7. Đời Sống Mới Trong Thần Khí

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - ĐTC HUẤN TỪ-CN1MV -B

  •  
    Tinh Cao
     
    Sun, Nov 29 at 8:39 AM
     
     

    ĐTC Phanxicô - Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật I Mùa Vọng Năm B

     

     

     

    image.png
     

    Xin chào anh chị em thân mến,

     

    Hôm nay, Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng, bắt đầu cho một tân phụng niên. Trong phụng niên, Giáo Hội theo giòng thời gian cử hành các biến cố chính của Chúa Giêsu và câu chuyện cứu độ. Làm như thế, với tư cách là Mẹ, Giáo Hội soi chiếu đường đi nước bước của đời sống chúng ta, nâng đỡ chúng ta qua những bận bịu hằng ngày, và dẫn dắt chúng ta tiến tới cuộc hội ngộ tối hậu với Chúa Kitô. Phụng vụ hôm nay mời gọi chúng ta hãy sống "Mùa quan trọng" đầu tiên này, đó là Mùa Vọng, mùa đầu tiên trong phụng niên, Mùa Vọng, mùa giúp chúng ta dọn mừng Giáng Sinh, và vì thế đó là mùa trông đợi và là thời điểm hy vọng. Trông đợi và hy vọng.

    Thánh Phaolô (see 1 Cor 1:3-9) cho biết đối tượng nơi nỗi niềm trông đợi của chúng ta. Đó là gì? Là "việc tỏ hiện của Chúa" (v.7). Vị Tông Đồ này mời gọi Kitô hữu Corintô, và cả chúng ta nữa, hãy chú trọng tới cuộc hội ngộ cùng Chúa Giêsu này. Đối với Kitô hữu thì điều quan trọng nhất là việc liên lỉ hội ngộ với Chúa, ở với Chúa. Nhờ đó, vì quen với việc ở với Vị Chúa của sự sống, bản thân chúng ta sẵn sàng cho cuộc hội ngộ này, sẵn sàng được ở với Chúa muôn đời. Cuộc hội ngộ tối hậu này sẽ xẩy ra vào ngày cùng tháng tận của thế giới này. Thế nhưng hằng ngày Chúa vẫn đến nữa, để với ơn của Người, chúng ta mới có thể hoàn thành những gì là tốt đẹp trong đời sống của mình, cũng như nơi đời sống của những người khác.

    Vị Thiên Chúa của chúng ta là Vị-Thiên-Chúa-đang-đến (a God-who-comes), đừng quên điều ấy: Thiên Chúa là một Vị Thiên Chúa đang đến, Đấng tiếp tục đến. Việc chúng ta chờ đợi sẽ không bị Ngài làm cho thất vọng! Chúa không bao giờ lỗi hẹn. Ngài có lẽ sẽ để chúng ta chờ đợi, Ngài sẽ để chúng ta phải chờ đợi chốc lát trong tăm tối, để lòng trông mong của chúng ta được trở nên chín mùi, thế nhưng Ngài không bao giờ lỗi hẹn. Chúa bao giờ cũng đến, Ngài luôn ở bên chúng ta. Có những lúc Ngài không tỏ mình ra, nhưng Ngài bao giờ cũng đến. Ngài đến vào giây phút chính xác trong lịch sử và đã trở thành một con người để nhận lấy tội lỗi của chúng ta - lễ Giáng Sinh tưởng nhớ lần đến thứ nhất của Chúa Giêsu nơi thời điểm lịch sử -; Ngài sẽ đến vào ngày cùng tháng tận như là một thẩm phán nhân trần; Ngài hằng ngày đến viếng thăm dân của Ngài, viếng thăm từng con người nam nữ tiếp nhận Ngài nơi Lời Chúa, nơi các Bí Tích, nơi anh chị em của mình.

    Chúa Giêsu, như Thánh Kinh nói cho chúng ta biết rằng, đang ở ngoài cửa mà gõ cửa. Hằng ngày. Ngài đang ở ngoài cửa lòng của chúng ta. Ngài đang gõ cửa. Anh chị em lắng nghe thấy Chúa gõ cửa ra sao, Đấng hôm nay đã đến viếng thăm anh chị em, Đấng không ngừng gõ cửa lòng của anh chị em, bằng một ý nghĩa, bằng ơn soi động? Ngài đã đến Bêlem, Ngài sẽ đến vào ngày cùng tháng tận, thế nhưng hằng ngày Ngài đến với chúng ta. Hãy cẩn thận coi chừng, hãy nhìn vào những gì anh chị em cảm nhận thấy trong lòng mình khi Chúa gõ cửa nhé.

    Chúng ta đều biết rõ là đời sống được làm nên bởi những gì là thăng trầm, là sáng tối. Mỗi một người chúng ta đều trải qua những giây phút thất vọng, thất bại và thất lạc. Hơn nữa, tình trạng chúng ta đang sống đây, bị đanh dấu bằng dịch bệnh, phát sinh ra những nỗi lo âu, sợ hãi và thất đảm nơi nhiều người; chúng ta có nguy cơ trở nên bi quan yếm thế, có nguy cơ trở thành khép kín và lãnh đạm. Chúng ta cần phải phản ứng ra sao trước tất cả những sự ấy đây? Bài Thánh Vịnh hôm nay gợi ý rằng: "Linh hồn chúng con đợi trông Chúa: Chúa là sự phù trì và là thuẫn che chở chúng con. Lòng chúng con hoan hỉ trong Ngài, vì chúng ta tin tưởng vào danh của Ngài" (Ps 33:20-21). Tức là, linh hồn chờ đợi, tin tưởng đợi chờ Chúa, làm cho mình làm sao có thể được an ủi và can đảm trong những giây phút tăm tối nơi đời sống của chúng ta. Và đâu là những gì mang lại lòng can đảm và bảo chứng tin tưởng này đây? Chúng từ đâu mà tới? Chúng được phát sinh ra bởi niềm hy vọng. Mà hy vọng thì không gây thất vọng, một nhân đức dẫn chúng ta tiến bước, hướng về cuộc hội ngộ với Chúa.

    Mùa Vọng là một lời kêu gọi hy vọng: nó nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Chúa đang hiện diện trong lịch sử để đưa lịch sử tới đích điểm tối hậu của nó, cũng như dẫn chúng ta tới chỗ viên trọn của nó, đó là Chúa, Chúa Giêsu Kitô. Thiên Chúa đang hiện diện trong lịch sử của nhân loại, Ngài là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta - God-with-us", Thiên Chúa không xa cách chúng ta, Ngài luôn ở với chúng ta, đến độ Ngài thường xuyên gõ cửa lòng chúng ta. Thiên Chúa bước đi bên chúng ta để nâng đỡ chúng ta. Chúa Không bỏ rơi chúng ta; Ngài hỗ trợ chúng ta qua các biến cố cuộc đời của chúng ta, để giúp chúng ta khám phá ra ý nghĩa của cuộc hành trình, ý nghĩa của cuộc sống hằng ngày, để ban cho chúng ta lòng can đảm, khi chúng ta cần phải chịu đựng, hay khi chúng ta bị khổ đau. Giữa những cơn bão tố của cuộc đời, Thiên Chúa luôn giang tay của Ngài ra cho chúng ta và giải thoát chúng ta khỏi các thứ đe dọa. Thật là tuyệt vời! Trong Sách Đệ Nhị Luật có một đoạn rất hay, trong đó, vị Tiên Tri nói với dân chúng rằng: "Có quốc gia cao cả nào lại được một vị chúa rất gần gũi họ như Chúa là Thiên Chúa đối với chúng ta đây?" Không một dân tộc nào, chỉ duy chúng ta được ơn có Thiên Chúa gần gũi với chúng ta thôi. Chúng ta chờ đợi Thiên Chúa, chúng ta hy vọng rằng Ngài tỏ mình ra, thế nhưng Ngài cũng hy vọng chúng ta tỏ mình ra cho Ngài nữa!

    Xin Mẹ Maria Rất Thánh, người nữ của lòng trông mong, hỗ trợ những bước đi của chúng ta ở vào khởi điểm của tân phụng niên này, và giúp chúng ta hoàn tất công việc của thành phần môn đệ Chúa Giêsu, như Tông Đồ Phêrô đã cho biết: Công việc nào vậy? Đó là việc chứng thực niềm hy vọng ở nơi chúng ta (see 1 Pet 3:15).

     

    http://www.vatican.va/content/francesco/en/angelus/2020/documents/papa-francesco_angelus_20201129.html

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

     

    --
    You received this message because you are subscribed to the Google Groups "LTXC-TD5" group.
    To unsubscribe from this group and stop receiving emails from it, send an email to This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it..
    To view this discussion on the web visit https://groups.google.com/d/msgid/ltxc-td5/CAKivYHpSq67oAzw0ZXDYcBC7vf77gBLoFg7-xzAipQerU-gzhw%40mail.gmail.com.
     
     

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ -ĐTC-GIÁO LÝ CÂU NGUYỆN

  •  
    Tinh Cao
     
    Wed, Nov 25 at 11:04 AM
     
     

     

    ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Cầu Nguyện:

     Bài 16 Cầu Nguyện - Giáo Hội Sơ Khai

      

    image.png
     

    Những bước đi đầu tiên của Giáo Hội trên thế giới này được điểm tô bằng việc nguyện cầu...

     một Giáo Hội chủ động, một Giáo Hội tiến bước, nhưng lại là một Giáo Hội qui tụ lại nguyện cầu,

    cho thấy những gì là nền tảng và động lực cho hoạt động truyền giáo.

     

    Pope Francis speaks during a general audience in the library of the Apostolic Palace. Credit: Vatican Media.

    4 đặc tính thiết yếu của đời sống Giáo Hội:

    Thứ nhất là lắng nghe giáo huấn của các vị tông đồ;

    thứ hai là bảo toàn mối hiệp thông với nhau; thứ ba là bẻ bánh; và thứ bốn là cầu nguyện.

    Họ nhắc nhở chúng ta rằng việc hiện hữu của Giáo Hội chỉ có ý nghĩa khi Giáo Hội chặt chẽ liên kết với Chúa Kitô,

    tức là, liên kết với cộng đồng, với Lời Người, với Thánh Thể và với nguyện cầu

     

    image.png

     

    Hết tất cả mọi sự trong Giáo Hội phát triển ở ngoài "những thứ phối hợp này" đều không có nền tảng...

    Giáo Hội không phải là một cái chợ; Giáo Hội không phải là một nhóm người kinh doanh làm ăn đủ thứ...

    Không có bốn thứ phối hợp ấy, Giáo Hội trở thành một thứ xã hội loài người, một đảng phái chính trị - đa số, đa số -

    các thứ thay đổi được thực hiện như thể Giáo Hội là một công ty, tùy theo đa số hay thiểu số...

     

     

    Xin chào anh chị em thân mến,

    Những bước đi đầu tiên của Giáo Hội trên thế giới này được điểm tô bằng việc nguyện cầu. Những bản văn của các vị tông đồ, cùng với trình thuật quan trọng nơi Sách Tông Vụ, cống hiến cho chúng ta hình ảnh về một Giáo Hội chủ động, một Giáo Hội tiến bước, nhưng lại là một Giáo Hội qui tụ lại nguyện cầu, cho thấy những gì là nền tảng và động lực cho hoạt động truyền giáo. Hình ảnh về Cộng Đồng Jerusalem thuở ban đầu là điểm qui chiếu cho hết mọi cảm nghiệm Kitô giáo khác. Thánh Luca đã viết ở trong Tông Vụ rằng: "Họ chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng" (2:42). Cộng đồng này đã kiên tâm cầu nguyện.

     Chúng ta thấy ở đấy 4 đặc tính thiết yếu của đời sống Giáo Hội: Thứ nhất là lắng nghe giáo huấn của các vị tông đồ; thứ hai là bảo toàn mối hiệp thông với nhau; thứ ba là bẻ bánh; và thứ bốn là cầu nguyện. Họ nhắc nhở chúng ta rằng việc hiện hữu của Giáo Hội chỉ có ý nghĩa khi Giáo Hội chặt chẽ liên kết với Chúa Kitô, tức là, liên kết với cộng đồng, với Lời Người, với Thánh Thể và với nguyện cầu - đường lối chúng ta liên kết bản thân chúng ta với Chúa Kitô. Việc giảng dạy và giáo lý là những gì làm chứng cho các lời nói và việc làm của Vị Sư Phụ; việc liên lỉ tìm cầu mối hiệp thông huynh đệ là những gì bảo vệ chúng ta khỏi vị kỷ và phân lập; việc bẻ bánh là những gì làm nên bí tích về sự hiện diện của Chúa Giêsu ở giữa chúng ta. Người sẽ không bao giờ vắng mặt - nhất là nơi Thánh Thể, Người ở đó. Người sống động và tiến bước với chúng ta. Sau hết, cầu nguyện là lúc giao tiếp với Chúa Cha, nơi Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần.

    Hết tất cả mọi sự trong Giáo Hội phát triển ở ngoài "những thứ phối hợp này" đều không có nền tảng. Để nhận thức xem một trường hợp nào đó, chúng ta cần phải tự vấn về 4 thứ phối hợp này: trong trường hợp ấy như thế nào với bốn thứ phối hợp ấy - việc giảng dạy, việc liên lỉ tìm kiếm mối hiệp thông huynh đệ, tức bác ái yêu thương, việc bẻ bánh, tức đời sống Thánh Thể, và việc cầu nguyện. Bất cứ trường hợp nào cũng cần phải được thẩm định theo chiều hướng của những thứ phối hợp này. Bất cứ cái gì không thuộc về những thứ phối hợp ấy đều thiếu tính cách giáo hội, không phải là giáo hội.

    Chính Thiên Chúa là Đấng đã thiết lập Giáo Hội, chứ không phải là những việc ồn ào ầm ỉ. Giáo Hội không phải là một cái chợ; Giáo Hội không phải là một nhóm người kinh doanh làm ăn đủ thứ. Giáo Hội là công cuộc của Thánh Linh, Đấng Chúa Giêsu đã sai đến với chúng ta để qui tụ chúng ta lại với nhau. Giáo Hội chính là công cuộc của Thần Linh nơi cộng đồng Kitô hũu, bằng đời sống của cộng đồng này, với Thánh Thể, trong nguyện cầu.... bao giờ cũng thế. Hết tất cả mọi sự mọc lên ở bên ngoài những thứ phối hợp ấy đều thiếu mất nền tảng, chẳng khác gì như nhà xây trên cát vậy (see Mt 7:24-27).

    Chính Thiên Chúa là Đấng đã thiết lập Giáo Hội, chứ không phải là những việc ồn ào ầm ỉ. Lời của Chúa Giêsu mới là những gì làm cho các nỗ lực của chúng ta được trọn vẹn ý nghĩa. Chính bằng lòng khiêm tốn mà chúng ta xây dựng tương lai thế giới. Có những lúc tôi cảm thấy hết sức buồn khi thấy một cộng đồng thiện chí nhưng lại lạc lối, vì nghĩ rằng Giáo Hội được xây dựng bằng những cuộc gặp gỡ, như thể Giáo Hội là một đảng phái chính trị nào đó. "Nhưng, đa số, đa số, nghĩ sao về vấn đề này, vấn đề nọ... Đó là như thể một thứ Nghị Hội, thứ đường lối hội nghị chúng ta cần phải theo..." Tôi tự hỏi: "Thế thì Thánh Linh ở đâu? Cầu nguyện ở chỗ nào? Tình yêu thương cộng thông như thế nào? Thánh Thể ra sao?" Không có bốn thứ phối hợp ấy, Giáo Hội trở thành một thứ xã hội loài người, một đảng phái chính trị - đa số, đa số - các thứ thay đổi được thực hiện như thể Giáo Hội là một công ty, tùy theo đa số hay thiểu số...

    Thế nhưng ở đó chẳng có Thánh Linh. Sự hiện diện của Thánh Linh thực sự được bảo đảm bởi bốn thứ phối hợp ấy. Để thẩm định xem một trường hợp có tính cách giáo hội hay phi giáo hội, chúng ta hãy tự vấn về bốn thứ phối hợp này: đời sống cộng đồng, cầu nguyện, Thánh Thể... xem đời sống có đang phát triển theo bốn thứ phối hợp này hay chăng. Nếu không thì cũng chẳng có Thánh Linh, mà nếu không có Thánh Linh thì chúng ta là một tổ chức mỹ miều, nhân bản, làm các việc lành, việc thiện, việc tốt... thậm chí là một đảng phái giáo hội, cứ nói như thế đi. Thế nhưng lại không phải là Giáo Hội.

    Chính vì lý do này mà Giáo Hội không phát triển bằng những điều ấy: Giáo Hội không phát triển bằng dụ giáo, như bất cứ công ty nào, Giáo Hội phát triển bằng tính cách hấp dẫn. Và ai là người sẽ tạo nên những gì là hấp dẫn đây? Thánh Linh. Chúng ta đừng bao giờ quên lời của Đức Benedict XVI: "Giáo Hội không tăng tiến bằng việc dụ giáo mà bằng sức hấp dẫn". Nếu thiếu mất Thánh Linh, Đấng thu hút con người đến cùng Chúa Giêsu thì Giáo Hội không có ở đó. Có thể là một câu lạc bộ thân hữu tốt đẹp, tốt lành, đầy những thiện chí, thế nhưng không phải là Giáo Hội, không phải là đoàn tính.

    Có đọc Tông Vụ chúng ta mới khám phá ra các cuộc qui tụ cầu nguyện có thể trở thành một mãnh lực thúc đẩy ra sao trong việc truyền bá phúc âm hóa, những qui tụ giúp cho những ai tham dự thực sự cảm nghiệm thấy sự hiện diện của Chúa Giêsu và được Thần Linh đụng chạm. Các phần tử thuộc cộng đồng tiên khởi này - dầu sao thì cũng luôn áp dụng cho cả chúng ta ngày nay nữa - đã cảm thấy rằng trình thuật về cuộc hội ngộ với Chúa Giêsu đã không ngưng hẳn ở vào giây phút Thăng Thiên, mà vẫn tiếp tục trong đời sống của họ. Trong việc tái trình thuật những gì Chúa đã nói và đã làm - khi lắng nghe Lời Chúa - trong khi cầu nguyện để được hiệp thông với Người, thì hết tất cả mọi sự đều trở thành sống động. Cầu nguyện làm lan tỏa ánh sáng và hơi ấm, đó là tặng ân của Thần Linh được ưu ái ban cho họ.

    Ví thế mà Sách Giáo Lý đã chất chứa một diễn tả rất sâu xa. Đó là: "Chúa Thánh Thần... Đấng nhắc lại mầu nhiệm Chúa Ki-tô cho Hội Thánh đang cầu nguyện, cũng dẫn đưa Hội Thánh vào Chân Lý trọn vẹn và khởi hứng những mẫu kinh mới để diễn tả mầu nhiệm khôn dò thấu về Chúa Ki-tô, Đấng đang hoạt động trong cuộc sống, trong các bí tích và trong sứ vụ của Hội Thánh" (2625). Công việc của Thần Linh trong Giáo Hội đó là nhắc nhớ chúng ta về Chúa GiêsuChính Chúa Giêsu đã nói: Ngài sẽ dạy các con và nhắc nhở các con. Sứ vụ của Ngài là nhắc nhớ về Chúa Giêsu, chứ không phải như là một thứ thực hành tưởng nhớ.

    Thành phần Kitô hữu, khi tiến bước trên con đường sứ vụ truyền giáo, thì tưởng nhớ đến Chúa Giêsu khi họ làm cho Người hiện diện một lần nữa, và  họ được "thúc đẩy" từ Người, từ Thánh Linh, trong việc tiến bước, trong việc phục vụ. Bằng việc cầu nguyện, Kitô hữu trầm mình vào mầu nhiệm của Thiên Chúa, mầu nhiệm về Đấng yêu thương từng người, về vị Thiên Chúa mong muốn Phúc Âm được rao giảng cho hết mọi người. Thiên Chúa là Thiên Chúa cho hết mọi người, và nơi Chúa Giêsu hết mọi bức tường phân cách hoàn toàn bị sụp đổ: như Thánh Phaolô đã nói, Người là sự bình an của chúng ta, tức "Người là Đấng làm cho cả hai chúng ta nên một" (Eph 2:14). Chúa Giêsu đã tạo nên mối hiệp nhất, mối hiệp nhất.

    Như thế thì đời sống của Giáo Hội sơ khai đã theo một nhịp điệu nhất trí liên tục các việc cử hành, các lời thỉnh nguyện chung, những thời khắc cầu nguyện chung riêng. Chính Thần Linh là Đấng đã ban sức mạnh cho các vị giảng dạy, những vị đã mở đầu hành trình, và là những vị vì kính mến Chúa Giêsu đã chèo lái trên biển cả, đã phải đương đầu với các thứ hiểm nguy, đã chấp nhận những gì là nhục nhã ê chề.

    Thiên Chúa là Đấng cống hiến tình yêu, Thiên Chúa đòi hỏi tình yêu. Đó là cội nguồn mầu nhiệm của tất cả đời sống tín hữu. Bằng cầu nguyện, các Kitô hữu tiên khởi - và cả chúng ta cũng vậy, thành phần hậu sinh ở các thế kỷ sau đó - tất cả chúng ta đều sống cùng một cảm nghiệm. Thần Linh là Đấng tác động hết mọi sự. Và hết mọi Kitô hữu nào không sợ giành giờ cầu nguyện đều có thể thấm thía những lời của Tông Đồ Phaolô "sự sống mà giờ đây tôi sống trong xác thịt này là tôi sống bởi niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương tôi và hiến mình vì tôi" (Galata 2:20).

    Cầu nguyện làm cho anh chị em nhận thấy như vậy. Chỉ trong thinh lặng tôn thờ chúng ta mới cảm thấy tất cả sự thật của những lời ấy. Và chúng ta cần phải lấy lại cái cảm giác tôn thờ này. Hãy tôn thờ, tôn thờ Thiên Chúa, tôn thờ Chúa Giêsu, tôn thờ Thần Linh. Cha, Con và Thần Linh: hãy tôn thờ. Trong thinh lặng. Việc cầu nguyện tôn thờ là việc cầu nguyện giúp cho chúng ta nhận biết Thiên Chúa như khởi nguyên và là cùng đích của tất cả Lịch Sử. Những lời cầu nguyện này là ngọn lửa sống động của Thần Linh, Đấng ban cho chúng ta quyền lực để làm chứng và để truyền giáo. Xin cám ơn anh chị em.


    http://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2020/documents/papa-francesco_20201125_udienza-generale.html

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

     

    --
     

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - ĐTC - HOMELESS 2020 -NGHÈO

  •  
    Tinh Cao
     
    Mon, Nov 16 at 1:26 PM
     
     
    Để sống động hơn nữa và thực tế hơn nữa những lời giáo huấn của ĐTC Phanxicô trong Bài Giảng của ngài cho Chúa Nhật XXXIII-A Thường Niên, Ngày Thế Giới Người Nghèo 15/11/2020 hôm qua, xin đính kèm

    sau đây là một số hình ảnh mới chụp được trong chuyến tặng quà thương xót hôm qua, 15/11/2020, Ngày Thế Giới Người Nghèo 2020, kèm theo cả cái link youtube về sinh hoạt tặng quà vào ngày này Năm 2019.

     

    20201115_153546.jpg

    Chúng ta  có được một kho tàng to lớn, không phải nơi những gì chúng ta có mà là nơi những gì chúng ta là...

    Lý do chúng ta có được các tặng ân là để chúng ta có thể trở thành tặng ân cho người khác

    (ĐTC Phanxicô: Bài Giảng Lễ CN XXXIII-A Ngày Thế Giới Người Nghèo 15-12-2020: câu trên đây và những câu dưới đây)

     

    20201115_153848.jpg
     

    Lòng trung tín đối với Thiên Chúa nghĩa là để đời mình lơ lửng treo lên,

    để những dự án đã được cẩn thận sắp xếp của mình bị lũng đoạn bởi nhu cầu phục vụ của mình.

     

    20201115_153856.jpg
     
    chúng ta quá thường nhìn vào cuộc đời của mình chúng ta chỉ thấy mình thiếu hụt, 
    và chúng ta than van về những gì chúng ta thiếu thốn. 
    Rồi chúng ta có khung hướng "giá mà..!" 
     
    20201115_153842.jpg
     
    Giá mà tôi có công việc ấy, 
    giá mà tôi có cái nhà ấy, 
    giá mà tôi có tiền bạc và thành đạt,
     giá mà tôi không có vấn đề này hay vấn đề kia, 
    giá mà tôi khá giả hơn những người chung quanh tôi...!    
     
    20201115_153451.jpg
     
    những lời - giá mà! - ảo tưởng ấy ngăn cản chúng ta 
    thấy được tất cả những gì là thiện hảo chung quanh chúng ta. 
    Chúng khiến chúng ta quên đi các nén bạc chúng ta có.   
    Anh chị em có thể không có cái đó, nhưng anh chị em lại có cái này
    và "cái giá mà" làm cho chúng ta quên như thế.  
     
    20201115_153731.jpg
     

    Ai là "nhà băng" có thể cung cấp cho chúng ta số lời dài hạn đây? Họ là thành phần nghèo khổ...

    Người nghèo bảo đảm cho chúng ta một lợi tức vĩnh hằng.

     

     

    https://youtu.be/I1RMfcvdzIE 

    TĐCTT Đaminh Maria cao tấn tĩnh

     

     

    --

     

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - ĐTC-CN34T-A

  •  
    Tinh Cao
     
    Sun, Nov 22 at 8:47 AM
     
     

     

    ĐTC Phanxicô - Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật XXXIV-A Lễ Chúa Kitô Vua

      

    image.png
     

    Dụ ngôn cả thể kết thúc phụng niên này là dụ ngôn mở ra cho thấy mầu nhiệm Chúa Kitô, toàn thể năm phụng vụ.

    Người là Alpha và Omega, là nguyên thủy và là cùng tận của lịch sử;

    và phụng vụ hôm nay tập trung vào "Omega", tức là vào đích điểm cuối cùng.

    Ý nghĩa của lịch sử được hiểu bằng việc ý thức được cái tột đỉnh này đó là đích điểm cũng chính là tận cùng

     

    Pope Francis waves during the Angelus Nov. 15, 2020. Credit: Vatican Media.

     

    Trong đoạn Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã đồng hóa Bản Thân mình

    chẳng những với vị mục tử vương chủ, mà còn với con chiên lạc nữa,

    chúng ta có thể nói về một thứ căn tính lưỡng diện: là vị mục tử vương chủ, đồng thời cũng là Giêsu với chiên:

    tức là, Người đồng hóa mình Bản Thân mình với hèn mọn nhất và bần cùng nhất trong thành phần anh chị em của Người.

     

    Xin chào anh chị em thân mến,

    Hôm nay, chúng ta cử hành Lễ Trọng Kính Chúa Giêsu Kitô là Vua Vũ Trụ. Dụ ngôn cả thể kết thúc phụng niên này là dụ ngôn mở ra cho thấy mầu nhiệm Chúa Kitô, toàn thể năm phụng vụ. Người là Alpha và Omega, là nguyên thủy và là cùng tận của lịch sử; và phụng vụ hôm nay tập trung vào "Omega", tức là vào đích điểm cuối cùng. Ý nghĩa của lịch sử được hiểu bằng việc ý thức được cái tột đỉnh này đó là đích điểm cũng chính là tận cùng. Chính vì thế mà Thánh Mathêu kết thúc bằng bài Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay (25:31-46), đặt bài nói của Người về việc chung thẩm vào tận điểm của đời sống trần gian của Người: Người là Đấng bị con người ta sắp sửa lên án, thực sự lại là vị thẩm phán tối caoNơi cuộc tử nạn và phục sinh của mình, Chúa Giêsu sẽ tỏ mình ra là Chúa Tể của Lịch Sử, là Vua của Vũ Trụ, là Thẩm Phán của tất cả mọi sự. Thế nhưng, cái ngược ngạo Kitô giáo là ở chỗ Vị Thẩm Phán này đã không trang phục mũ áo vương giả một cách uy nghi lẫm liệt, mà là một vị mục tử rất hiền lành và thương xót.

    Thật vậy, trong dụ ngôn chúng thẩm này, Chúa Giêsu sử dụng hình ảnh của một vị mục tử, Người lấy lại những hình ảnh ấy từ tiên tri Êzêkiên, vị đã nói về việc Thiên Chúa nhúng tay vào can thiệp cho dân của Ngài chống lại thành phần mục tử xấu xa gian ác của dân Israel (see 34:1-10). Họ là thành phần mục tử khai thác hung dữ, dung dưỡng bản thân mình hơn là đàn chiên; bởi thế, chính Thiên Chúa đã hứa sẽ đích thân chăm sóc đàn chiên của Ngài, bênh vực chúng cho khỏi những gì là bất công và bị lạm dụng. Lời hứa này Thiên Chúa đã thực hiện cho dân của Ngài, được hoàn tất nơi Chúa Giêsu Kitô mục tử: Chính Người là vị mục tử nhân lành. Chính Người đã tự xưng: "Tôi là vị mục tử nhân lành" (Jn 10:11,14).

    Trong đoạn Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã đồng hóa Bản Thân mình chẳng những với vị mục tử vương chủ, mà còn với con chiên lạc nữa, chúng ta có thể nói về một thứ căn tính lưỡng diện: là vị mục tử vương chủ, đồng thời cũng là Giêsu với chiên: tức là, Người đồng hóa mình Bản Thân mình với hèn mọn nhất và bần cùng nhất trong thành phần anh chị em của Người. Như thế là Người ấn định tiêu chuẩn phán quyết: một tiêu chuẩn sẽ được căn cứ vào tình yêu thương cụ thể được cống hiến cho hay chối từ với những con người ấy, vì chính Người, vị thẩm phán, hiện diện nơi từng người trong họ. Người là vị thẩm phán. Người là Thiên Chúa và là Con Người, thế nhưng Người cũng là một người nghèo. Người ẩn thân và hiện diện nơi con người của thành phần nghèo khổ được Người đề cập tới ngoài kia. Chúa Giêsu phán: "Thật vậy, Ta cho các người biết, khi các người làm (hay không làm) cho một trong những người anh em hèn mọn nhất của Ta, là các người làm (hay không làm) cho Ta" (vv.40,45). Chúng ta sẽ bị phán xét về tình yêu thương. Phán xét sẽ về tình yêu thương, chứ không phải về những cảm xúc, không: chúng ta sẽ bị phán xét về các công việc, về lòng cảm thương tỏ ra gần gũi và ưu ái giúp đáp. Tôi đã tỏ ra gần gũi với Chúa Giêsu nơi những con người bệnh nạn, nghèo khổ, đau khổ, ngục tù, những con người đói khát công lý hay chăng? Chúng ta có tỏ ra gần gũi với Chúa Giêsu hiện diện ở đó hay chăng? Đó là câu hỏi được đặt ra hôm nay vậy.

    Bởi thế, vào ngày cùng tháng tận, Chúa sẽ xem xét đàn chiên, và Người sẽ làm như thế, chẳng những theo quan điểm của vị mục tử, mà còn theo quan điểm của con chiên nữa, thành phần được Người đồng hóa với bản thân mình. Và Người sẽ hỏi chúng ta rằng: "Các con có hơi giống một vị mục tử như Ta hay chăng?" Các con có tỏ ra là vị mục tử đối với Ta là Đấng hiện diện nơi những con người nghèo khổ cần giúp đỡ, hay các con lại tỏ ra dửng dưng lãnh đạm?" Anh chị em ơi, chúng ta hãy nhìn vào cái lý lẽ của thái độ dửng dưng lãnh đạm, thứ lý lẽ của những ai nghĩ ngay trong đầu. Bằng việc nhìn đi chỗ khác khi chúng ta thấy xẩy ra chuyện. Chúng ta hãy nhớ dụ ngôn Người Samarita Nhân Lành. Con người đáng thương, bị bọn cướp giật đánh trọng thương, quăng nằm trên đất, nửa sống nửa chết, lẻ loi cô độc. Vị tư tế đi ngang qua thấy thế liền bỏ đi. Vị này đã nhìn đi chỗ khác. Một thày Levi cũng đi ngang qua đấy, đã thấy và rồi nhìn đi chỗ khác. Tôi, trước những người anh chị em nghèo khổ thiếu thốn cần giúp đỡ, tôi có tỏ ra dửng dưng lãnh đạm như vị tư tế này, như thày Levi kia, nhìn đi chỗ khác hay chăng? Tôi sẽ bị phán xét về điều ấy, ở chỗ, cách thức tỏ ra tôi đã gần gũi ra sao, tỏ ra tôi đã nhìn như thế nào về một Chúa Giêsu đang hiện diện nơi những con người nghèo khổ thiếu thốn cần giúp đỡ. Lý lẽ là như thế đó, không phải là tôi nói, mà là Chúa Giêsu đã nói. "Những gì các người làm cho người này, người kia, người nọ, là các người làm cho Ta. Và những gì các người không làm cho người này, người kia, người nọ, là các người không làm cho Ta, vì Ta hiện diện ở đó". Xin Chúa Giêsu dạy cho chúng ta thứ lý lẽ này, thứ lý lẽ gần gũi, cận kề với Người, bằng lòng yêu thương, tỏ ra với con người đau khổ nhất.

     Chúng ta hãy xin Đức Trinh Nữ Maria dạy cho chúng ta biết cai trị bằng phục vụ. Đức Mẹ, Đấng đã mông triệu về Trời, đã lãnh nhận triều thiên vương giả nơi Con của Mẹ, vì Mẹ đã trung tín theo Người - Mẹ là đệ nhất môn đệ - đã theo đuổi đường lối Yêu Thương. Chúng ta hãy học cùng Mẹ tiến vào Vương Quốc của Thiên Chúa ngay vào lúc này đây, qua ngưỡng cửa khiêm tốn và quảng đại phục vụ. Chúng ta hãy trở về nhà với gia đình chỉ cần bằng một câu này thôi: "Ta đã hiện diện ở đó. Cám ơn các người, hay các người đã quên Ta". 

     

    http://www.vatican.va/content/francesco/en/angelus/2020/documents/papa-francesco_angelus_20201122.html

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

     

    --
     

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ- ĐTC- THẾ GIỚI NGƯỜI NGHÈO

 

  •  
    Tinh Cao
     
    Mon, Nov 16 at 9:16 AM
     
     

     

    ĐTC Phanxicô - Giảng Lễ Chúa Nhật XXX-A về Ngày Thế Giới Người Nghèo

     

    image.png
     

    Chúng ta  có được một kho tàng to lớn, không phải nơi những gì chúng ta có mà là nơi những gì chúng ta là...

    Lý do chúng ta có được các tặng ân là để chúng ta có thể trở thành tặng ân cho người khác.

     

    Pope Francis prays during Mass in St. Peter’s Basilica on the fourth World Day of the Poor on Nov. 15, 2020. Credit: Vatican Media.

    Lòng trung tín đối với Thiên Chúa nghĩa là để đời mình lơ lửng treo lên,

    để những dự án đã được cẩn thận sắp xếp của mình bị lũng đoạn bởi nhu cầu phục vụ của mình.

      

    image.png
     

    Ai là "nhà băng" có thể cung cấp cho chúng ta số lời dài hạn đây? Họ là thành phần nghèo khổ...

    Người nghèo bảo đảm cho chúng ta một lợi tức vĩnh hằng.

     

    Dụ ngôn chúng ta vừa nghe có phần mở, phần thân và phần kết, cho thấy khởi điểm ban đầu, trung điểm tiến hành và tận điểm kết thúc cuộc sống của chúng ta.

    Phần mởHết mọi sự được mở đầu là một sự thiện cao cả. Người chủ không giữ lấy cho mình cái giầu sang của mình, mà ban phát nó cho các người đầy tớ của ông; 5 nén cho người này, hai nén cho người kia, một nén cho người thứ ba, "tùy theo khả năng của họ" (Mt 25:15). Nếu tính ra thì một nén tương đương với lợi tức cho khoảng làm việc 20 năm: đó là một giá trị khổng lồ, đủ sống cho cả một cuộc đời. Đó là khởi điểm. Đối với chúng ta cũng thế, hết mọi sự đều được bắt đầu nhờ bởi ân sủng của Chúa - hết mọi sự bao giờ cũng được bắt đầu nhờ bởi ân sủng của Chúa, Đấng là một Người Cha và đã ban cho chúng ta rất nhiều sự tốt lành, trao phó cho chúng ta mỗi người những nén bạc khác nhau. Chúng ta  có được một kho tàng to lớn, không phải nơi những gì chúng ta có mà là nơi những gì chúng ta là: sự sống chúng ta đã lãnh nhận, sự thiện ở nơi chúng ta, vẻ đẹp bất khả xóa mờ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta, bằng cách dựng nên chúng ta theo hình ảnh của Ngài... Tất cả những điều ấy làm cho chúng ta trở nên quí báu trước nhan Ngài, mỗi một người chúng ta đều vô giá và đặc thù trong lịch sử! Đó là cách Thiên Chúa nhìn đến chúng ta, cách Thiên Chúa cảm thấy về chúng ta.

    Chúng ta cần nhớ đến điều ấy. Bao giờ cũng thế, chúng ta quá thường nhìn vào cuộc đời của mình chúng ta chỉ thấy mình thiếu hụt, và chúng ta than van về những gì chúng ta thiếu thốn. Rồi chúng ta có khung hướng "giá mà..!" Giá mà tôi có công việc ấy, giá mà tôi có cái nhà ấy, giá mà tôi có tiền bạc và thành đạt, giá mà tôi không có vấn đề này hay vấn đề kia, giá mà tôi khá giả hơn những người chung quanh tôi...! Thế nhưng, những lời - giá mà! - ảo tưởng ấy là những gì ngăn cản chúng ta thấy được tất cả những gì là thiện hảo chung quang chúng ta. Chúng khiến chúng ta quên đi các nén bạc chúng ta có. Anh chị em có thể không có cái đó, nhưng anh chị em lại có cái này, và "cái giá mà" làm cho chúng ta quên như thế. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã cống hiến những nén bạc ấy cho chúng ta, vì Ngài biết rằng mỗi người chúng ta, và Ngài biết các khả năng của chúng ta. Ngài trao phó cho chúng ta, cho dù chúng ta hèn yếu. Thiên Chúa thậm chí tin tưởng vào người đầy tớ sẽ đem giấu nén bạc của hắn đi, hy vọng rằng bất chấp nỗi sợ hãi của hắn, hắn vẫn biết sử dụng một cách tốt đẹp những gì hắn nhận được. Tóm lại, Chúa xin chúng ta hãy thực hiện tốt đa giây phút hiện tại, đừng hoài niệm quá khứ, nhưng hãy nhẫn nại đợi chờ Ngài trở lại. Cái nhung nhớ ấy ghê tởm biết bao, cái nhung nhớ như thể một thứ tính chất đen đủi đầu độc linh hồn của chúng ta, và làm cho chúng ta lúc nào cũng nhìn lại đằng sau, bao giờ cũng nhìn vào các kẻ khác, chứ không bao giờ nhìn vào bàn tay của mình, hay nhìn vào những cơ hội hoạt động được Chúa ban cho chúng ta, không bao giờ nhìn vào tình trạng của bản thân mình... thậm chí không nhìn vào tình trạng bần cùng của mình nữa.

    Tình trạng này mang chúng ta đến phần thân của dụ ngôn, đó là hoạt động của các người đầy tớ là việc phục vụPhục vụ cũng là việc của chúng ta nữa; nó làm cho các nén bạc sinh hoa kết trái, và giúp cho đời sống chúng ta có ý nghĩa. Những ai không sống để phục vụ, phục vụ chút ít trên đời này. Chúng ta cần phải lập lại điều này, và lập lại thường xuyên, đó là những ai không sống để phục vụ, phục vụ chút ít trên đời này. Chúng ta cần phải lập lại điều này, và lập lại thường xuyên, đó là những ai không sống để phục vụ, phục vụ chút ít trên đời này. Thế nhưng đâu là loại phục vụ chúng ta đang nói đến ở đây? Trong Phúc Âm, các người đầy tớ tốt lành là những người dám liềuHọ không sợ hãi cũng không quá cẩn trọng, họ không dính chặt với những gì họ có, nhưng biết sử dụng cách tốt đẹp. Vì nếu sự thiện không được đầu tư thì nó bị mất đi, và tính chất cao cả của đời sống chúng ta không được cân đo bằng việc chúng ta phục vụ bao nhiêu, mà bằng hoa trái chúng ta sinh lợi. Biết bao nhiêu là người sống một cuộc đời chỉ biết tích lũy những gì sở hữu được, chỉ quan tâm đến đời sống tốt đẹp chứ không phải là sự thiện họ có thể làmThế nhưng, trống rỗng biết bao cho một cuộc sống chỉ tập trung vào các nhu cầu của chúng ta, và nhắm mắt làm ngơ trước các nhu cầu của người khácLý do chúng ta có được các tặng ân là để chúng ta có thể trở thành tặng ân cho người khác. Anh chị em ơi, đến đây chúng ta cần phải tự vấn xem: tôi có chỉ theo đuổi các nhu cầu riêng của mình, hay tôi có thể nhìn đến các nhu cầu của người khác, đến những ai đang thiếu thốn cần giúp đỡ? Đôi tay của tôi có mở ra hay chăng, hay là chúng đang nắm lại?

    Vấn đề quan trọng ở đây là có 4 lần tất cả những người đầy tớ đầu tư các nén bạc của mình, thành phần dám liều, được gọi là "trung tín" (vv.21,23). Đối với Phúc Âm thì việc trung thành không bao giờ lại thoát được tính chất dám liều. "Thế nhưng, thưa cha, làm Kitô hữu phải chăng mang ý nghĩa dám liều?" - "Đúng thế, con yêu, hãy dám liều. Nếu con không dám liều, con sẽ đi đến chỗ giống như người đầy tớ thứ ba: đó là đem chôn các khả năng của con, những phong phú của con về tinh thần và vật chất, hết mọi sự". Hãy dám liều: không có vấn đề trung tín nếu không dám liều. Lòng trung tín đối với Thiên Chúa nghĩa là để đời mình lơ lửng treo lên, để những dự án đã được cẩn thận sắp xếp của mình bị lũng đoạn bởi nhu cầu phục vụ của mình. "Thế nhưng tôi có các dự án của mình, mà nếu tôi cần phải phục vụ..." Hãy để cho các dự án của anh chị em bị đảo lộn, hãy đi phục vụ. Thật là buồn khi thấy Kitô hữu chơi trò thủ thế, chỉ muốn tuân thủ các thứ qui luật cùng vâng phục những giới răn. Những Kitô hữu "vừa phải" này không bao giờ vượt biên hết, không bao giờ, vì họ sợ liều. Những con người ấy, xin cho phép tôi sử dụng hình ảnh này, những con người chăm lo cho bản thân mình để tránh khỏi phải liều bắt đầu trong đời sống của họ một tiến trình cằn cỗi hóa linh hồn của họ, và họ tiến tới chỗ như những thứ xác ướpViệc tuân theo các qui luật vẫn chưa đủ; lòng trung thành với Chúa Giêsu không phải chỉ ở chỗ không gây ra lỗi lầm, một chủ trương hoàn toàn sai. Đó là những gì người đầy tớ lưỡi lĩnh trong dụ ngôn đã nghĩ: vì thiếu tính chất chủ động và óc sáng tạo, hắn chiều theo nỗi sợ hãi không cần thiết, và đã đem chôn nén bạc đã nhận được. Người chủ thực sự đã gọi hắn là "gian ác" (v.26). Thế mà hắn có làm gì sai đâu! Nhưng hắn cũng chẳng làm điều tốt. Hắn đã ưa phạm tội bằng việc bỏ qua hơn là dám liều gây ra một lầm lỗi. Hắn đã tỏ ra không trung tín với Thiên Chúa, Đấng ban phát nhưng không, và hắn còn xúc phạm hơn thế nữa, bằng cách trả lại tặng ân hắn đã lãnh nhận. "Ông đã trao cho tôi nén bạc này, và tôi trả nó về cho ông đây", ngoài ra chẳng còn gì nữa. Về phần mình, Chúa xin chúng ta phải tỏ ra quảng đại, phải khống chế sợ hãi bằng lòng can đảm của tình yêu thương, thắng vượt cái tính chất thụ động biến thành đồng lõa. Hôm nay đây, vào những lúc bất định này, vào những lúc bất ổn đây, chúng ta đừng hoang phí cuộc đời của mình ở chỗ chỉ nghĩ đến bản thân chúng ta, tỏ ra lãnh đạm dửng dưng với những người khác, hay đánh lừa mình với ý nghĩ rằng: "yên ổn và an toàn!" (1Thess 5:3). Thánh Phaolô mời gọi chúng ta hãy nhìn thẳng vào thực tại và hãy tránh lánh tính chất lây nhiễm của những gì là lạnh lùng lãnh đạm.

    Vậy thì chúng ta phục vụ ra sao, như Chúa muốn chúng ta phục vụ? Người chủ bảo người đầy tớ bất trung rằng: "Ngươi cần phải đầu tư tiền bạc của ta trong nhà băng, để khi ta trở về ta nhận được những gì lợi lộc từ những gì của ta" (v.27). Ai là "nhà băng" có thể cung cấp cho chúng ta số lời dài hạn đây? Họ là thành phần nghèo khổ. Đừng quên nhé: người nghèo ở ngay tâm điểm của Phúc Âm; chúng ta không thể hiểu được Phúc Âm mà không có người nghèo đâu. Người nghèo giống như chính Chúa Giêsu, Đấng, cho dù giầu có, đã tự hóa ra như không, biến mình thành nghèo khó, thậm chí nhận lấy tội lỗi vào bản thân mình là loại bần cùng tồi tệ nhất. Người nghèo bảo đảm cho chúng ta một lợi tức vĩnh hằng. Ngay cả hiện nay họ cũng giúp chúng ta trở nên giầu có về tình yêu thương, giá trị còn trọng đại cao quí hơn cả các thứ ngọc ngà châu báu. Chúng ta được dạy bảo bắt chước người phụ nữ biết "mở tay mình ra cho người nghèo" (Prov 31:20): đó là kho tàng lớn lao của người phụ nữ này. Hãy chìa tay của anh chị em ra cho người nghèo, thay vì đòi hỏi những gì anh chị em thiếu hụt. Như thế anh chị em mới tăng bội các nén bạc anh chị em đã lãnh nhận.

    Sắp tới Mùa Giáng Sinh, mùa lễ hội. Biết bao nhiêu lần chúng ta nghe người ta đặt vấn đề: "Tôi có thể mua những gì đây? Đâu là những gì tôi muốn có nữa? Tôi cần phải đi mua sắm". Chúng ta hãy sử dụng những lời khác như thế này: "Tôi có thể trao tặng những người khác cái gì đây?", để trở nên như Chúa Giêsu, Đấng đã hiến mình và đã được hạ sinh trong máng cỏ".

    Giờ đây chúng ta đến phần kết của dụ ngôn. Một số người sẽ là thành phần giầu có, trong khi những người khác, thành phần đã có nhiều và đã hoang phí cuộc đời của mình, sẽ trở nên nghèo (cf.v.29). Thế rồi, vào cuối đời của mình, sự thật sẽ được tỏ hiện. Cái giả tạo của thế giới này sẽ bị tàn phai, cùng với chủ trương của nó là sự thành đạt, quyền lực và tiền bạc là những gì làm cho đời sống có ý nghĩa, thì lòng yêu thương - thứ tình yêu chúng ta đã ban tặng - mới cho thấy là kho tàng thực sự. Những thứ kia sẽ sụp đổ, còn lòng yêu thương sẽ vươn lên. Một đại Giáo Phụ của Giáo Hội đã viết: "Đối với cuộc đời này, khi đến lúc chết và sân khấu cuộc đời trở nên trống vắng, khi mà tất cả mọi sự lột bỏ những thứ mặt nạ giầu có hay bần cùng để ra đi, thì khi bị phán xét chỉ ở nơi việc làm của họ, họ sẽ được nhìn thấy những gì họ làm: một số thực sự giầu có, những người khác thì nghèo nàn" (SAINT JOHN CHRYSOSTOM, Homilies on the Poor Man Lazarus, II, 3). Nếu chúng ta không muốn sống đời nghèo khó, chúng ta hãy xin ơn để thấy được Chúa Giêsu nơi người nghèo, để phục vụ Chúa Giêsu nơi người nghèo.

    Tôi xin cám ơn tất cả những người đầy tớ tín trung của Thiên Chúa ấy, thành phần âm thầm sống như vậy, trong việc phục vụ những người khác. Tôi nghĩ đến trường hợp, chẳng hạn, của Cha Roberto Malgasini. Vị linh mục này không chú trọng vào lý thuyết; ngài chỉ thấy Chúa Giêsu nơi người nghèo và cảm thấy đời sống có ý nghĩa trong việc phục vụ họ thôi. Ngài đã lau khô những giọt nước mắt của họ bằng thái độ dịu dàng của ngài, nhân danh Thiên Chúa là Đấng ủi an. Mở đầu ngày sống của ngài là việc cầu nguyện, để nhận lãnh các tặng ân của Thiên Chúa; tâm điểm của ngày ngài sống là việc bác ái, để làm cho tình yêu ngài đã lãnh nhận sinh hoa kết trái; đoạn cuối ngày sống của ngài là việc ngài minh chứng cho Phúc Âm. Con người này đã nhận thức được rằng ngài cần phải chìa bàn tay của ngài ra cho tất cả mọi con người nghèo khổ mà ngài hằng ngày gặp gỡ, vì ngài đã thấy được Chúa Giêsu nơi từng người trong họ. Anh chị em ơi, chúng ta hãy xin ơn trở thành Kitô hữu không phải bằng lời nói mà là việc làm. Để sinh hoa trái như Chúa Giêsu mong muốn. Chớ gì được như vậy.

     

    http://www.vatican.va/content/francesco/en/homilies/2020/documents/papa-francesco_20201115_omelia-giornatamondiale-poveri.html

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

     

     

    --