ở chỗ tin rằng Thiên Chúa hiện diện, Thiên Chúa ở đó là đủ, mà chúng ta còn cần phải đặt mình ở đó với Ngài nữa; chúng ta cũng cần phải lên tiếng với Ngài nữa. Hãy nghe điều này: chúng ta cần phải kêu lên cùng Ngài. Nhiều lần cầu nguyện là một tiếng kêu: "Chúa ơi, xin cứu con!" Tôi đang theo dõi chương trình "Theo hình ảnh của Ngài" hôm nay, Ngày Dân Tỵ Nạn, nhiều người ở trong những chiếc thuyền lớn, và vào lúc bị đắm chìm thì kêu lên: "Xin cứu chúng tôi!". Trong đời sống của chúng ta cũng xẩy ra tương tự như vậy: "Chúa ơi, xin cứu con!", và cầu nguyện trở thành một tiếng kêu la.

     

    Hôm nay chúng ta hãy tự vấn xem: đâu là những ngọn gió đang tấn công cuộc đời của tôi? Đâu là những cơn sóng cản trở hải trình của tôi, gây nguy hiểm cho đời sống thiêng liêng của tôi, đời sống gia đình của tôi, ngay cả đời sống đồng bóng của tôi? Chúng ta hãy thưa cùng Chúa Giêsu tất cả những điều ấy; chúng ta hãy nói với với Người hết tất cả mọi sự. Người muốn thế; Người muốn chúng ta nắm chặt lấy Người để nương náu cho khỏi những cơn sóng đời ngoài ý muốn. Bài Phúc Âm trình thuật rằng các môn đệ đến với Chúa Giêsu, đã đánh thức Người dậy và nói cùng Người (cf. v.38). Đó là khởi điểm cho đức tin của chúng ta, ở chỗ, nhìn nhận rằng chúng ta tự mình không thể cứ lênh đênh trôi nổi; chúng ta cần Chúa Giêsu như thành phần lái tầu cần đến ánh sao để thấy được đường đi. Đức tin bắt đầu từ việc tin rằng chúng ta không đủ cho bản thân chúng ta, từ việc chúng ta cảm thấy cần đến Thiên Chúa. Khi chúng ta biết chế ngự khuynh hướng khép kín, khi chúng ta thắng vượt được tính chất đạo giáo sai lầm không muốn làm phiền đến Thiên Chúa, khi chúng ta kêu lên cùng Ngài, thì Ngài có thể thực hiện những sự lạ lùng nơi chúng ta. Đó là quyền lực dịu dàng và phi thường của cầu nguyện làm nên phép lạ.

     

    Khi được các môn đệ kêu xin, Chúa Giêsu đã dẹp yên sóng gió. Rồi Người đã hỏi các vị một câu, một câu hỏi cũng liên quan cả đến chúng ta nữa, đó là: "Tại sao các con lại sợ? Các con không có đức tin hay sao?" (v.40). Các môn đệ đã sợ đến cuống lên, vì các vị chỉ tập trung vào sóng gió hơn là nhìn vào Chúa Giêsu. Nên nỗi sợ hãi khiến chúng ta nhìn vào các thứ vấn đề khó khăn, những vấn đề rùng rợn mà chẳng nhìn vào Chúa, Đấng nhiều lần như ngủ vậy. Chúng ta cũng như thế đó: biết bao nhiêu lần chúng ta cứ dính chặt lấy các vấn đề hơn là chạy đến với Chúa để bày tỏ các quan tâm của chúng ta cùng Người!

     

       Biết bao nhiêu lần chúng ta để Chúa ở trong một góc xó nào đó, ở đáy con tầu cuộc đời chúng ta, chỉ đánh thức Người khi chúng ta cần đến Người mà thôi! Hôm nay, chúng ta hãy xin ơn có được một đức tin không bao giờ ngừng tìm kiếm Chúa, không mệt mỏi gõ cửa lòng Người. Xin Trinh Nữ Maria, vị mà trong cuộc đời của mình, không bao giờ thôi tin tưởng vào Thiên Chúa, giúp tái bừng lên trong chúng ta cái nhu cầu căn bản này là hằng ngày biết phó mình cho Chúa.

     

    https://www.vatican.va/content/francesco/en/angelus/2021/documents/papa-francesco_angelus_20210620.html

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

     

    --
    .
     

ĐỜI SỐNG MỚI TRNG THẦN KHÍ - ĐTC -CẦU NGUYỆN NHƯ HƠI THỞ

  •  
    Tinh Cao
    Wed, Jun 9 at 6:15 PM
     
     

     

    ĐTC Phanxicô: Giáo Lý về Cầu Nguyện

     

     

    Bài 38: Cầu Nguyện Liên L

    CẦU NGUYỆN NHƯ HƠI THỞ

     

    Xin chào anh chị em thân mến,

    Trong bài giáo lý áp cuối về cầu nguyện này, chúng ta sắp nói đến việc kiên trì cầu nguyện. Đó là một lời mời gọi, thật ra là một mệnh lệnh từ trong Thánh Kinh ngỏ cùng chúng ta. Cuộc hành trình thiêng liêng của vị khách hành hương người Nga bắt đầu xẩy ra khi vị này chợt đọc thấy một câu của Thánh Phaolô trong Thư 1 ngài cho Giáo đoàn Thessalonica: "Hãy hằng liên lỉ cầu nguyện và cảm tạ về tất cả mọi sự" (5:17-18). Những lời của Vị Tông đồ này đã tác động con người ấy, và ông ta đã ngẫm nghĩ xem làm sao lại có thể không ngừng cầu nguyện được, nếu đời sống của chúng ta bị phân tán vào quá nhiều những giây phút khác nhau, không thể nào tập trung được. Theo vấn nạn này, ông ta đã bắt đầu tìm hiểu, một cuộc tìm hiểu dẫn ông ta tới chỗ khám phá những gì được gọi là cầu nguyện bằng cõi lòng. Nó là ở chỗ tin tưởng lập lại rằng: "Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin hãy thương xót con là kẻ tội lỗi!" "Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin hãy thương xót con là kẻ tội lỗi!" Một lời cầu nguyện đơn sơ nhưng rất đẹp. Một lời cầu nguyện từ từ biến thành nhịp thở và kéo dài suốt ngày. Đó là gì nào? "Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin hãy thương xót con là kẻ tội lỗi!" Tôi không nghe thấy. Xin anh chị em đọc to hơn! "Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin hãy thương xót con là kẻ tội lỗi!" Nhớ nhé, hãy lập đi lập lại lời cầu này. Thật vậy, việc hít thở chẳng ngừng, ngay cả trong khi chúng ta ngủ; và cầu nguyện là hơi thở của đời sống.

    Vậy thì làm sao có thể luôn bảo trì tình trạng cầu nguyện? Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo cống hiến cho chúng ta những trích dẫn tốt đẹp từ lịch sử của khoa tu đức học, một khoa nhấn mạnh đến nhu cầu cần phải liên tục cầu nguyện, nhờ đó cầu nguyện trở nên như cái đòn bẩy cho đời sống của Kitô hữu. Tôi sẽ đề cập đến một số trích dẫn này.

    Đan sĩ Evagrius Ponticus đã nói như thế này: "Chúng ta không được truyền lệnh để làm việc, để canh thức và để liên tục chay tịnh" - không, không phải là những gì được truyền khiến - "mà vấn đề được đặt ra đó là chúng ta cần phải không thôi cầu nguyện" (2742). Đó là cõi lòng ở nơi việc cầu nguyện. Bởi thế cần phải nhiệt tình trong đời sống Kitô hữu là những gì không bao giờ mất đi. Nó hơi giống như ngọn lửa thánh trong các đền thờ cổ, không ngừng cháy sáng, mà vị tư tế có nhiệm vụ phải giữ cho nó tiếp tục cháy sáng. Cũng cần phải có một ngọn lửa thánh trong cả chúng ta nữa, một ngọn lửa liên tục cháy, không gì làm cho nó lịm tắt đi. Đó là điều không phải dễ làm. Thế nhưng đó lại là cách cần phải thực hiện.

    Thánh Gioan Chrysostom, một vị mục tử khác, vị đã chú tâm đến đời sống thực, đã giảng rằng: "Ngay cả khi đang bước đi ở nơi công cộng hay tản bộ một mình, hoặc ngồi ở trong tiệm của anh chị em, trong lúc mua bán, hoặc trong khi làm bếp nấu nướng" (2743). Những lời cầu nguyện ngắn tắt: "Lạy Chúa, xin đoái thương đến chúng con", "Lạy Chúa xin giúp con". Vậy, cầu nguyện như là một thứ giòng kẻ nhạc để chúng ta ghi cung điệu cho cuộc đời của chúng ta. Nó không phản lại với việc làm hằng ngày, nó không mâu thuẫn với nhiều điều bó buộc và hẹn hò nhỏ mọn; có thể nói cầu nguyện là những gì mang lại ý nghĩa cho hết mọi việc làm, là lý do làm việc và là bình an cho việc làm. Bằng việc cầu nguyện.

    Thật ra đem áp dụng vào thực hành những nguyên tắc này là chuyện không dễ. Một người cha và một người mẹ, bị cuốn hút vào cả trăm ngàn công việc, có thể cảm thấy nhung nhớ đến một thời gian nào đó trong đời của họ, lúc họ còn dễ dàng có được những thời điểm và không gian bình thường để cầu nguyện. Thế rồi sau đó nào là con cái, nào là công ăn việc làm, nào là đời sống gia đình, nào là cha mẹ già yếu ... Người ta có cảm tưởng rằng không bao giờ sẽ có thể hoàn thành được tất cả những thứ chuyện ấy. Bởi thế nên chúng ta cần nghĩ rằng Thiên Chúa, Người Cha của chúng ta, Đấng cần phải coi sóc tất cả vũ trụ này, luôn nhớ đến từng người chúng ta. Do đó, chúng ta cũng cần phải tưởng nhớ đến Ngài nữa!

    Chúng ta cũng có thể nhớ rằng theo chủ trương đan tu Kitô giáo thì việc làm bao giờ cũng được coi trọng, chẳng những vì nhiệm vụ về luân lý trong việc cung cấp cho bản thân mình cũng như cho những người khác, mà còn là một thứ quân bình, một thứ quân bình nội tâm - không phải là việc làm hay sao? Thật là nguy hiểm cho con người trong việc vun trồng một thứ ham thích quá trừu tượng đến độ mất đi mối liên hệ với thực tại. Việc làm là những gì giúp chúng ta giữ được mối liên hệ với thực tại. Bàn tay của đan sĩ chắp lại nguyện cầu hằn vết sần sùi chai cứng của những kẻ đào bới cầy sới. Trong Phúc Âm Thánh Luca, khi Chúa Giêsu bảo Matta rằng chỉ có một điều duy nhất thực sự cần thiết là lằng nghe Thiên Chúa, Người hoàn toàn không có ý miệt thị nhiều việc làm mà cô nàng bấy giờ đang nỗ lực thực hiện.

    Hết tất cả mọi sự nơi hữu thể con người đều "cặp đôi": thân thể của chúng ta có tính chất đối xứng, ở chỗ, chúng ta có hai cánh tay, hai con mắt, hai bàn tay... Thế nên việc làm và cầu nguyện cũng có tính cách bổ khuyết. Cầu nguyện - là hơi thở của hết mọi sự - vẫn là cái phông nền sống động của việc làm, ngay cả trong những lúc nó không hẳn là hiển nhiên như thế. Thật là bất nhân khi quá lao mình vào việc làm đến độ anh chị em không có giờ cầu nguyện.

    Một đời cầu nguyện mà xa lạ với cuộc sống thì cũng chẳng lành mạnh gì. Một đời cầu nguyện tách mình ra khỏi những gì là cụ thể của cuộc sống thì trở thành duy tâm, hay tệ hơn, chỉ toàn hình thức. Chúng ta hãy nhớ rằng Chúa Giêsu, sau khi cho các môn đệ thấy vinh hiển của Người trên Núi Tabor, đã không muốn kéo dài giây phút ngất ngây ấy, trái lại, đã xuống núi với họ và tiếp tục hành trình thường nhật. Vì kinh nghiệm bấy giờ vẫn còn ở trong lòng của các vị như ánh sáng và sức mạnh cho đức tin của các vị; cũng là ánh sáng và sức mạnh cho những ngày sắp đến với các vị nữa, đó là những ngày Khổ Nạn. Nhờ đó, thời giờ giành ở với Thiên Chúa là những lúc làm tái sinh động đức tin, một đức tin giúp cho chúng ta trong những trường hợp cụ thể của cuộc sống, và là một đức tin, ngược lại, nuôi dưỡng việc cầu nguyện, không bị lũng đoạn. Trong việc luân lưu giữa đức tin, đời sống và cầu nguyện, con người ta giữ được ánh sáng của ngọn lửa đời sống Kitô hữu theo ý muốn của Thiên Chúa.

    Chúng ta hãy lập lại lời cầu nguyện đơn sơ rất cần được lập lại trong ngày sống. Để xem anh chị em còn nhớ không nhé. Nào tất cả đều đọc: "Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin hãy thương xót con là kẻ tội lỗi!" Việc đọc lời cầu nguyện này sẽ tiếp tục giúp anh chị em được hiệp nhất nên một với Chúa Giêsu. Xin cám ơn anh chị em.

     

    https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210609_udienza-generale.html

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

     

    --

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ

  •  
    Tinh Cao
    Wed, Jun 16 at 4:42 PM
     
     

     

    ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Cầu Nguyện

     

     

    Bài 39 - Cầu Nguyện của Chúa Kitô Khổ Giá

     

     

    Xin chào anh chị em thân mến!

    Chúng ta đã mấy lần lập lại ở loạt bài giáo lý này là việc cầu nguyện là một trong những đặc tính hiển nhiên nhất trong cuộc đời của Chúa Giêsu: Chúa Giêsu đã cầu nguyện, và Người đã cầu nguyện rất nhiều. Trong hành trình thực hiện sứ vụ của mình, Chúa Giêsu đã trầm mình cầu nguyện, vì việc đối thoại với cha là cái cốt lõi sáng chói cho tất cả cuộc sống của Người.

    Các Phúc Âm đều chứng thực việc cầu nguyện của Chúa Giêsu đã trở nên thậm chí còn thiết tha hơn và dầy đặc hơn vào giớ khắc khổ nạn và tử nạn của Người. Những biến cố tột đỉnh này của đời sống Người là những gì tạo nên cái cốt lõi chính yếu cho việc rao giảng của Kitô giáo: Những giờ khắc Chúa Giêsu trải qua cuối cùng ấy ở Jerusalem là tâm điểm của Phúc Âm, chẳng những vì các Thánh ký giành nhiều chỗ tương xứng để trình thuật, mà còn vì biến cố tử nạn và phục sinh của Người - như một chia chớp sáng - lám sáng tỏ những phần đời khác của Chúa Giêsu. Người không phải là một kẻ thương người tỏ ra chăm sóc nỗi khổ đau và yếu bệnh của con người: Người còn hơn như vậy nữa rất nhiều. Nơi Người không phải chỉ có sự thiện hảo: mà còn có một điều gì hơn thế nữa, đó là ơn cứu độ, không phải là một thứ cứu độ theo thời - có thể cứu tôi khỏi bệnh nạn hay một giây phút thất vọng nào đó - mà là ơn cứu độ trọn vẹn, ơn cứu độ thiên sai, ơn cứu độ cống hiến niềm hy vọng vào cuộc vinh thắng cuối cùng của sự sống trên sự chết.

    Bởi thế mà vào những ngày cuối cùng nơi Cuộc Vượt Qua của Người, chúng ta thấy Chúa Giêsu hoàn toàn trầm mình cầu nguyện.

    Người đã thảm thiết cầu nguyện trong vườn Nhiệt, như chúng ta đã nghe, bởi một nỗi sầu thương đến chết đi được. Thế nhưng, ngay trong giây phút đó, Chúa Giêsu đã thân thưa với Thiên Chúa là "Abba", cha (cf. Mk 14:36). Lời này, theo tiếng Aramatic là ngôn ngữ của Chúa Giêsu, bộc lộ tâm tình thân mật, lòng tin tưởng. Ngay khi Người cảm thấy tối tăm bủa vây Người, Chúa Giêsu liền xua tan nó bằng lời thỏ thẻ: Abba, cha.

    Chúa Giêsu cũng cầu nguyện trên thập tự giá, khi Người bị u ám che phủ trước Vị Thiên Chúa thinh lặng. Nhưng, một lần nữa, tiếng "Cha" lại thốt ra từ môi miệng của Người. Đó là lời cầu nguyện thiết tha nhất, vì trên thập tự giá, Chúa Giêsu là vị chuyển cầu tối cao: Người cầu cho những người khác, Người cầu cho hết mọi người, ngay cả những ai lên án Người, ngoài một phạm nhân đáng thương đứng về phía Người. Ai cũng chống lại Người hay tỏ ra dửng dưng lạnh lùng, chỉ có duy tay tội ác ấy đã nhận biết được quyền năng. "Cha ơi, xin tha cho họ; vì họ không biết những gì họ làm" (Lk 23:34). Ở giữa thảm trạng này, nơi cơn vô cùng đớn đau cả hồn lẫn xác ấy, Chúa Giêsu đã cầu nguyện bằng những lời thánh vịnh; với thành phần nghèo khổ trên thế giới, nhất là những ai bị mọi người quên lãng, Ngài đã thốt lên những lời thảm thương của Thánh Vịnh 22: "Chúa Trời tôi ơi, Chúa Trời tôi ơi, tại sao Ngài lại bỏ rơi tôi?" (v.2). Người cảm thấy bị ruồng bỏ, và Người đã cầu nguyện. Thánh giá là tặng ân trọn vẹn của Chúa Cha, Đấng hiến ban tình yêu thương, tức là, đã hoàn trọn ơn cứu độ cho chúng ta. Một lần nữa, Người lại gọi Ngài là "Chúa Trời tôi ơi, "Cha ơi, con xin phó linh hồn Con trong tay Cha": tức là hết mọi sự, tất cả mọi sự đều là cầu nguyện, trong 3 tiếng đồng hồ trên Thánh Giá.

    Bởi thế Chúa Giêsu cầu nguyện trong những giờ khắc quyết liệt nơi cuộc khổ nạn và tử nạn của Người. Chúa Cha đã đáp lại lời cầu nguyện của Người bằng cuộc phục sinh của Người. Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu là lời cầu nhiệt liệt, lời cầu nguyện của Chúa Giêsu là lời cầu độc đáo, và đồng thời cũng trở thành khuôn mẫu cho lời cầu nguyện của chúng ta. Chúa Giêsu cầu nguyện cho hết mọi người: Người thậm chí đã cầu nguyện cho tôi, cho mỗi một người trong anh chị em. Hết mọi người đều có thể nói rằng: "Chúa Giêsu đã cầu nguyện cho tôi trên thập tự giá". Người đã cầu nguyện. Chúa Giêsu có thể nói với từng người trong chúng ta rằng: "Thày đã cầu nguyện cho con ở Bữa Tiệc Ly, và ở trên cây Thánh Giá". Ngay cả trong lúc đớn đau khổ sở nhất, chúng ta cũng chẳng bao giờ bị lẻ loi cô độc. Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu vẫn ở với chúng ta. "Vậy thưa cha, đây, chúng tôi đang lắng nghe những điều này, Chúa Giêsu có cầu cho chúng tôi hay chăng?" Có chứ, Người tiếp tục cầu nguyện để lời của Người giúp chúng ta tiến bước. Thế nhưng, hãy cầu nguyện và hãy nhớ rằng Người đang cầu nguyện cho chúng ta.

    Điều ấy, đối với tôi như là những gì tuyệt vời để ghi nhớ. Đây là bài giáo lý cuối cùng của loạt bài giáo lý về cầu nguyện: hãy nhớ rằng ân sủng là ở chỗ chúng ta không chỉ cầu nguyện mà còn có thể nói chúng ta được "cầu nguyện cho" nữa, chúng ta đã được đón nhận nơi cuộc đối thoại của Chúa Giêsu với Chúa Cha, hiệp thông với Thánh Linh. Chúa Giêsu cầu nguyện cho tôi: mỗi người trong chúng ta có thể ghi nhớ lấy điều ấy. Chúng ta không được quên điều này. Ngay cả trong những lúc tệ hại nhất. Chúng ta đã được đón nhận trong cuộc đối thoại của Người với Chúa Cha trong mối hiệp thông của Thánh Linh. Chúng ta đã được Chúa Giêsu Kitô chấp nhận, và ngày trong giờ khắc khổ nạn, tử nạn và phục sinh, hết mọi sự đã được cống hiến cho chúng ta.

       Bởi thế, bằng cầu nguyện và đời sống, chỉ còn lòng can đảm và niềm hy vọng, và nhờ lòng can đảm và niềm hy vọng này để cảm thấy mãnh liệt được lời cầu nguyện của Chúa Giêsu và để cứ tiến bước: nhờ đó cuộc sống của chúng ta được trở thành một đời sống tôn vinh Thiên Chúa, với ý thức rằng Người cầu nguyện cùng Chúa Cha cho tôi, Chúa Giêsu đang cầu nguyện cho tôi.

     

    https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210616_udienza-generale.html

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

    ----------------------------------------

     


DỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - ĐTC HUẤN TỪ LỄ MÌNH THÁNH

  •  
    nguyenthi leyen
     
    Mon, Jun 7 at 10:53 PM
     
     
     
     
     
     
    Ảnh cùng dòng

     
     

    ĐTC Phanxicô: Huấn Từ Truyền Tin cho Chúa Nhật Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô

     

     

    Xin chào anh chị em thân mến,

    Hôm nay, ở Ý và ở các xứ sớ khác cử hành Lễ Trọng Kính Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Bài Phúc Âm cho chúng ta thấy câu chuyện về Bữa Tiệc Ly (Mk 14: 12-16.22-26). Những lời nói và cử chỉ của Chúa là những gì tác động đến lòng của chúng ta: Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ mà nói: "Các con hãy nhận lấy, này là mình Thày" (câu 22).

    Như thế, chính Chúa Giêsu ban cho chúng ta bí tích cao trọng nhất này một cách giản dị. Cử chỉ của Người là một cử chỉ tặng ban khiêm hạ, là một cử chỉ chia sẻ. Ở tột đỉnh đời mình, Người không phân phát đầy những bánh để nuôi đám đông, mà là bẻ chính bản thân Người ở bữa Vượt Qua với các môn đệ. Nơi cử chỉ này, Chúa Giêsu chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng đích nhắm của đời sống là ở chỗ ban tặng bản thân mình, điều cao cả nhất đó là phục vụ. Hôm nay chúng ta thấy được sự cao cả của Thiên Chúa ở nơi một miếng Bánh, ở một thứ mỏng dòn mềm yếu tràn đầy những gì là yêu thương, tràn đầy những gì là chia sẻ. Tôi muốn nhấn mạnh chữ mỏng dòn mềm yếu này. Chúa Giêsu trở thành mỏng dòn mềm yếu như miếng bánh bẻ ra và vụn vặt. Thế nhưng sức mạnh lại nắm ngay ở đó, ở tính chất mỏng dòn mềm yếu của mình. Nơi Thánh Thể, mỏng dòn mềm yếu là sức mạnh: sức mạnh của tình yêu trở thành nhỏ bé để được chấp nhận mà không sợ hãi; sức mạnh của tình yêu thương được bẻ ra và phân chia để nuôi dưỡng cùng ban sự sống; sức mạnh của tình yêu trở thành những mảnh nhỏ để hiệp nhất tất cả chúng ta lại với nhau.

    Cũng có một thứ sức mạnh khác xuất phát từ tính chất mỏng dòn mềm yếu của Thánh Thể, đó là sức mạnh để yêu thương những ai lầm lỗi. Chính vào đêm Người bị phản bội mà Chúa Giêsu cống hiến cho chúng ta Bánh sự sống nàyNgười ban cho chúng ta tặng ân cao cả nhất khi Người cảm thấy cái vực thẳm sâu nhất trong cõi lòng của Người, đó là người môn đệ ăn uống với Người, nhúng miếng bánh vào cùng một đĩa của Người, lại đang phản bội Người. Phản bội là nỗi đớn đau nhất đối với những ai yêu thương. Vậy Chúa Giêsu đã làm gì? Ngài phản ứng lại sự dữ bằng sự thiện cao cả hơn thế nữa. Người đã đáp lại cái 'không' của Giuđa bằng cái 'có' của lòng xót thương. Người không trừng phạt tội nhân, mà là cống hiến sự sống của mình cho họ, mà là cầu nguyện cho họ. Khi chúng ta đón lấy Thánh Thể thì Chúa Giêsu cũng làm y như thế, ở chỗ, Người biết chúng ta, Người biết chúng ta là thành phần tội nhân, Người biết chúng ta rất sai trái, nhưng Người vẫn không thôi liên kết sự sống của Người với sự sống của chúng ta. Người biết chúng ta cần nó, vì Thánh Thể không phải là phần thưởng cho các vị thánh, không, mà là Thứ Bánh của các tội nhânĐó là lý do tại sao Người đã huấn dụ chúng ta rằng: "Đừng sợ! Các con hãy nhận lấy mà ăn".

    Mỗi lần chúng ta lãnh nhận Bánh sự sống này, Chúa Giêsu đến với chúng ta để cống hiến cho những gì là mỏng dòn mềm yếu của chúng ta một ý nghĩa mới. Người nhắc nhở chúng ta rằng trước nhan của Người chúng ta còn quí báu hơn là những gì chúng ta nghĩ nữa. Người nói với chúng ta rằng Người cảm thấy vui sướng khi chúng ta biết chia sẻ những gì là mỏng dòn mềm yếu của chúng ta với Người. Người lập lại với chúng ta rằng lòng thương xót của Người không sợ những gì là khốn nạn của chúng ta. Lòng thương xót của Chúa Giêsu không sợ hãi những gì là khốn nạn của chúng ta. Trên hết mọi sự, lòng thương xót của Người ưu ái chữa lành chúng ta cho khỏi những gì là mong manh chúng ta không thể tự chữa lành cho bản thân mình. Những mong manh nào vậy? Chúng ta nghĩ xem. Cái mong manh của cảm giác phẫn uất đối với những ai phạm đến chúng ta - mà tự mình chúng ta không thể chữa lành được -; cái mong manh muốn tách mình khỏi những người khác và cô lập hóa bản thân mình - mà tự bản thân chúng ta không thể chữa lành -; cái mong manh khóc lóc về bản thân mình và phàn nàn trách móc bất an; ngay cả như thế nữa chúng ta cũng không thể tự chữa lành cho bản thân mình. Chính Người là Đấng chữa lành chúng ta bằng sự hiện diện của Người, bằng bánh của Người, bằng Thánh Thể. Thánh Thể là một dược liệu hữu hiệu chữa trị những gì là khép kín. Thật vậy, thứ Bánh Sự Sống này chữa lành những gì là khô cằn cứng cỏi để biến chúng thành những gì là mềm mại dễ thương.

    Thánh Thể là những gì chữa lành, vì Thánh Thể liên kết với Chúa Giêsu, ở chỗ, Thánh Thể đồng hóa chúng ta với lối sống của Người, với khả năng bẻ ra để hiến mình cho anh chị em, để đáp lại sự dữ bằng sự lành. Thánh Thể cống hiến cho chúng ta lòng can đảm để thoát ra khỏi chính bản thân mình mà yêu thương cúi mình xuống với những gì là mong manh của người khác. Như Thiên Chúa đang làm cho chúng ta đây. Đó là lý lẽ của Thánh Thể, ở chỗ chúng ta lãnh nhận Chúa Giêsu là Đấng yêu thương chúng ta và chữa lành những gì là mong manh của chúng ta để chúng ta yêu thương người khác và trợ giúp những mong manh của họ. Cứ thế suốt cả cuộc đời. Hôm nay, trong Phụng vụ Giờ kinh chúng ta đã xướng lên một bài thánh ca có 4 câu tóm gọn cả cuộc đời của Chúa Giêsu. Vậy những câu này nói với chúng ta rằng khi Chúa Giêsu được hạ sinh thì Người đã trở nên người bạn đồng hành trong đời. Sau đó, trong bữa ăn tối, Người trở thành lương thực. Thế rồi, trên thập tự giá, nơi cái chết của mình, Người trở thành một cái giá phải trả để đền thay cho chúng ta. Và giờ đây, hiển trị trên Trời, Người là phần thưởng của chúng ta (Hymn of the praises of Corpus Domini Verbum Supernum Prodiens).

    Xin Đức Thánh Trinh Nữ, nơi Người Thiên Chúa đã hóa thành nhục thể, giúp chúng ta biết đón nhận tặng ân Thánh Thể bằng một tấm lòng biết ơn và cũng biết hiến ban sự sống của chúng ta. Xin Thánh Thể làm cho chúng ta trở thành một quà tặng trao ban cho hết mọi người khác.

     

    https://www.vatican.va/content/francesco/it/angelus/2021/documents/papa-francesco_angelus_20210606.html

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

     

    Nếu bị trục trặc thì xin mở cái link dưới đây:

     

    ĐTC Phanxicô: Huấn Từ Truyền Tin cho Chúa Nhật Lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu  

     

     

     

    -