7. Đời Sống Mới Trong Thần Khí

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - SỐNG ƠN THÁNH THẦN

 

  •  
    nguyenthi leyen
     
    Sun, Aug 23 at 10:14 PM
     
     
     
     
     
     
    Ảnh cùng dòng

     
    SỐNG VỚI ƠN LO LIỆU CỦA CHÚA THÁNH THẦN     

     

    1. Lịch sử như một dòng chảy. Dòng chảy này hiện đang diễn biến phức tạp và nguy hiểm, với những bất ngờ đau đớn.

    Tôi trôi giữa dòng chảy đó. Tôi rất lo. Chúa thương xót tôi, nên dạy tôi hãy biết sống với ơn lo liệu của Chúa Thánh Thần.

    Với ơn lo liệu của Chúa Thánh Thần, tôi coi việc bám vào Chúa là hết sức quan trọng.

    2. Tôi bám vào Chúa là tôi tin Chúa, tôi cậy trông Chúa, tôi gắn bó với Chúa.

    Chúa, mà tôi tin cậy mến là Đấng quyền năng, giàu lòng thương xót. Ngài là Tình yêu. Ngài cho tôi được gọi Ngài là Cha.

    Tôi biết dòng chảy của lịch sử sẽ chuyển động. Có quãng sẽ như thác đổ. Có quãng sẽ như triều cường với những sạt lở ghê gớm. Có quãng sẽ như biển động với những sóng ngầm dâng cao.

    Chúa gọi tôi hãy bám chặt lấy Chúa. Nếu tôi không bám vào Chúa, thì lỗi tại tôi. Nếu tôi lại bám vào những gì khác, thì quả là quá dại.

    3. Với ơn lo liệu của Chúa Thánh Thần, tôi cũng coi việc tôi bám vào Đức Mẹ, vào thánh Giuse là hết sức quan trọng.

    Xưa Đức Mẹ và thánh Giuse đã sống trong một dòng lịch sử rất phức tạp, rất nguy hiểm, với những bất ngờ đau đớn. Các ngài đã bám chặt vào Chúa với ơn lo liệu Chúa ban cho. Nên các ngài đã trải qua một hành trình dài, cộng tác với chương trình cứu độ của Chúa một cách trung tín và khôn ngoan.

    4. Với ơn lo liệu của Chúa Thánh Thần, tôi cũng coi việc tôi bám vào Hội thánh Chúa là rất quan trọng. Vì thế, tôi thận trọng xa tránh những gì xúi giục tôi chống phá Hội thánh bất cứ cách nào, cách riêng những gì đó là các thứ đạo đức giả.

    5. Với ơn lo liệu của Chúa Thánh Thần, tôi cũng coi sự tôi nhận biết những yếu đuối của tôi là rất lớn, để có những lo liệu sao cho thích hợp với các gánh nặng tôi phải vác.

    Theo tôi, gánh nặng lớn nhất của tôi là chính tôi. Với biết bao giới hạn, với biết bao yếu đuối về mọi phương tiện. Vì thế, biết lo liệu là hãy sống đơn sơ với những gì bé nhỏ, với những gì âm thầm, với những gì thu gọn.

    Chẳng hạn, trong mỗi ngày có khá nhiều tài liệu được gửi tới tôi, tôi biết mình không có sức đọc hết được, nên phải biết chọn lựa hợp với sức mình và hợp với nhiệm vụ của mình. Đó là biết lo liệu mà Chúa muốn.

    6. Biết lo liệu, mà Chúa dạy tôi còn là biết nhận mình là kẻ tội lỗi. Hội thánh giúp tôi điều đó với kinh thú tội:

    “Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em.

    Tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót.

    Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.

    Vì vậy, tôi xin Đức Bà Maria trọn đời đồng trinh, các thiên thần, các thánh và anh chị em khẩn cầu cho tôi trước tòa Thiên Chúa, Chúa chúng ta”.

    7. Khi đọc kinh thú tội trên đây, với ơn Chúa Thánh Thần, tôi cảm được thấm thía mình phải rất khiêm nhường và rất yêu thương.

    Đừng bao giờ kết án ai. Đừng tìm cách đổ lỗi cho người khác. Đó là một sự lo liệu đạo đức, mà Chúa muốn tôi phải có trong hành trình sống của mỗi ngày và của suốt cuộc đời. Ở đây, tôi nhớ lại dụ ngôn: “Hai người lên đền thờ cầu nguyện” mà Chúa Giêsu đã nêu lên, để nhấn mạnh đến khiêm nhường và yêu thương, như một ơn lo liệu cần thiết (x. Lc 18, 10-14).

    8. Thú thực là yêu thương và khiêm nhường không bao giờ là hành trình dễ dàng cho hành trình đời tôi. Có thể là đối với ai cũng vậy. Vì thế, mà tôi luôn xin Đức Mẹ thương giúp tôi. Với Đức Mẹ ở bên, tôi cảm thấy yêu thương và khiêm nhường, tuy rất khó, nhưng lại rất vui.

    9. Cảm thấy vui, đó cũng là một ơn Chúa Thánh Thần hay ban cho con cái Chúa. Tôi có ít nhiều kinh nghiệm về điều đó. Chúa đã ban cho tôi qua những người lo cho tôi. Ở đây, tôi nhớ lại cách đặc biệt Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Ngài là bạn thân của tôi. Ngài biết tôi hay sợ, lại được Chúa sai vào những hoàn cảnh khó khăn. Nên ngài luôn tìm cách làm cho tôi vui. Ngài lo cho tôi từ việc lớn đến việc nhỏ. Luôn với nụ cười, luôn với những lời trấn an, luôn với những giúp đỡ tế nhị nhất.

    10. Từ những kinh nghiệm như thế, tôi nhận ra điều này: Có được những người bạn tốt, những người cộng tác trung tín và khôn ngoan, thì đúng là một lo liệu hết sức quí báu cho hành trình cuộc đời.

    11. Hạnh phúc cho tôi là tôi được Chúa lo liệu cho về phương diện đó. Tôi có những người bạn tốt, tôi có những người cộng tác trung thành và khôn khéo. Họ ở gần và họ ở xa. Họ ở trong công giáo và họ ở ngoài công giáo.

    12. Chúa đang lo liệu cho tôi, để biết phục vụ Chúa trong thời điểm khó khăn này. Chúa đang lo liệu cho mọi người tin cậy Chúa sẽ luôn được gặp Chúa, dù cho thời thế bùng nổ những bất ngờ nguy hiểm.

    13. Biết lo liệu cho những tình huống khó khăn. Đó là điều tôi tự nhủ, và xin được nhắn gửi anh chị em.

    14. Lo liệu tốt nhất là hãy bám vào Chúa, để nhờ Chúa mà tập trung vào bổn phận chính yếu của mình, và biết bám vào những ai mà Chúa muốn.

    + GM. Gioan B Bùi Tuần

    ---------------------------------


     
     

 

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - ĐTC -HUẤN TỪ TRUYỀN TIN

  •  
    Tinh Cao
     
    Sun, Aug 23 at 8:52 AM
     
     

    ĐTC Phanxicô - Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật XXI Thường Niên Năm A

     

    Pope Francis waves from the window of the Apostolic Palace

     

    Xin chào anh chị em thân mến!

    Bài Phúc Âm cho Chúa Nhật tuần này (xem Mt 16:13-20) trình thuật về giât phút Tông đồ Phêrô tuyên xưng đức tin của mình vào Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai cũng là Con Thiên Chúa. Việc tuyên xưng của vị Tông đồ này được gợi lên bởi chính Chúa Giêsu, Đấng muốn dẫn các môn đệ của Người đến một bước quyết liệt trong mối liên hệ của các vị với Người. Thật vậy, tất cả cuộc hành trình của Chúa Giêsu với những ai theo Người, nhất là với Nhóm 12, đó là một cuộc hành trình giáo huấn đức tin của họ. Trước hết, Người hỏi các vị rằng: "Dân chúng bảo Con Người là ai?" (câu 13). Các vị Tông đồ thích nói về dân chúng, như tất cả chúng ta vậy. Chúng ta thích những gì là đồn đoán. Nói về người khác không phải là những gì quá khó khăn, và đó là lý do tại sao chúng ta thích nói; cho dù là "chỉ trích trách móc" kẻ khác. Trong trường hợp ở đây lại là quan điểm về đức tin cần được biết, chứ không phải là vấn đề đồn đoán nào đó, nên Người mới hỏi: "Người ta bảo Con Người là ai?" Các môn đệ dường như tranh nhau để tường trình với các ý nghĩ khác nhau, cho đến độ khác biệt lớn lao. Các vị đã nêu lên các ý nghĩ như vậy. Chính yếu thì vẫn chỉ là vấn đề Đức Giêsu Nazarét được dân chúng cho là một vị tiên tri nào đó (câu 14).

    Bằng câu hỏi thứ hai, Chúa Giêsu đụng chạm đến chính bản thân của các vị: "Thế nhưng còn các con thì sao?... Các con cho Thày là ai?" (câu 15). Tới đây, chúng ta dường như thấy được một giây phút thinh lặng, như thể mỗi một người hiện diện bấy giờ được kêu gọi để nhập cuộc, trong việc tỏ ra lý do tại sao các vị theo Chúa Giêsu; bởi thế mà, thật là hợp lý khi xẩy ra một chút lưỡng lự như vậy. Như thể tôi hỏi anh chị em bây giờ rằng: "Đối với anh chị em thì Chúa Giêsu là ai vậy?" thì chắc chắc sẽ xẩy ra một chút do dự nào đó. Người môn đệ Simon đã đưa họ ra khỏi vòng vây, bằng việc lên tiếng giõng dạc tuyên xưng rằng: "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (câu 16). Câu trả lời này, thật là trọn vẹn và sáng suốt, không xuất phát từ những thôi thúc nơi ngài, cho dù là quảng đại mấy chăng nữa - một Phêrô rộng lượng - mà là hoa trái của một đặc ân từ Cha trên trời. Thật vậy, chính Chúa Giêsu đã nói rằng "Điều này không phải là do huyết nhục tỏ ra cho con đâu" - tức là bởi văn hóa, bởi những gì con đã học hỏi, không, nó không phải là những gì tỏ ra cho con như thế. Điều ấy được tỏ ra cho con "bởi Cha Thày ở trên trời đó" (câu 17). Việc tuyên xưng Chúa Giêsu là một ơn được Chúa Cha ban cho. Việc tuyên xưng rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống, là Đấng Cứu Chuộc, là một ơn chúng ta cần phải kêu xin: "Lạy Cha, xin ban cho con ơn biết tuyên xưng Chúa Giêsu". Đồng thời, Chúa Giêsu nhìn nhận câu đáp tức thời của môn đệ Simon theo tác động của ân sủng, nên đã trịnh trọng nói thêm rằng: "Con là Phêrô, Thày sẽ xây Giáo Hội của Thày trên đá ấy, và cửa Hỏa ngục sẽ không thể nào làm gì được" (câu 18). Bằng việc khẳng định này, Chúa Giêsu làm cho môn đệ Simon nhận thức được ý nghĩa của cái tên mới được Người đặt cho ngài là "Phêrô", ý nghĩa đó là đức tin được ngài mới tỏ ra đó là "thứ đá" vững chắc được Con Thiên Chúa muốn sử dụng để xây Giáo Hội của Người trên đó, tức là xây lên một cộng đồng dân Chúa. Và Giáo Hội này luôn tiến lên trên nền tảng đức tin của Tông đồ Phêrô, một đức tin được Chúa Giêsu nhìn nhận, và là một đức tin khiến ngài trở thành vị lãnh đạo Giáo Hội.

    Ngày nay, chúng ta nghe thấy Chúa Giêsu đặt câu hỏi này với từng người chúng ta: "Phần con, con nói Thày là ai?" Thày là ai với từng người chúng ta. Hết mọi người trong chúng ta cần phải cống hiến một câu trả lời không phải theo lý thuyết, mà là một câu trả lời của đức tin, tức là của đời sống, vì đức tin là cuộc sống! "Đối với con thì Chúa là...", rồi sau đó tuyên xưng Chúa Giêsu. Một câu trả lời mà cả chúng ta nữa, như các vị môn đệ tiên khởi, cần phải lắng nghe trong nội tâm của mình tiếng của Chúa Cha, hòa âm với những gì được Giáo Hội, hợp với Thánh Phêrô, tiếp tục tuyên xưng. Đó là một vấn đề ý thức Chúa Giêsu là ai đối với chúng ta: Người có là tâm điểm của đời sống chúng ta hay chăng, Người có là đích điểm dấn thân của chúng ta trong Giáo Hội, việc dấn thân của chúng ta trong xã hội hay chăng. Chúa Giêsu Kitô là ai đối với tôi đây? Chúa Giêsu Kitô là ai đối với anh, với chị, với anh chị em...? Một câu trả lời chúng ta cần phải đáp lại hằng ngày.

    Thế nhưng, xin hãy nhận thức rằng: thật là bất khả châm chước và đáng khen khi mà việc chăm sóc mục vụ của cộng đồng chúng ta phục vụ đối với nhiều hình thức nghèo khổ và khủng hoảng. Đức ái bao giờ cũng là một thứ xa lộ của hành trình đức tin, của tầm vức đức tin trọn hảo. Thế nhưng, chúng cần phải là những hoạt động của tình đoàn kết, những hoạt động của đức ái chúng ta thực hiện, không làm cho chúng ta trệnh khỏi mối liên kết với Chúa Giêsu. Đức ái Kitô giáo không phải chỉ là những gì thuần yêu thương nhân bản, mà là, một đàng nó nhìn vào người khác bằng ánh mắt của chính Chúa Giêsu, đàng khác, nó nhìn thấy Chúa Giêsu trên dung nhan của người nghèo. Đó là đường lối thực sự của đức ái Kitô giáo, lấy Chúa Giêsu là tâm điểm, bao giờ cũng thế. Xin Mẹ Maria Rất Thánh, vị có phúc vì đã tin, là vị hướng dẫn và là mô phạm của chúng ta trên con đường của đức tin (faith) nơi Chúa Giêsu, và làm cho chúng ta nhận thức được rằng lòng tin tưởng (trust) vào Người là những gì cống hiến trọn vẹn ý nghĩa cho việc bác ái của chúng ta, cũng như cho tất cả đời sống của chúng ta.

     

    http://w2.vatican.va/content/francesco/en/angelus/2020/documents/papa-francesco_angelus_20200823.html

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

     

    -------------------------
     
     

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ -CHÚA THÁNH THẦN NƠI MẸ

Chúa Thánh Thần, Đấng hoạt động nơi Mẹ

Thưa quý vị và các bạn, Lời ca ngợi khen Mangificat được xuất phát từ bối cảnh “Đức Mẹ đi thăm viếng bà Elisabet” . Nhưng, chính Chúa Thánh Thần là Tác Nhân chính cho “Tác phẩm “ nầy, hay nói cách khác, Chúa Thánh Thần là Đấng “khởi sự công trình Cứu Độ” bởi Thiên Chúa. Bởi vì, Chúa Giêsu là Đấng “sẽ” mang Nhân Tính xuống thế làm Người để ở cùng nhân loại bằng một cuộc đời thế nhân, vì vậy, Người tuân phục mọi sự trong chương trình Cứu Độ cho đến khi hoàn tất trên Thánh giá.

Theo đó, từ lúc khởi đi mầu nhiệm Cứu Độ, Chúa Thánh Thần là Đấng hoạt động toàn bộ công trính nầy cho đến khi hoàn tất.Người ta thường ví Chúa Thánh Thần là Đấng Thánh Hóa, thánh hóa là biến đổi mọi sự thấp hèn trở nên cao cả giống Thiên Chúa.

Rõ ràng, Chúa Thánh Thần là Đấng điều khiển mọi sự từ khi con người đầu tiên sa ngã. Vì Ngài là Nguồn của sự sống là Thiên Chúa, vâng chỉ có một sự sống duy nhất đó là Thiên Chúa, không có sự sống thứ hai. Vì vậy, Chúa Thánh Thần được gọi lầ ”Thần Khí”, tức sự sống Thần Linh duy nhất là Thiên Chúa.

Sự sống của Thiên Chúa chính là Thần Khi, như lời thánh Phao-lô nói :” Thần Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt nào có ích chi”.

Bao lâu sự sống nơi thân xác còn hoạt động, đó là sự sống Thần Linh. Ví, Thần Khí chính là sự sống duy nất nơi Thiên Chúa, Thần là Thiên Chúa, Khi là sự sống, mà người ta gọi là hơi thở. Sự sống tuy nhìn thấy, nhìn thấy sự hoạt động của sự sống, chứ không ai nhìn thấy “sự sống”, tức nắm bắt được sự sống đó là “ Khí”.

Khí là sự sống của muôn loài thụ tạo, khí là một hiện tượng không ai điều khiển được, không ai cầm nắm được, rất nhẹ nhàng, hoạt động trong vũ trụ, lơ lững trên không trung, vì vậy gọi là “ không khí” . Không khí được thánh hóa, chính là Thần Khí tức sự sống nơi thân xác con người.Người ta hay nói nôm na:” Sự sống con người không thua Thần Linh là mấy”, chính là quan điểm nầy. Bởi vì Thần Khí Thiên Chúa ban sự sống cho con người, gọi là thụ tạo.

Chúng ta thấy, hiện tượng vật lý tự nhiên , mà người ta định nghĩa được về không khí là:” Không khí là một hiện tượng truyền tải âm thanh”. Rõ ràng, nếu đóng kín, thật kín trong một chiếc thùng, hay trong một căn phòng, âm thanh dù thánh thót cách mấy cũng không thoát ra được, vì vậy, lỗ tai con người không nghe thấy. Vậy, không khí tự nhiên thật quan trong, nếu chúng ta bưng tai, bịt mắt, Như thế Thần Khí Thiên Chúa cáng quan trọng xiết bao, nếu như, chúng ta bưng tai, bịt mắt, đóng chặt tâm hồn mình. Như vậy, Đức Mẹ đã mở cửa tâm hồn mình vì đã đón nghe Lời Chúa, đón nhận Lời Truyền Tin , là đón nhận Thiên Chúa vào cung lòng của mình. Như vậy, linh hồn và thân xác của Mẹ thuộc trọn về Thiên Chúa, mặc nhiên không thể hư nát.

Từ thụ tạo thấp hèn , con người được diễm phúc cất lên do bởi Thiên Chúa đầy quyền năng. Đó là sự sống của con người,là nhân sinh đấy.

Như vậy, quyền sinh tử nằm ở nơi Thiên Chúa là Đấng “ cầm quyền sinh tử”. Vì, Ngài “ cầm nắm “ được sự sống, đó là Thần Khi.

Rõ ràng, có lần Chúa Giếsu nói :” Thần Khí Chúa ngự trên Tôi, Ngài sai Tôi  đem Tin Mừng cho người nghèo khó…”, có nghĩa là sứ vụ Thiên Sai của Chúa Giêsu.

Như vậy, nếu suy niệm về Lễ Đức Mẹ mà không suy niệm về bối cảnh” Truyền Tin” là khởi sự công trình cứu chuộc bởi Thiên Chúa là chúng ta thiếu sót, bởi vì ca ngợi Đức Mẹ chỉ là một mặt của vấn đề. Chúc tụng Thiên Chúa là cảm tạ , tri ân Ngài, vì chính Thiên Chúa mới là Đấng ban “ Ân sủng ”, ân sủng duy nhất là chính Chúa Thánh Thần, là Thần Linh đã ban cho nhân loại một “Kỳ công” của Đấng Tạo Thành , đó là Đức Giêsu- Ki-tô, mà Đức Giêsu làm Người để cứu chuộc, vì vậy, Thiên Chúa đã chọn cho Người một người Mẹ, đó là Đức Trinh Nữ Maria, một “kỳ công” thứ hai sau Đấng Cứu Thế.

Vâng, đó là quà tặng, là tình yêu bởi Thiên Chúa, bởi vì :” Thiên Chúa đã quá yêu thế gian , đến nỗi đã ban tặng một Người Con , để ai TIN vào Người Con ấy, thì được sống đời đời” (Ga 10.10)

Tình yêu là gì ? Thưa đó là “trở nên “ nhỏ bé vì đối tượng được yêu.

Rõ ràng, chúng ta thấy, Thiên Chúa đã từ Trời xuống thế, bởi phép Chúa Thánh Thần, đã Nhập Thể trong cung lòng thánh khiết của Đức Trinh Nữ Maria,Người đã “mượn” nơi cư ngụ ấy giữa thế gian. Mặc nhiên, nơi cư ngụ ấy  phải thánh khiết, nguyên tuyền biết là dường nào. Và nơi Ngôi Hai cư ngụ được Thiên Chúa dọn sẵn là nơi không vướng tỳ ố, dù là nguyên tội.  Vì, nơi ấy, Thần Khí Thiên Chúa là Chúa Thánh Thần đã thánh hóa, là Ngài đã hóa nên siêu nhiên do quyền năng của Ngài.

Cuộc viếng thăm của Đức Mẹ đã được Tin Mừng trinh thuật rõ ràng, nhưng động cơ viếng thăm là do tác động của Chúa Thánh Thần, hầu khi đến nơi, chính người chị họ là một phàm nhân, nhưng cũng được tràn đầy Thánh Thần, nên người chị họ ấy, cũng thốt lên những lời vĩ đại :” Bởi đâu tôi được  Mẹ Chúa tôi, đến thăm tôi thế nây, vì tai tôi vừa nghe lời em chào , thì hài nhi trong bụng tôi nhảy lên vui sường.” . Như vậy, Chúa Thánh Thần tác động vào bà Isave, bà ấy thưa lên cùng Đức Mẹ là:” Mẹ Thiên Chúa”, bà được linh ứng cách huyền nhiệm, vì bà không chứng kiến giây phút Truyền Tin, nhưng vẫn biết Đức Mẹ nhận Lời Truyền Tin là Mẹ nhận được “ Thiên Chức “ làm Mẹ Đấng Cứu Thế. “Bởi đâu, tôi được Mẹ Chúa tôi đến thăm tôi thế nầy…”, và bà tiết lộ sự huyền nhiệm ấy là :” vì, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì hài nhi trong bụng tôi nhảy mừng”.

Như vậy, Tín Điều Đức Mẹ Hồn Xác lên Trời là một tín điều hợp lẽ, vởi vì Linh Hồn vâ thân xác của MẸ THIÊN CHÚA, Đấng cưu mang, sinh hạ, nuôi dưỡng Đấng Cứu Thế làm sao hư nát trong mồ. Tín điều nầy là đặc ân duy nhất theo sau mầu nhiệm phục sinh , đồng thời xác tín ý nghĩa tiên trưng sự sống lại vào ngày sau hết của những ai TIN vào Đức Giêsu- Ki-tô.

Vì :” Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa và thần trí tôi hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa , Đấng cứu độ tôi . Phận nữ tỳ hèn mọn, Ngài đoái thương nhìn tới….”

Lạy Thiên Chúa là Cha Toàn Năng, sau khi loài người sa ngã, Cha không bỏ mặc nhân loại dưới quyền sự chết, nhưng đã ban Đấng Cứu Thế, vì vậy, Cha đã ban cho Người có một người Mẹ, là Đức Trinh Nữ Maria, Cha không để Hồn Xác thánh khiết của Mẹ Đấng Cứu Thế xa rời Người, vì thế với quyền năng Thần Khí, Cha đã ban cho Đức Trinh Nữ Hồn Xác bất diệt mà đưa về Trời. Hợp cùng muôn vàn thần thánh trên thiên quốc Chúng con ca ngợi Cha muôn đời nhờ Đức Ki-tô , Chúa chúng con,  hiệp nhất với Chúa Thánh Thần muôn đời ./. Amen

 

P.Trần Đình Phan Tiến

Chia sẻ Bài này:
 

Related posts

 
 

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - ĐTC HUẤN TỪ CN2OTN-A

 

  •  
    Tinh Cao
    Sun, Aug 16 at 9:28 AM
     
     

     

    ĐTC Phanxicô - Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật XX Thường Niên Năm A

     

    Pope Francis waves to pilgrims and visitors during the Sunday Angelus

     

    Đâu là thứ đức tin cao cả?

    Đức tin cao cả là đức tin ôm lấy chuyện riêng của mình,

    cho dù đầy những thương tích, rồi trình bày nó ở dưới chân Chúa,

    van xin Người chữa lành chúng, biến chúng thành một câu chuyện ý nghĩa.

     

    Pope Francis prays the Angelus on June 21, 2020. Credit: Vatican Media/CNA.

     

    Mỗi người chúng ta đều có chuyện riêng của mình, và

    không phải bao giờ cũng là một câu chuyện "xuất khẩu" - a story "of export",

    không phải lúc nào cũng là một câu chuyện sạch sẽ - a clean story...

    Nhiều lấn nó là một câu chuyện khốn khó, đầy những đớn đau, nhiều bất hạnh cùng nhiều tội lỗi.

     

     

    Chúng ta có thể làm điều này nếu chúng ta luôn nhìn lên dung nhan của Chúa Giêsu,

    nếu chúng ta hiểu được tấm lòng của Chúa Kitô như thế nào,

    những gì lòng của Chúa Giêsu ra sao, đó là một tấm lòng cảm thấy thương xót,

    tấm lòng mang lấy các nỗi đớn đau của chúng ta, tấm lòng mang lấy tội lỗi của chúng ta, lỗi lầm của chúng ta, thất bại của chúng ta.

    Thế nhưng, đó lại là tấm lòng yêu thương chúng ta như thế đó, như chúng ta là như vậy, không vẽ vời tô điểm: Người yêu thương chúng ta như thế

     

    Xin chào anh chị em thân mến,

    Bài Phúc Âm Chúa Nhật này (xem Mt 15:21-28) diễn tả cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người đàn bà xứ Canaan. Chúa Giêsu ở miền bắc Galilêa, một lãnh thổ ngoại bang. Người đàn bà này không phải là người Do Thái, bà là người Canaan. Chúa Giêsu ở đó để cùng với các môn đệ xa lánh đám đông, tránh các đám đông càng ngày càng gia tăng. Thế rồi có một người đàn bà đã tiến đến cùng Người để xin Người ra tay cứu lấy con gái của bà đang bị bệnh: "Lạy Thày, xin thương xót tôi" (câu 22). Đó là tiếng kêu được xuất phát từ một đời sống trải qua đau khổ, từ một cảm giác bất lực của một người mẹ không thể chữa lành cho con mình đang bị sự dữ hành hạ; bà không thể chữa lành cho nó. Thoạt tiên Chúa Giêsu chẳng lưu ý gì đến bà, thế nhưng người mẹ này cứ nài nỉ; bà nài nỉ, bất kể vị Sư Phụ này nói với các môn đệ của Người rằng sứ vụ của Người chỉ nhắm đến "con chiên lạc nhà Israel mà thôi" (câu 24), chứ không phải cho các người dân ngoại. Bà tiếp tục van xin Người, và tới lúc Người thử thách bà, bằng một câu tục ngữ. Nó dường như thể một cái gì đó hơi tàn nhẫn, nhưng bà chấp nhận cuộc thử thách ấy: "Thật là không công bằng khi lấy bánh của con cái mà đem vứt cho các con chó" (câu 26). Lập tức người đàn bà ấy đã xót xa đáp ngay lại rằng: "Vâng, thưa Thày, cho dù thế chăng nữa thì các con chó cũng được ăn các mảnh vụn rơi xuống từ bàn của chủ mình chứ ạ" (câu 27).

    Bằng những lời lẽ ấy, người mẹ này đã chứng tỏ rằng bà đã nhận thấy lòng lành của Vị Thiên Chúa Tối Cao hiện diện nơi Chúa Giêsu, Đấng mở lòng ra với bất cứ nhu cầu nào của các loài tạo vật của mình. Để rồi, lời khôn ngoan đầy tin tưởng này đã làm cho Chúa Giêsu động lòng, và đã phải lên tiếng khen ngợi bà rằng: "Hỡi bà, đức tin của bà cao cả lắm! Bà muốn gì thì được như vậy" (câu 28). Đâu là thứ đức tin cao cả? Đức tin cao cả là đức tin ôm lấy chuyện riêng của mình, cho dù đầy những thương tích, rồi trình bày nó ở dưới chân Chúa, van xin Người chữa lành chúng, biến chúng thành một câu chuyện ý nghĩa.

    Mỗi người chúng ta đều có chuyện riêng của mình, và không phải bao giờ cũng là một câu chuyện "xuất khẩu" - a story "of export", không phải lúc nào cũng là một câu chuyện sạch sẽ - a clean story... Nhiều lấn nó là một câu chuyện khốn khó, đầy những đớn đau, nhiều bất hạnh cùng nhiều tội lỗi. Tôi cần phải làm gì với câu chuyện của tôi đây? Tôi dấu nó đi hay chăng? Không! Chúng ta cần phải mang nó ra trước nhan Chúa. "Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể chữa lành con!" Đó là những gì người đàn bà này dạy chúng ta, một người mẹ tuyệt vời, ở chỗ, can đảm mang chuyện đau buồn của chúng ta đến trước nhan Thiên Chúa, đến trước mặt Chúa Giêsu, để chạm đến tấm lòng êm ái dịu dàng của Thiên Chúa, tấm lòng êm ái dịu dàng của Chúa Giêsu. Chúng ta hãy thử câu chuyện này, lời cầu nguyện này: mỗi người chúng ta hãy nghĩ về chuyện riêng của mình. Bao giờ cũng có những gì là dị ngợm trong một câu chuyện nào đó, lúc nào cũng vậy. Chúng ta hãy đến với Chúa Giêsu, hãy gõ cửa lòng của Người mà thưa cùng Người rằng: "Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể chữa lành con!" Chúng ta có thể làm điều này nếu chúng ta luôn nhìn lên dung nhan của Chúa Giêsu, nếu chúng ta hiểu được tấm lòng của Chúa Kitô như thế nào, những gì lòng của Chúa Giêsu ra sao, đó là một tấm lòng cảm thấy thương xót, tấm lòng mang lấy các nỗi đớn đau của chúng ta, tấm lòng mang lấy tội lỗi của chúng ta, lỗi lầm của chúng ta, thất bại của chúng ta. Thế nhưng, đó lại là tấm lòng yêu thương chúng ta như thế đó, như chúng ta là như vậy, không vẽ vời tô điểm: Người yêu thương chúng ta như thế. "Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể chữa lành con!" Đó là lý do tại sao cần phải hiểu biết Chúa Giêsu, cần phải làm quen với Chúa Giêsu. Tôi luôn trở lại với lời tôi khuyên bảo anh chị em đây, ở chỗ, luôn mang trong túi một cuốn Phúc Âm nhỏ và đọc hằng ngày. Ở đó anh chị em sẽ tìm thấy Chúa Giêsu như Người là, như Người tỏ mình ra; nếu anh chị em tìm kiếm Chúa Giêsu là Đấng yêu thương chúng ta, Đấng yêu thương chúng ta rất nhiều, Đấng hết sức muốn chúng ta được an lành phúc hạnh. Chúng ta hãy nhớ lời cầu nguyện này: "Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể chữa lành con!" Một kinh nguyện tuyệt vời. Hãy mang Phúc Âm trong xách tay của chị em, trong túi của anh em, và ngay cả ở điện thoại lưu động của anh em, để mà đọc. Xin Chúa giúp chúng ta, tất cả chúng ta, biết cầu kinh nguyện này, kinh nguyện do một người đàn bà dân ngoại dạy cho chúng ta: không phải là một người đàn bà Kitô giáo, không phải một người đàn bà Do Thái, mà là một người đàn bà dân ngoại.

    Xin Trinh Nữ Maria chuyển cầu bằng lời nguyện của Mẹ, để niềm vui đức tin được gia tăng nơi hết mọi người đã lãnh nhận phép rửa, cũng như để ước muốn truyền đạt niềm vui đức tin này bằng một chứng từ sống kiên trì, xin Mẹ ban cho chúng ta lòng can đảm đến với Chúa Giêsu, mà thân thưa cùng Người rằng: "Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể chữa lành con!"

     

    http://w2.vatican.va/content/francesco/en/angelus/2020/documents/papa-francesco_angelus_20200816.html

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

     

     

     

    ĐTC Phanxicô - Huấn Từ Truyền Tin Lễ Mẹ Mông Triệu 15/8/2020

     

    Pope greeting people in St. Peter's Square at the Angelus prayer on the feast of the Assumption, August 15, 2020.

    Hôm nay đây, nơi biến cố Mẹ Maria Mông Triệu về Trời,

    chúng ta lại cử hành một cuộc chinh phục còn vô cùng lớn lao hơn thế nữa.

    Đức Mẹ đã đặt chân vào thiên đàng:

    Mẹ đã lên tới đó không phải chỉ bằng tinh thần mà còn cả thân thể của Mẹ nữa, với tất cả bản thân Mẹ.

    Bước chân này của Vị Trinh Nữ Nazarét thấp hèn là một cuộc nhẩy vọt đối với nhân loại.

    Pope Francis offers Mass in Gyumri, Armenia June 25, 2016. Credit: Vatican Media/CNA.

    Việc lên tới cung trăng chỉ giúp cho chúng ta chút đỉnh nào đó, \

    nếu chúng ta không sống với nhau như là anh chị em của nhau trên Trái đất này.

    Thế nhưng, một người trong chúng ta cư ngụ trong xác thịt ở trên Trời

     là những gì cống hiến cho chúng ta niềm hy vọng, ở chỗ,

    chúng ta ý thức rằng chúng ta là loài cao quí, được tiền định sống lại.

    Thiên Chúa không để cho thân xác của chúng ta bị tan biến thành hư vô.

    Với Thiên Chúa chẳng có chi là mất mát! Nơi Mẹ Maria thì đích nhắm này đã đạt được,

    và chúng ta hiển nhiên là thấy được những lý do tại sao chúng ta cần phải hành trình,

    không phải để chiếm hữu những sự dưới đất này, những gì sẽ tan biến,

    mà là chiếm hữu quê hương trên trời, những gì vô cùng bất tận.

     

    Xin chào anh chị em thân mến!

    Khi con người đặt chân lên mặt trăng, họ từng nói một câu đã trở thành nổi tiếng rằng: "Đó là một bước nhỏ đối với con người, một nhẩy vọt đối với nhân loại". Thật sự là nhân loại đã vươn tới được một đích điểm lịch sử. Thế nhưng, hôm nay đây, nơi biến cố Mẹ Maria Mông Triệu về Trời, chúng ta lại cử hành một cuộc chinh phục còn vô cùng lớn lao hơn thế nữa. Đức Mẹ đã đặt chân vào thiên đàng: Mẹ đã lên tới đó không phải chỉ bằng tinh thần mà còn cả thân thể của Mẹ nữa, với tất cả bản thân Mẹ. Bước chân này của Vị Trinh Nữ Nazarét thấp hèn là một cuộc nhẩy vọt đối với nhân loại. Việc lên tới cung trăng chỉ giúp cho chúng ta chút đỉnh nào đó, nếu chúng ta không sống với nhau như là anh chị em của nhau trên Trái đất này. Thế nhưng, một người trong chúng ta cư ngụ trong xác thịt ở trên Trời là những gì cống hiến cho chúng ta niềm hy vọng, ở chỗ, chúng ta ý thức rằng chúng ta là loài cao quí, được tiền định sống lại. Thiên Chúa không để cho thân xác của chúng ta bị tan biến thành hư vô. Với Thiên Chúa chẳng có chi là mất mát! Nơi Mẹ Maria thì đích nhắm này đã đạt đượcvà chúng ta hiển nhiên là thấy được những lý do tại sao chúng ta cần phải hành trình, không phải để chiếm hữu những sự dưới đất này, những gì sẽ tan biến, mà là chiếm hữu quê hương trên trời, những gì vô cùng bất tận. Đức Mẹ là ngôi sao dẫn đường chỉ lối cho chúng ta vậy. Mẹ là người đầu tiên đã đến đó. Mẹ, như Công Đồng dạy, chiếu soi "như là dấu hiệu của niềm hy vọng và ủi an vững vàng cho Dân Chúa trong cuộc lữ hành trần thế này" (Lumen gentium, 68).

    Đâu là những gì nhắn nhủ từ Người Mẹ của chúng ta? Hôm nay, trong bài Phúc Âm, điều đầu tiên Mẹ nói, đó là "Linh hồn tôi tôn vinh Chúa" (Luca 1:46). Chúng ta, đã quen nghe những lời này rồi, có lẽ chúng ta không còn lưu ý gì đến ý nghĩa của chúng nữa. "Magnify" theo nghĩa đen là "làm cho nên cao cả lớn lao", là làm cho rộng lớn hơn nữa. Mẹ Maria "tôn tụng Chúa": không phải là những vấn đề mà Mẹ vẫn có vào lúc ấy, mà là Chúa. Trái lại, bình thường chúng ta hay để mình bị áp đảo bởi những gì là khó khăn, và bị đè nặng bởi những nỗi sợ hãi! Đức Mẹ thì không, vì Mẹ coi Thiên Chúa là những gì cao cả trên hết của cuộc đời mình. Từ đó mới xuất phát ra Ca Vịnh Tôn Vinh Magnificat, từ đó mới xuất phát niềm vui: không phải ở chỗ vắng bóng các thứ trục trặc là những gì không sớm thì muộn cũng xẩy ra, mà là niềm vui xuất phát từ sự hiện diện của Thiên Chúa là Đấng trợ giúp chúng ta, Đấng gần gũi với chúng ta. Vì Thiên Chúa là Đấng cao cả. Nhất là vì Thiên Chúa đoái trông đến những kẻ thấp hèn. Chúng ta là yếu điểm yêu thương của Ngài, ở chỗ, Thiên Chúa nhìn đến và yêu thương kẻ thấp hèn.

    Thật vậy, Mẹ Maria nhìn nhận rằng Mẹ là một kẻ nhỏ bé và hoan hỉ "những điều cao trọng" (câu 49) Chúa đã thực hiện cho Mẹ. Đó là những gì? Trước hết và trên hết, là tặng ân sự sống bất ngờ, ở chỗ Mẹ Maria là một trinh nữ mà lại thụ thai; và Isave nữa, một con người luống tuổi mà đã có con. Chúa thực hiện những sự lạ lùng nơi những ai thấp hèn, nơi thành phần không tin rằng họ cao cả, mà là những người mở rộng chỗ cho Thiên Chúa trong đời của mình. Ngài nới rộng lòng thương xót của Ngài ra cho những ai tin tưởng vào Ngài, và nâng kẻ khiêm nhượng lên. Mẹ Maria chúc tụng ngợi khen Chúa về điều ấy.

    Về phần mình - chúng ta có thể tự vấn xem - chúng ta có nhớ chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa hay chăng? Chúng ta có tạ ơn Ngài về những gì trọng đại Ngài làm cho chúng ta hay chăng? Về hết mọi ngày sống Ngài ban cho chúng ta, vì Ngài luôn yêu thương chúng ta và tha thứ cho chúng ta, về niềm êm ái dịu dàng của Ngài? Còn nữa, vì Ngài đã ban cho chúng ta Người Mẹ của Ngài, về những người anh chị em được Ngài đưa đến cho chúng ta trong cuộc hành trình của chúng ta, và vì Ngài đã mở cửa Nước Trời cho chúng ta? Chúng ta có cảm tạ Thiên Chúa, chúc tụng Thiên Chúa về những điều ấy hay chăng? Nếu chúng ta quên đi những gì là thiện hảo, thì lòng của chúng ta bị co cụm lại. Thế nhưng, như Mẹ Maria, chúng ta tưởng nhớ đến những điều cao cả Chúa đã làm, nếu hằng ngày ít là một lần chúng ta "tôn tụng" Ngài, thì chúng ta sẽ tiến được một bước lớn lao. Trong ngày sống, chúng ta hãy dâng lên Chúa một lần rằng: "Con xin ngợi khen Chúa", "Con xin chúc tụng Chúa", đó là một kinh nguyện chúc tụng ngắn. Đó là việc chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa. Bằng kinh nguyện ngắn gọn này, lòng chúng ta sẽ mở rộng, niềm vui sẽ gia tăng. Chúng ta hãy xin với Đức Mẹ, là Cửa Thiên Đàng, cho được ơn bắt đầu mỗi ngày hướng mắt chúng ta về Trời, về Thiên Chúa, để thân thưa cùng Ngài rằng: "Con xin cám ơn Chúa!", như những kẻ thấp hèn thưa cùng những ai cao cả rằng: "Xin cám ơn ngài".

    (Sau Kinh Truyền Tin, ĐTC tiếp tục:)

    Anh chị em thân mến,

    Trinh Nữ Maria, vị chúng ta chiêm ngưỡng hôm nay trong vinh quang thiên quốc, là "Mẹ của niềm hy vọng". Tước hiệu này của Mẹ mới được cho vào Kinh Cầu Đức Bà. Chúng ta hãy van xin lời chuyển cầu của Mẹ cho tất cả mọi tình huống trên thế giới đang rất cần đến niềm hy vọng: niềm hy vọng hòa bình, niềm hy vọng công lý, niềm hy vọng được sống xứng với nhân phẩm. Hôm nay tôi xin đặc biệt cầu cho nhân dân thuộc miền bắc nước Nigeria, nạn nhân của bạo lực và các cuộc tấn công khủng bố.

    Nigerian faithful in a peaceful march against killings in the country, March 2020

    Protest against incessant killings in southern Kaduna and insecurities in Nigeria, in Abuja

     

    http://w2.vatican.va/content/francesco/en/angelus/2020/documents/papa-francesco_angelus_20200815.html

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu

    ------------------------------

     

     


 

ĐỜI SỐNG MÒI TRONG THẦN KHÍ- ĐTC- GIÁO LÝ VỀ CẦU NGUYỆN

  •  
    Tinh Cao
    Fri, Aug 7 at 8:08 AM
     
     

    ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Cầu Nguyện:

     

    Bài 2 - Cầu nguyện: Mối Liên Hệ Yêu Thương

     

    Pope Francis gives his general audience address in the library of the Apostolic Palace May 13, 2020. Credit: Vatican Media

     

    Thân mến chào anh chị em,

    Chúng ta hãy tiến tới bước thứ hai trong hành trình giáo lý về cầu nguyện được bắt đầu từ tuần vừa rồi.

    Cầu nguyện là những gì thuộc về tất cả mọi người: về con người thuộc tất cả mọi tôn giáo, và có lẽ cho cả những ai chẳng tin tưởng gì. Cầu nguyện được xuất phát từ chốn thầm kín của bản thân chúng ta, một nội trường được các tác giả về đường thiêng liêng thường gọi là "cõi lòng" (cf. Catechism of the Catholic Church , 2562-2563). Bởi thế, cầu nguyện không phải là những gì xa vời trong chúng ta, nó không phải là một cái gì đó thuộc về các tài năng thứ yếu và bên lề, mà là một mầu nhiệm mật thiết nhất của bản thân chúng ta. Chính mầu nhiệm này là những gì cầu nguyện. Các cảm xúc cầu nguyện, thế nhưng cũng không thể bảo rằng cầu nguyện chỉ là cảm xúc. Lý trí cầu nguyện, thế nhưng cầu nguyện không phải chỉ là một tác động tri thức. Thân xác cầu nguyện, thế nhưng người ta có thể thân thưa với Thiên Chúa thậm chí một cách vô hiệu nhất. Bởi thế mà toàn thể con người cầu nguyện, nếu họ cầu bằng "tấm lòng" của họ.

    Cầu nguyện là một thứ thôi thúc, là một khẩn cầu vượt ra ngoài bản thân chúng tamột điều gì đó xuất phát tận đáy của con người chúng ta và vươn lên, vì nó cảm thấy như lưu luyến về một cuộc hội ngộ nào đó. Nỗi lưu luyến này còn hơn là một nhu cầu nữa, còn hơn là một bó buộc nào đó: nó là một đường lối. Cầu nguyện là tiếng nói của một "cái tôi - I" dò dẫm, mò mẫm, tìm kiếm một "cái bạn - You" nào đó. Cuộc gặp gỡ giữa "tôi" và "bạn" không thể được thực hiện bằng tính toán: nó là một cuộc hội ngộ con người, và nhiều lần người ta lần mò để gặp thấy "bạn" được "tôi" tìm kiếm.

    Trái lại, cầu nguyện của Kitô hữu xuất phát từ một cuộc mạc khải: "Ngài - You" không bị che giấu một cách kín nhiệm, mà đã tham phần vào mối liên hệ với chúng ta. Kitô giáo là một tôn giáo tiếp tục cử hành "việc tỏ hiện" của Thiên Chúa, tức là cuộc hiển linh của Ngài. Những lễ đầu tiên của phụng niên là việc cử hành Vị Thiên Chúa ấy, Đấng không ẩn kín mà là Đấng cống hiến tình thân hữu của Ngài cho con người. Thiên Chúa tỏ vinh quang của Ngài ra nơi cảnh bần cùng ở Bêlem, trước sự chiêm ngắm của các Vị Đạo Sĩ, nơi phép rửa ở sông Jordan, nơi dấu lạ ở tiệc cưới Cana. Phúc Âm của Thánh Gioan kết luận bài đại thánh ca Khai Mở của mình bằng một câu chính xác: "Không ai đã từng được thấy Thiên Chúa: Chính Người Con duy nhất ở trong Cha tỏ Ngài ra" (1:18). Chính Chúa Giêsu là Đấng mạc khải Thiên Chúa cho chúng ta.

    Việc cầu nguyện của Kitô hữu là việc tham dự vào mối liên hệ với Vị Thiên Chúa có dung nhan dịu hiền nhất, Đấng không muốn gây ra bất cứ nỗi sợ hãi nào nơi con người. Đó là đặc tính đầu tiên nơi việc cầu nguyện của Kitô giáo. Nếu con người luôn quen với việc tiếp cận Thiên Chúa như hơi sờ sợ, như hơi kinh hãi trước mầu nhiệm ngỡ ngàng và bàng hoàng, nếu họ quen với việc tôn kính Ngài bằng một thái độ tôi tớ, giống như thái độ của một thuộc hạ đối với chủ của họ, vị mà Kitô hữu lại dám tin tưởng gọi bằng danh xưng "Cha". Thật vậy, Chúa Giêsu sử dụng chữ khác: "ba/bố".

    Kitô giáo đã bài trừ bất cứ mối liên hệ "phong kiến" nào khỏi việc gắn bó với Thiên Chúa. Trong di sản đức tin của chúng ta không có những thứ diễn tả như "thần phục - subjection", "nô lệ - slavery" hay "chư hầu - vassalage"; mà là những ngôn từ như "giao ước - covenant", "tình thân - friendship", "hứa hẹn - promise", "hiệp thông - communion", "gắn bó - closeness". Trong bài từ biệt dài của mình với các môn đệ, Chúa Giêsu nói như thế này: "Thày không còn gọi các con là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết được những gì chủ làm; nhưng Thày gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thày đã nghe từ Chúa Cha thì Thày đã tỏ cho các con biết. Không phải là các con đã chọn Thày, mà chính Thày đã chọn các con, để  sai các con đi sinh hoa kết trái và cho hoa trái ấy được tồn tại; nhờ đó những gì các con nhân danh Thày mà xin cùng Chúa Cha thì các con được ban cho" (Gioan 15:15-16). Tuy nhiên, đó là một chi phiếu trống: "Tất cả những gì các con nhân danh Thày mà xin cùng Cha của Thày thì Thày sẽ ban cho các con"!

    Thiên Chúa là người bạn, là liên minh, là chàng rể. Bằng nguyện cầu, chúng ta có thể thiết lập một mối liên hệ tin tưởng với Ngài, cho đến độ Chúa Giêsu đã dạy chúng ta ở trong "Kinh Lạy Cha" là hãy xin Ngài với cả một loạt vấn đề. Chúng ta có thể xin Thiên Chúa cho tất cả mọi sự, hết mọi thứ; bày giải hết mọi điều, thân thưa đủ mọi chuyện. Không sao, cho dù chúng ta có cảm thấy lầm lỗi nơi mối liên hệ với Thiên Chúa, chẳng hạn như chúng ta không phải là những người bạn tốt, chúng ta không phải là những đứa con ngoan, chúng ta không phải là những người hôn thê thủy chung. Ngài vẫn tiếp tục yêu thương chúng ta. Đó là những gì Chúa Giêsu cuối cùng đã cho thấy ở Bữa Tiệc Ly, khi Người phán: "Đây là chén tân ước trong máu Thày, sẽ đổ ra cho các con" (Luca 22:20). Bằng cử chỉ ấy, Chúa Giêsu ngưỡng vọng đến mầu nhiệm Thánh Giá ở căn thượng lầu tiệc ly. Thiên Chúa là một liên minh trung tín, ở chỗ, cho dù con người ta có thôi yêu mến Người, thì Người vẫn tiếp tục yêu thương họ, bất chấp tình yêu có dẫn Người lên Đồi Canvê. Thiên Chúa bao giờ cũng ở kề ngay bên cửa lòng của chúng ta, và đợi chờ chúng ta mở nó ra. Đôi khi cõi lòng của chúng ta được Người gõ, nhưng Người không đột nhập, mà là chờ đợi. Việc Thiên Chúa nhẫn nại với chúng ta là sự nhẫn nại của một người bố, của một người quá yêu thương chúng ta. Tôi muốn nói đó là sự nhẫn nại của cả người bố lẫn người mẹ. Luôn gần gũi với cõi lòng của chúng ta, và khi Người gõ thì Người làm một cách nhẹ nhàng và đầy yêu thương.

    Khi tham dự vào mầu nhiệm Giao Ước, tất cả chúng ta hãy cố gắng cầu nguyện như thế này. Hãy đặt mình cầu nguyện trong đôi cánh tay thương xót của Thiên Chúa, hãy cảm thấy được ôm ấp nơi mầu nhiệm hạnh phúc là sự sống Ba Ngôi, hãy cảm thấy như những người khách không xứng đáng hưởng vinh dự quá nhiều ấy. Và hãy lập lại cùng Thiên Chúa, trong nỗi ngỡ ngàng của nguyện cầu: phải chăng Chúa chỉ biết có yêu thương thôi? Người không biết ghét. Người bị ghét, nhưng Người không biết ghét. Người chỉ biết yêu. Đó là Vị Thiên Chúa chúng ta cầu nguyện với. Đó là cốt lõi rạng ngời nơi hết mọi lời cầu nguyện của Kitô hữu. Vị Thiên Chúa của tình yêu thương, Người Cha đang đợi chờ chúng ta và dìu dắt chúng ta.

     

    http://w2.vatican.va/content/francesco/it/audiences/2020/documents/papa-francesco_20200513_udienza-generale.html

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

     

    --
    You received this message because you are subscribed to the Google Groups "LTXC-TD5" group.
    To unsubscribe from this group and stop receiving emails from it, send an email to This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it..
    To view this discussion on the web visit https://groups.google.com/d/msgid/ltxc-td5/CAChZeFiT0bw%3D_BUPBbmNWDbRZFKkbFue%2BvJdYAwyykD6%3DGa_KQ%40mail.gmail.