8. Đời Sống Tâm Linh

Hạnh Phúc – Chương 3: Tình Yêu - 8. TÌNH YÊU VÀ TRẠNG THÁI XUẤT THẦN

Xuất thần có nghĩa là “xuất ra khỏi chính mình” hay nói rộng hơn, là sự cố người đang yêu như xuất ra khỏi bản thân mình, và tập trung mọi suy nghĩ vào kẻ mình yêu. Đám thanh niên thiếu nữ thường ngạc nhiên không hiểu tại sao phụ huynh chúng lại biết được chúng đang yêu; sở dĩ thế là vì họ thấy chúng cứ thường ngẩn ngơ mơ mộng, đăm đăm nhìn vào khoảng không chả thiết gì đến ăn uống. Tình yêu đã “hớp hồn” chúng như thế đấy!

Vả lại tình yêu thường là nền cho các mẩu chuyện nói về những vị giáo sư đãng trí, vào những đêm mưa, đem dù vào mùng để ngủ, những điều thú vị ấy trong đầu họ đã “lôi họ ra” khỏi thế giới chung quanh. Bất cứ thứ tình yêu mãnh liệt nào cũng mang lại hậu quả giống như thế, tức là làm cho kẻ đang yêu trở thành hờ hững với những khó khăn vụ thể cũng như những hoàn cảnh đáng chán quanh mình. Sống trong cái chòi mà yêu nhau thì thú vị hơn trong phòng ốc sang trọng mà mất nhau. Những kẻ yêu mến Chúa lại còn tỏ ra hờ hững với thế giới chung quanh một cách quái lạ hơn nữa: chẳng hạn Thánh Vinh Sơn đệ Phaolô say mê khi nhìn thấy Chúa bị nghèo khổ đến nỗi quên cả ăn. Còn Edna Vincent Millay thì viết về cuộc sống người Kitô hữu như sau: “Nếu mỗi chiều bạn đều cắm lều gần bên Kinh thành mà bạn thực sự ao ước được sống trong đó, và được nhìn rõ hơn cổng thành của nó, thì bạn sẽ có thể nằm trên cây gai, trên bầy rắn độc mà hầu như chẳng nhận ra mình đang nằm ở đâu”.

Tuy nhiên có điểm khác biệt lớn lao giữa tình yêu nhân loại và tình yêu mến Chúa mặc dù cả hai thứ tình này đều “lôi cuốn” chúng ta. Nơi tình yêu nhân loại, sự “xuất thần” thường xảy đến lúc ban đầu. Còn trong tình yêu mến Chúa, sự xuất thần chỉ có thể đạt được sau khi người ta đã trải qua bao nỗi đau đớn kinh khiếp trong tâm hồn. Trong lạc thú xác thân, thì trước hết là tiệc tùng sau đó mới đến chay tịnh và có thể còn bị nhức đầu nữa. Còn trong lĩnh vực thiêng liêng, trước hết là chay tịnh và có thể là cơn nhức đầu nữa sau đó mới có thể tới tiệc tùng. Những lạc thú “mê mẩn” mà hai vợ chồng vui hưởng lúc khởi đầu cuộc hôn nhân trong một ý nghĩa nào đó, giống như một “bả mồi” dụ họ chu tất sứ mệnh làm cha làm mẹ. Tuần trăng mật chẳng qua là một thứ chứng khoán Chúa ban cho cả hai để sau này họ phải trả bằng cách lo gầy dựng một gia đình. Tuy nhiên không có cơn xuất thần mãnh liệt nào dù thuộc tinh thần hay thể xác chúng ta được hưởng lâu dài mà không đòi phải trả giá. Mỗi cơn xuất thần đều kèm theo cái giá đòi buộc của nó.

“Sự hăng hái ban đầu là hăng hái giả tạo” xét về mặt hôn nhân cũng như mặt tôn giáo. Cơn “xuất thần” buổi sơ khai không phải là xuất phát từ thứ tình yêu chân thực và bền vững để chúng ta kiếm tìm, nắm lấy. Cơn xuất thần ấy hẳn sẽ đến với chúng ta, nhưng chỉ sau khi chúng ta đã trải qua nhiều thử thách tôi luyện, vẫn trung tín dù bị vùi dập, vẫn kiên gan mà không hề ngã lòng, vẫn vững tâm theo Chúa mặc cho bao quyến rũ của trần thế này. Thật tuyệt vời biết bao khi những bậc làm cha mẹ trong Kitô giáo cảm nếm được thứ tình yêu xuất thần sâu thẳm này, tuy nhiên họ đã phải bước qua khổ đau đồi Canvê mới có được thứ tình yêu ấy. Cơn xuất thần của họ mới là thực sự, giới trẻ ít được nó cho bằng giới già.

Cơn “mẩn mê” đầu tiên của tình yêu quả thực rộn ràng, nhưng dù sao cũng vẫn còn mang tính ích kỷ, bởi vì kẻ đang yêu thế nào cũng tìm kiếm nơi người mình yêu mọi thứ mình sẽ trao ban. Còn trong cơn xuất thần thứ hai, kẻ ấy cố gắng nhận lãnh từ Thiên Chúa mọi thứ mà cả hai người đều có thể trao ban. Nếu chỉ đồng hoá tình yêu với cơn “mùi mẫn” ban đầu thì phải có người kia hiện diện, tình yêu ấy mới có thể kéo dài, còn nếu đồng hoá tình yêu đó với thứ tình yêu kết hiệp, lâu bền và vĩnh cửu thì tình yêu sẽ đi tìm mầu nhiệm sâu kín của mình nơi Thiên Chúa, là Đấng đã đặt mọi thứ tình yêu nơi trái tim chúng ta.

Quá nhiều ông chồng bà vợ kỳ vọng nơi bạn đời mình sẽ trao ban điều mà thực ra chỉ mỗi mình Chúa mới có thể ban cho: đó là sự “đê mê vĩnh hằng”. Giả như có ông này bà nọ làm đươc điều đó, thì chắc hẳn họ là Chúa chứ chẳng phải là người. Chúng ta có lý khi ước muốn đạt được cơn xuất thần trong tình yêu, tuy nhiên nếu chúng ta hy vọng hưởng được nó qua lạc thú xác thịt là thứ nằm trong tiến trình dẫn chúng ta đến với Chúa, thì ắt hẳn chúng ta sẽ phải thất vọng. “Sự mùi mẫn” đầu tiên của tình yêu không phải là một ảo tưởng, tuy nhiên nó cũng chỉ là một thứ thẻ du lịch, một thứ để nếm trước, duyệt trước, thôi thúc thân xác và linh hồn khởi bước cuộc hành trình tìm đến những niềm hoan lạc vĩnh cửu. Nếu cơn mùi mẫn đầu tiên này qua đi thì không có nghĩa là nó mời gọi chúng ta đi tìm một người khác mà là yêu theo một đường lối khác, và con đường khác này chẳng ai ngoài Đức Kitô, Đấng đã từng phán: “Ta là đường”.

Gm. Fulton Sheen

Niềm Tín Thác – Chương XVII: TÍN THÁC TRONG NHỮNG ĐÊM TỐI

I.   THẦN BÍ KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ PHI THƯỜNG.

–   NHỮNG GIAI ĐOẠN LỚN CỦA CUỘC SỐNG THẦN BÍ.

–   NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐÊM TỐI CÁC GIÁC QUAN.

–   MỤC ĐÍCH CỦA THIÊN CHÚA GIẢI THÍCH NHỮNG ĐAU KHỔ CỦA ĐÊM TỐI.

Thần bí không có nghĩa là phi thường. 

– Những gì chúng tôi trình bày trên đây để an ủi và nâng đỡ những linh hồn bị buồn sầu, đều có giá trị cho tất cả mọi thứ thử thách thiêng liêng được gọi chung là buồn sầu, mất an ủi. Nhưng còn một loại thử thách dành cho những linh hồn thần bí, những thử thách đặc biệt ghê sợ vì cường độ và thời gian kéo dài của chúng. Những linh hồn bị thử thách như vậy thật rất đáng thương. Họ phải được an ủi, nâng đỡ, được khích lệ luôn và cách đặc biệt, để có thể chịu đựng những thử thách rất đau đớn này.

Đây là cuộc sống thần bí. Đối với nhiều người, chỉ nghe nói đến thần bí là đã làm họ sợ hãi lắm. Vậy ngay từ trước khi vào đề, cần phải có một giải thích để ngăn ngừa những sai lầm và đánh tan những ngộ nhận.

Trước hết, cuộc sống thần bí không phải là một cuộc sống phi thường như nhiều người tưởng tượng. Một vị đại thánh của thời đại chúng ta, thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu đã đạt tới những đỉnh cao nhất của cuộc sống thần bí và của sự thánh thiện, nhưng điều phi thường nhất trong cuộc đời của chị thánh, là xem ra không có gì phi thường hết. Chị thánh thường nhắc đi nhắc lại đến nhàm chán rằng : con đường nên thánh của chị là con đường tín thác trìu mến, con đường thơ ấu thiêng liêng, chẳng có gì là phi thường hết. Người ta đã không thấy nơi chị thánh những thị kiến, những mặc khải, và như chúng ta biết, đã không có những sự xuất thần nào hết. Đó là một cuộc đời rất bình thường và phần lớn trải qua trong khô khan và buồn sầu, mất an ủi.

Bản chất chủ yếu của cuộc sống thần bí không ở tại những hiện tượng đôi khi xảy ra trong nơi các vị thánh như các thị kiến, các sự xuất thần, các lời nói siêu nhiên. Đời sống thần bí ở tại sự triển nở đầy đủ những hồng ân của Chúa Thánh Thần, giúp linh hồn trở nên hoàn toàn thụ động dưới sự tác động của ân sủng, luôn sống theo sự hướng dẫn của Chúa. Sự triển nở này là hiệu qủa của những ân sủng đặc biệt và nhưng không của Chúa, có tên là “những ân sủng tác thành”. Những ân sủng này ở ngoài tầm tay của chúng ta : chúng ta chỉ có thể dọn tâm hồn để đón chờ, chứ không có thể tạo ra cho mình.

Và nên nói ngay về sự chiêm niệm thần bí mà chúng ta không nên đồng hóa với cuộc sống thần bí. Chiêm niệm thần bí là một ánh sáng Chúa phú bẩm cho trí tuệ và một lòng kính mến Chúa phú bẩm cho ý chí con người, dưới ảnh hưởng của những hồng ân khôn ngoan, thông minh và hiểu biết của Chúa Thánh Thần. Nói cách khác, chiêm niệm thần bí là một cái nhìn đơn sơ và trìu mến, có tính tổng quát và mờ mờ về Thiên Chúa và các phẩm tính của Ngài. Nó chỉ thường diễn ra trong các giờ cầu nguyện, hoặc cũng có thể thấm nhuần một số hành động nào đó của ta, và cũng có thể diễn ra suốt ngày của ta, làm cho ta kết hiệp cách trìu mến với Chúa một cách ít nhiều liên tục.

Vậy cuộc sống thần bí không có gì để ta phải hoảng sợ. Có nhiều linh hồn thần bí không có gì bề ngoài khác những người khác. Có khác chăng là họ có vẻ trầm mặc hơn chúng ta. Không ai có thể ngờ rằng họ đã qua con đường thần bí. Các bạn hãy đọc tiểu sử thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu : nếu bạn không rất chú ý, bạn sẽ không thấy gì là cuộc sống thần bí. Phải có con mắt khá từng trải mới nhận ra những dấu chỉ… Như vậy, không những thường chúng ta không nhận ra những linh hồn thần bí đang sống bên cạnh chúng ta, mà chính những linh hồn đó cũng không ý thức về cuộc sống của họ, nhất là vào giai đoạn khởi đầu đời sống thần bí. Có thể họ sẽ rất thành thực chối cãi, nếu ta bảo họ là thần bí.

Những giai đoạn lớn của đời sống thần bí. 

– Đâu là những giai đoạn lớn của cuộc sống thần bí theo như các linh hồn thường gặp, và theo như thánh Gioan Thánh Giá, vị đại thánh tiến sĩ thần bí, đã mô tả cách tuyệt diệu trong cuốn “Đêm tối tăm” của Ngài ? Trước hết có “đêm tối của các giác quan” mà mục đích là dứt linh hồn ra khỏi tất cả những gì con người có cảm giác, để dần dần đưa nó vào việc chiêm niệm. Đêm tối này có thể kéo dài nhiều năm. Sau đó thường có một thời gian bình an và những an ủi mạnh mẽ. Rồi linh hồn được Chúa chọn để đi tới kết hiệp trọn vẹn với Ngài, sẽ bước vào “đêm tối của tâm trí” mà mục đích là thanh tẩy phần thiêng liêng của linh hồn hầu dẫn đưa nó tới bậc thánh thiện.

Chúng ta hãy nói qua về mỗi giai đoạn này, đồng thời phải nhắc cho mọi người nhớ rằng Thiên Chúa không buộc phải giữ luật lệ nào hết, và trong thực tế, các trường hợp đã diễn ra cách vô cùng khác nhau. Phải nhớ kỹ điều này để khỏi những nhận định sai lầm.[1]

Vào lúc khởi đầu đời sống thiêng liêng, Thiên Chúa thường ban (không luôn luôn) những ơn an ủi lớn lao, và Chúa càng dự tính đưa linh hồn lên cao, thì Ngài càng ban cho nó, những niềm an ủi tràn đầy và mãnh liệt, để dứt nó ra khỏi những niềm vui trần gian, vì những niềm vui này sẽ bị coi là hư vô sánh với niềm vui sâu xa của tình yêu Thiên Chúa. Rồi khi Chúa thấy linh hồn đã bỏ được những sự an ủi trần thế, Ngài bắt đầu rút đi những niềm vui thiêng liêng cảm giác. Dần dần Ngài cất đi cả những hứng thú mà linh hồn thường cảm thấy khi làm các việc của nhân đức bác ái, nhân đức khiêm nhường và những việc hãm mình. Rồi Chúa còn lấy đi cả những niềm vui của việc cầu nguyện. Chưa nhận ra những thay đổi ở trong mình, linh hồn bắt đầu cảm thấy khó suy gẫm, khó cầu nguyện bằng lý trí như trước đó. Và linh hồn bắt đầu cảm thấy chán.

Dưới sự tác động của Thiên Chúa, tất cả cuộc sống thiêng liêng của linh hồn trở thành đơn giản. Hoạt động thiêng liêng của nó xem như giảm đi một cách lạ thường. Thay vì thích cầu nguyện với nhiều tâm tình khiêm nhường, hãm mình, tín thác, quên mình, yêu mến như trước kia, thì nay nó tự nhiên thấy mình muốn thưa chuyện với Chúa một cách rất đơn sơ, hoặc chỉ đơn sơ ngồi bên cạnh Chúa trong thái độ tin tưởng và trìu mến như một trẻ nhỏ trong vòng tay của mẹ nó. Nó cảm thấy không thích và không dễ có những hành vi suy nghĩ. Từ từ và một cách âm thầm, Thiên Chúa ban cho nó hồng ân cầu nguyện phú bẩm, tức ơn chiêm niệm. Trong khi cầu nguyện, hoặc ở một lúc khác, bỗng nhiên nó cảm thấy mình được kết hiệp với Chúa bằng một cái nhìn trìu mến, một cái nhìn tổng quát và mờ mờ về Thiên Chúa nó mến yêu.

Chính sự chuyển biến đau đớn từ đời sống bình thường sang đời sống thần bí, từ suy gẫm sang chiêm niệm, được gọi là “đêm tối các giác quan”. Đó là những ngày đau khổ âm thầm, lột xác đau đớn. Linh hồn mất đi những niềm vui thiêng liêng cảm giác, lại chưa biết hưởng những niềm vui thiêng liêng tinh tuyền hơn và sâu xa hơn do chiêm niệm mang lại cho nó. Cho nên nó cảm thấy khô khan, buồn sầu. Nó thấy mình không hoạt động, nhàn rỗi, gần như sống theo thói quen.

Những năm tháng của đêm tối các giác quan đó lại càng khổ sở cho linh hồn, vì nó không nhận ra hành động của Thiên Chúa. Nó rất ước ao sống gần Chúa để kết hiệp với Ngài, nhưng nay nó thấy mình ngày càng có vẻ xa Chúa. Còn đâu những giờ cầu nguyện sốt sắng không một phút lo ra ? Còn đâu niềm ước ao chịu đau khổ vì Chúa, và còn đâu những phút say mê mến yêu Chúa ? Thậm chí cha linh hướng của nó, vì không nhận ra một biến chuyển căn bản đang hình thành trong nó, đã càng làm nó xao xuyến, bởi vì ngài khuyên nó hãy quảng đại như những ngày đầu xưa kia. Bởi vậy, có khi vì luyến tiếc sự sốt sắng nặng nề về cảm giác xưa kia, nó đã có những nỗ lực đau đớn để trở về với những cách cầu nguyện trước kia, với nhiều giờ suy gẫm và với hoạt động thiêng liêng bất an và hăng say. Nhưng những hoạt động này chỉ càng gia tăng sự bất an và đau khổ của nó, vì những hoạt động này đi ngược lại với hành động của Chúa.

Và điều làm cho tình trạng này thêm căng thẳng và đau đớn, là linh hồn có cảm tưởng như không bao giờ nó thấy ló rạng bình minh ngày được giải thoát.

Cơn thử thách này sẽ kéo dài bao lâu ? Làm sao mà biết được. Nhưng ít ra linh hồn có biết đây chỉ là một sự thử thách chăng ? Ôi ! Nếu ít ra nó biết chắc điều đó, nó sẽ được an tâm và an ủi biết bao ! Và cơn thử thách cứ kéo dài… Kéo dài vô tận ! Có thể kéo dài nhiều năm, kéo dài bao lâu tùy kế hoạch của Chúa. Cường độ của đêm tối, mức trọn lành mà Chúa muốn dẫn đưa linh hồn tới, sự linh hồn ngoan ngoãn vâng theo hành động thanh tẩy của Chúa, mức nặng nề của những điều bất toàn mà nó cần được thanh tẩy đó là những nhân tố có thể quyết định cho thời gian dài ngắn của những đêm tối.

Tất nhiên những đêm tối không luôn luôn ghê sợ. Đôi khi những cơn gió cũng nhẹ dần, nhưng trái lại đôi khi nó gia tăng cường độ như vũ bão. Nói chung, thường cơn thử thách đau đớn này kéo dài nhiều năm. Linh hồn không thể làm gì để chấm dứt tình trạng này. Không một luận lý nào, không một kế hoạch nào có thể giải thoát nó. Thiên Chúa thanh lọc nó như luyện vàng trong lò lửa : khi nào Ngài thấy nó đã đạt tới mức trong sạch như Ngài muốn, lúc đó mây mù sẽ tan biến, ánh sáng rực rỡ sẽ chiếu tỏa và Thiên Chúa sẽ lại ban cho linh hồn những niềm vui tuyệt diệu của tình thương của Ngài. “Này mùa đông đã qua, những trận mưa đã xa rồi. Các bông hoa đã xuất hiện trên đất của ta. Hỡi người bạn tình của ta hãy chỗi dậy và lại đây !”. (Dc 2,11-13).

Theo lời thánh Gioan Thánh Giá, Thiên Chúa  thường để cho linh hồn được nghỉ ngơi nhiều năm[2]. Ngài lại cho nó được hưởng những sự an ủi ngọt ngào, những niềm vui cao hơn, tinh tuyền hơn, ít cảm giác hơn. Chúa tỏ mình ra cho nó nơi phần cao nhất của tâm hồn : nơi đó, qua một đường lối mà các giác quan chưa từng biết tới, Ngài đổ đầy linh hồn bằng những ánh sáng thiên phú và làm cho nó say mê vẻ đáng mến thần linh của Ngài. Ngài lại cho nó cảm thấy sự hiện diện đầy yêu thương của Ngài, một cách sâu thẳm hơn trước kia. Bởi vậy nhiều khi linh hồn lại say mê yêu mến, và nhiều khi không cầm nổi những xúc động của mình, nó đã rung động lên vì mến yêu nồng nàn. Những khi khác, nó an nghỉ rất bình an và đầy trìu mến trên lòng Chúa. Như vậy mỗi ngày nó mỗi kết hiệp chặt chẽ hơn với Chúa.

Và niềm tín thác đã cùng lớn lên với tình yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa cho linh hồn cảm thấy sự ngọt ngào của tình thương của Ngài, cho nên linh hồn sung sướng thề thốt trung thành và trọn vẹn tư tưởng nơi Ngài. Đó là những năm tháng an vui hạnh phúc để linh hồn lo dự trữ thật nhiều niềm tín thác cho những năm khô héo sau này. Nó lấy sức để đương đầu với cơn thử thách lớn lao sẽ xảy đến cho nó, nếu nó được kêu gọi lên cao hơn trên con đường thánh thiện. Nói thế, vì như thánh tiến sĩ thần bí đã viết, con số những linh hồn trải qua đêm tối các giác quan thì lớn, những con số những linh hồn quảng đại và trung thành, được Chúa dẫn đưa tới cuộc thử thách gay go cuối cùng, để lên tới bậc kết hiệp trọn vẹn, thì bé nhỏ.

Vậy khi đến giờ Chúa đã định, linh hồn lại bước vào đêm tối, lần này là đêm tối ghê sợ của tâm trí, sự thanh tẩy thụ động đích thực. Chỉ những linh hồn đã trải qua những cơn hãi hùng của đêm tối ghê sợ này, mới biết nó đau đớn dường nào. Theo lời thánh Gioan Thánh Giá, đó là luyện ngục ở đời này, thay cho luyện ngục sẽ chờ đợi ta ở đời sau[3].

Bây giờ linh hồn sẽ được thanh tẩy nơi phần linh thiêng nhất của nó : trí tuệ, trí nhớ và ý chí. Các nhân đức hướng thần của nó, đức tin, đức cậy và đức mến, sẽ được ơn thông minh của Chúa Thánh Thần thanh tẩy khỏi những khiếm khuyết và những bất toàn nhỏ mọn nhất. Linh hồn phải chết cho mình, nghĩa là từ bỏ những cách suy nghĩ và hành động theo loài người. Nay đúng là lúc nó ăn no bánh đau thương, và uống mật đắng của những cơn gian truân. Linh hồn có thể mượn lời vua thánh Đavid để than rằng : “Lạy Chúa Trời, xin cứu vớt con vì nước đã dâng lên tới cổ họng, con bị lún sâu xuống sình lầy, chẳng biết đứng vào đâu cho vững. Con chìm sâu trong dòng nước thẳm, sóng dạt dào đã cuốn con đi. Con kêu hoài kiệt sức, họng con đã ráo khô. Đôi mắt con mòn mỏi, trông chờ Thiên Chúa tới” (Tv 68,2-4).

Nhiều khi đêm đen tối qúa, màn đêm dầy đặc qúa, linh hồn muốn nhớ lại những ngày đầy ánh sáng mà không được. Thay vì cảm tưởng của sự hiện diện đầy yêu thương của Chúa khi xưa, nay linh hồn chỉ cảm thấy sự vắng bóng của Ngài. Và thay vào những lúc chuyện vãn thân tình với Chúa, nay chỉ là một sự thinh lặng buồn sầu. Nó tìm kiếm Chúa đủ cách, nhưng vô ích. Nó tha hồ kêu gọi Ngài, vẫn chỉ là vắng lặng : “Tôi đã tìm Người lòng tôi yêu mến, nhưng không gặp”. (Dc 3,1).

Còn hơn ở thời kỳ đêm tối các giác quan, nay linh hồn có cảm tưởng và ý thức rằng mình đang lùi lại. Đôi khi nó có cảm tưởng như mình đang rơi xuống vực thẳm. Nó thấy chóng mặt. Nó tưởng như mình sẽ sa hỏa ngục. Những nghi nan và lo sợ này chỉ là những trường hợp tối đa, ít khi xảy ra, nhưng trong đa số các trường hợp linh hồn có cảm tưởng như mình không còn đẹp lòng Chúa. Chúa giận nó. Chúa không thèm lòng mến yêu của nó… Và nó thấy nó nghĩ đúng ! Làm sao Thiên Chúa có thể dành tình yêu hiệp nhất cho một linh hồn xấu xa như nó ? Làm sao Thiên Chúa có thể kết hiệp thân mật với một linh hồn kiêu căng và ích kỷ như nó ? Đúng rồi, Thiên Chúa không còn yêu thương nó nữa, nó cảm thấy rõ ràng, không thể sai lầm được. Và đáng buồn thay ! Chính nó hình như cũng không còn yêu mến Chúa nữa ! Ngọn lửa đức ái thần linh thiêu đốt linh hồn nó xưa kia, nay đã tắt. Điều này nó thấy rõ hơn ban ngày, và nó đã cố gắng thắp lại ngọn lửa đó mà không thành.

Nhưng nếu tình yêu của Thiên Chúa không còn là tình yêu dễ cảm thấy nữa, thì Ngài lại đặt vào linh hồn đó một tình yêu bao la, một lòng mến yêu qúi mến[4]. Tuy linh hồn thấy Chúa vắng bóng, vì Ngài đã ẩn mình đi, nhưng nó vẫn thấy Chúa vô cùng đáng mến. Linh hồn không còn cảm thấy sự ngọt ngào của lòng mến, nhưng nó vẫn bị thu hút bởi tính đáng mến vô cùng của Ngài. Nó muốn yêu mến Chúa đến điên dại, vì nó thấy Ngài vô cùng đáng qúi yêu và thương mến. Nhưng từ vực sâu của đêm tối phát ra một tiếng nói ghê sợ : “Ngươi không đáng yêu mến Ngài. Ngài không thương yêu ngươi nữa, và ngươi cũng chẳng mến yêu Ngài nữa. Không còn yêu thương gì nữa”. Đáng buồn thay! Đó cũng là điều linh hồn cảm thấy, dầu nơi đáy linh hồn nó, vẫn còn leo lét một ánh lửa cậy trông, khiến nó tin ngược lại, nhưng nó vẫn không hoàn toàn tin tưởng.

Ôi ! Những áy náy của lòng mến nơi linh hồn này ! Một cực hình cho nó. Những niềm ước ao mến yêu bao la, những đau khổ trong lòng mến, đó là tình mến yêu rất lớn lao. Nhưng vì bị lóa mắt bởi ánh sáng chói chang của hình vi thanh tẩy của Chúa. Giống như chim cú bị lóa mắt bởi ánh sáng ban ngày, cho nên nó không nhận ra (chính vì ánh sáng qúa mạnh, mà mắt của linh hồn còn qúa yếu, bị lóa, cho nên thử thách này có tên gọi là “đêm tối”). Các cha linh hướng của nó có thể thấy rõ đấy, và có dạy bảo nó, nhưng làm sao nó có thể tin lời các ngài, vì nó thấy các ngài nói sai sự thật. Nó yêu mến Chúa hết lòng, yêu mến nhiều lắm, nhưng đồng thời nó cảm thấy không có tình yêu nào hết. Nó có thể kêu lên như Angêla đệ Fôlignô : “Thật vậy, khi tôi nhìn vào lòng Chúa thương tôi, tôi thấy lòng mến của tôi chỉ là một trò đùa vô duyên và một sự dối trá đáng chê ghét”[5]. Đó, cái đau khổ của đêm tối là thế : thấy mình không được Chúa thương và hình như mình không yêu mến Chúa ! Bên cạnh sự đau khổ này, tất cả mọi đau khổ khác đều không đáng kể nữa. Thật vậy, đau khổ này giống như án phạt trong hỏa ngục. Nó phản ảnh những hình khổ của hỏa ngục. Đau khổ này giống như đau khổ của Chúa Giêsu trên thập giá xưa, khi Ngài phải than rằng : “Lạy Chúa Trời của con ! Ôi Chúa Trời của con, sao Chúa bỏ rơi con ?”.

Và đêm tối thứ hai này cũng kéo dài nhiều năm. Sự thường, trong một thời gian dài, linh hồn chỉ cảm thấy mật đắng thuần túy. Không có một giọt an ủi nào. Nhưng sau khi cuộc thanh tẩy ghê sợ này kết liễu, linh hồn bắt đầu thở được[6]. Thỉnh thoảng bình minh ló rạng nơi chân trời. Thỉnh thoảng Thiên Chúa ẩn mình trước đây lại tỏ mình ra, làm cho linh hồn nhảy mừng hoan lạc. Nó bắt đầu cảm thấy lòng mến bao la của nó đối với Thiên Chúa, nó lại bắt đầu có ý thức về lòng mến của nó, đối với Thiên Chúa. Những áy náy, những lo âu của nó về lòng mến Chúa đã tan biến, nhưng linh hồn vẫn cảm thấy bị thương tích trong tình yêu Thiên Chúa. Nỗi đau khổ hiện nay và từ nay về sau của nó là, tuy yêu mến Chúa hết lòng, nó vẫn thấy chưa yêu mến Ngài được phần nào như Ngài đáng mến yêu. Cho nên nó sẽ ra sức yêu mến Ngài, và làm cho nhiều người yêu mến Ngài qua việc tông đồ. Niềm ao ước mến yêu không nguôi đó sẽ là như hình khổ luôn luôn thôi thúc nó, và sự tương phản giữa những vẻ tuyệt hảo của Chúa và sự xấu xa ghê tởm của nó sẽ giúp nó hoàn toàn từ bỏ bản thân mình. Như vậy, công việc thanh tẩy sẽ dần dần kết thúc, và đêm tối sẽ dần dần đổi thành ban ngày đầy ánh sáng huy hoàng của sự kết hiệp biến đổi của tình yêu thần linh. Linh hồn bước ra khỏi cơn thử thách, hoàn toàn đổi mới và như được thần linh hóa. Nay Thiên Chúa sống viên mãn trong linh hồn và thay đổi các hoạt động của nó bằng những hoạt động của Ngài.

Những đặc điểm của đêm tối các giác quan.

– Chúng tôi sẽ không đi vào những chi tiết của các sự thanh tẩy thụ động. Nếu họ muốn, và có sự ưng thuận của cha linh hướng, họ có thể đọc cuốn Đêm tối tăm của thánh Gioan Thánh Giá. Đây chúng tôi chỉ đưa ra một vài suy nghĩ thôi.

Trước hết làm sao phân biệt giữa trường hợp đó là đêm tối các giác quan, và trường hợp bị khô khan là do sự nguội lạnh của mình… Thánh Gioan Thánh Giá chỉ cho ta ba dấu hiệu khá đặc trưng, nhưng phải sử dụng chung cả 3 dấu hiệu thì mới có thể đạt được sự chắc chắn mong muốn.

Dấu chỉ thứ nhất : Trong đêm tối tăm các giác quan, linh hồn không cảm thấy ngọt ngào và an ủi trong các việc đạo đức, nhưng đồng thời cũng không cảm thấy vui sướng nơi các vật thọ tạo và các sự thế gian, bởi vì ơn hiểu biết của Chúa Thánh Thần đang tác động trong linh hồn, làm cho nó thấy rõ tính hư vô của các sự thế gian.

Dấu chỉ thứ hai : Trong đêm tối tăm các giác quan, linh hồn vẫn nhớ đến Chúa với một niềm ân cần và lo sợ mình đang lùi lại phía sau, vì thấy mình không còn cảm thấy hứng thú trong các việc đạo đức. Đây là lúc ơn kính sợ Chúa, một ơn của Chúa Thánh Thần, sẽ hành động trong linh hồn. Sự lo sợ này cho thấy sự khô khan của nó không do tính nguội lạnh hoặc do bệnh tật phần xác, nhưng do Chúa làm, vì “Ngài muốn chuyển mọi ơn lành và sức mạnh từ lãnh vực giác quan sang lãnh vực tinh thần”. Các giác quan không còn nhận được gì nữa, nhưng tinh thần bắt đầu được nuôi dưỡng bằng một thức ăn mới. Thoạt tiên linh hồn không thấy ngon ngọt gì hết, vì nó chưa quen với thứ vị lạ và qúa tinh vi này. Thức ăn linh thiêng mới này là khởi đầu của việc chiêm niệm tối tăm và khô khan.

Dấu chỉ thứ ba : Đó là linh hồn cảm thấy khó suy gẫm như trước kia, bằng suy luận và bằng trí tưởng tượng. Lý do là vì Thiên Chúa bắt đầu tỏ mình ra cho linh hồn không qua các giác quan, hoặc qua lý luận nữa, nhưng qua tinh thần thuần túy, mà tinh thần thuần túy thì không dùng suy luận : Thiên Chúa tỏ mình ra cho linh hồn qua một sự chiêm niệm đơn giản. Ở đây, chính ơn thông minh của Chúa Thánh Thần sẽ khai tâm cho ta về một cách nhận biết Chúa tốt hơn. Bởi thế, linh hồn cảm thấy muốn và dễ dàng ở bên Chúa cách rất đơn sơ. Nó sung sướng được ở một mình với một mình Chúa, nhìn Ngài với tất cả lòng mến yêu trìu mến, không suy nghĩ gì hết, và cũng không có ý tưởng nào hết.

Khó suy gẫm là điểm chủ yếu của dấu chỉ thứ ba. Nó thường xảy ra thường xuyên và ngày càng rõ rệt. Nhưng nó không xảy ra đều đặn, mà là lúc hơn lúc kém. Có những ngày nó rất mạnh, nhưng có những lúc lại nhẹ hơn.

Nơi tình trạng này của đêm tối các giác quan, chúng ta thấy hai yếu tố tiêu cực : một là sự khô khan, tức mất hết các sự an ủi cảm giác, hai là khó suy gẫm. Đồng thời cũng có một điểm tích cực, đó là linh hồn bắt đầu biết chiêm niệm do ơn Chúa phú bẩm, và linh hồn rất khát khao yêu mến Chúa. Sự khát khao này do chiêm niệm sinh ra. Chính yếu tố tích cực này là nguyên nhân của hai yếu tố tiêu cực kia : sự khô khan và khó suy gẫm như thế là do nay ân sủng đã mang một hình thức mới, tinh thần hơn, vượt trên các giác quan và cả trí tưởng tượng. Thiên Chúa cất thức ăn cảm giác đi và ban cho linh hồn một thức ăn mới, tốt hơn nhiều, nhưng nó chưa cảm thấy ngọt ngào, vì chưa quen ăn. Cũng như đứa bé mẹ nó không cho bú nữa : nó bắt đầu mọc răng, nó qua những ngày đau ốm, nhưng dần dần nó tập ăn những thức ăn mạnh hơn, và cũng dần dần nó cảm thấy ngon.

Như vậy chúng ta mới hiểu tại sao trong đêm tối các giác quan, tuy chỉ cảm thấy chán ngán và khô khan trong việc cầu nguyện, linh hồn vẫn luôn nhớ đến Chúa và khát khao Ngài. Nó vẫn luôn tưởng nhớ đến Chúa. Điều này chứng tỏ sự khô khan của nó không do nó nguội lạnh với Chúa.

Mục đích của Thiên Chúa giải thích lý do những đêm tối này.

– Điều quan trọng là ta phải biết mục đích Thiên Chúa theo đuổi trong những đêm tối này và đừng bao giờ quên lãng. Thiên Chúa cần phải gột rửa linh hồn sạch khỏi tất cả những gì nghịch với sự kết hiệp[7].  Ngài muốn dẫn đưa nó tới sự kết hiệp trọn vẹn. Bởi vậy Ngài phải gạt bỏ đi tất cả những gì cản trở sự kết hiệp đó, tẩy rửa nó sạch mọi tì vết. Như thánh Gioan Thánh Giá đã nói : “Để đạt được tất cả, cần phải bỏ đi tất cả”.

Đối với những linh hồn mà Thiên Chúa đã gỡ ra khỏi những hứng thú trần gian bằng những niềm an ủi thiêng liêng, thì chính những an ủi thiêng liêng dễ cảm giác này cũng vẫn là dịp cho những lưu luyến hỗn độn : thay vì tìm kiếm Thiên Chúa, linh hồn chỉ bám vào những hồng ân của Ngài. Đúng như chân phước Suso đã chứng minh cách tỏ tường trong cuốn sách về mười tảng đá của ngài, sự ham muốn những an ủi thiêng liêng là một chướng ngại lớn lao cho việc kết hiệp với Chúa. Bởi vậy, trong đêm tối các giác quan, Chúa cai sữa linh hồn, cất đi tất cả mọi an vui cảm giác, mọi ngon ngọt của tình yêu Thiên Chúa. Ngài để cho linh hồn bị khô khan, để bắt nó làm quen dần với một đời sống thiêng liêng thoát khỏi các giác quan, khỏi trí tưởng tượng và mọi suy luận.

Ngài còn muốn giải thoát linh hồn khỏi các cách hành sử loài người. Linh hồn còn cứ nhận thức và yêu mến theo cách đó, sẽ không thể kết hiệp với Thiên Chúa là Đấng vô cùng đơn sơ. Bởi vậy, Ngài tập cho linh hồn sống đơn sơ, giúp nó từ bỏ hoạt động tự nhiên của nó và thay vào đó một sự thụ động ngày càng lớn. Thay vì nhận biết Thiên Chúa và cầu xin Ngài bằng suy gẫm và qua những dữ kiện cảm giác, linh hồn phải nhận lấy một cách thức nhận biết siêu việt, nhận biết Chúa bằng ánh sáng thiên phú của chiêm niệm. Nó không còn nhận biết Thiên Chúa như những người khác, dựa vào những dữ kiện của giác quan và dựa vào mặc khải, nhưng nó nhận biết Chúa cách thiên phú và mầu nhiệm, nhờ một ánh sáng chiếu thẳng xuống linh hồn, không qua trung gian các giác quan. Thay vì một lòng mến yêu chủ động như trước kia, nay sẽ là một sự yêu mến thụ động, do thiên phú, một hồng ân nhưng không của Chúa. Vậy các tài năng tâm linh của nó phải được tẩy sạch cách hành động đã quen xưa nay, và phải mặc lấy cách thức thần linh, nghĩa là phải được thay đổi, phải được thần linh hóa. Tóm lại, Thiên Chúa chuẩn bị linh hồn cho cuộc sống thần linh, cho sự kết hiệp trọn vẹn, bằng cách thay thế dần dần hoạt động của nó bằng hoạt động thiên phú và thần linh của Ngài, thay sự sống nhân loại của nó bằng sự sống thần linh của Ngài.

Điều này giải nghĩa tại sao việc cầu nguyện lại trở thành khô khan như thế trong đêm tối các giác quan. Linh hồn không thể suy gẫm và luận lý nữa, hoặc chỉ có thể thực hiện cách khó khăn. Những giờ nguyện gẫm của nó trở nên trống rỗng và luôn lo ra. Thiên Chúa lấy đi khỏi trí tuệ và ý chí những đối tượng tự nhiên của chúng, rút ra từ những sự vật hữu hình, và Ngài chỉ thay thế dần dần bằng những ánh sáng yếu ớt đầu tiên của việc chiêm niệm. Linh hồn đáng thương hại chẳng biết gì về những thay đổi này, nó mất thế dựa vào giác quan, nhưng lại chưa đủ thế dựa vào việc chiêm niệm mới khởi đầu. Các giờ nguyện gẫm của nó trôi qua trong buồn chán và tẻ nhạt, bất lực.

Đàng khác, vì qúa quen với những sự việc cảm giác và sờ thấy được, nên linh hồn lúc đầu rất ít ham những ánh sáng siêu nhiêu nhiên qúa đơn sơ mà thật ra nó ít khi ý thức. Xa lạ với cách thức nhận biết và yêu mến này, nó tỏ ra bực rọc và khó chịu. Nó có cảm tưởng như mình không hoạt động gì hết, và nó muốn trở lại với những phương pháp trước kia, như chúng tôi đã nói trên đây.

Sau này, trong đêm tối của tâm trí, vì một lý do khác, chính sự chiêm niệm sẽ trở thành một nguyên nhân đau khổ của linh hồn. Trong ánh sáng chói chang, linh hồn thấy rõ sự tương phản giữa những vẻ tuyệt hảo của Thiên Chúa và cái tôi xấu xa của nó. Rồi, nhờ nhìn đi nhìn lại vẻ đáng chê ghét của bản thân, linh hồn sẽ chán ghét mình và sẽ hoàn toàn dứt bỏ mình để hoà mình vào trong Thiên Chúa.

II. ĐIỂM THEN CHỐT LÀ NIỀM TÍN THÁC. KHÔNG GÌ CÓ THỂ LÀM NẢN CHÍ LINH HỒN : DẦU LÀ THỜI GIAN QÚA DÀI CỦA THỬ THÁCH.

–   DẦU LÀ NHỮNG LO RA VÀ KHÔNG HOẠT ĐỘNG TRONG CẦU NGUYỆN.

–   DẦU LÀ SỰ KHÔNG HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG.

–   NHỮNG SẦU KHỔ LÀ SẦU KHỔ CỦA LÒNG MẾN.

–   NHỮNG ĐẶC ĐIỂM ĐÁNG AN ỦI CỦA NHỮNG ĐÊM TỐI NÀY.

–   MỘT SO SÁNH CỦA THÁNH GIOAN THÁNH GIÁ.

–   HOÀI NIỆM CỦA NHỮNG GIỜ PHÚT AN ỦI.

–   CHÚA GIÊSU LẠI SỐNG LẠI CUỘC KHỔ NẠN CỦA NGÀI Ở TRONG TA.

Điểm then chốt là niềm tín thác : Không gì có thể làm nản chí linh hồn : dầu là thời gian thử thách quá dài. 

– Chúng tôi không tính đến việc muốn an ủi linh hồn trong đêm tối các giác quan đâu, càng không nghĩ đến việc giải thoát nó khỏi những đau khổ[8]. Thiên Chúa là nghệ sĩ nhẫn nại, Ngài mài dũa viên kim cương của Ngài cho tới khi các mặt của nó rực sáng, cho nên không ai có thể giải cứu linh hồn khỏi những đau khổ bổ ích đó. Nhưng chúng tôi chỉ có thể nói với những linh hồn rất đáng qúi mến và cũng rất đáng thương cảm đó rằng : “Hãy tín thác! Hãy luôn luôn tín thác, nhắm mắt tín thác nơi Chúa ! Ở đây cũng như ở mọi nơi mọi lúc, niềm tín thác đã không bao giờ và sẽ không bao giờ lừa dối ai”. “Lạy Chúa, con đã trông cậy nơi Ngài, con sẽ không hổ ngươi muôn đời”.

Nơi đáy linh hồn bị Chúa thử thách như thế, vẫn có như một tiếng nói thầm, bất chấp mọi sự có vẻ ngược lại : “Hãy tin tưởng và tín thác ! Mọi sự đều tốt lành. Đây có bàn tay Thiên Chúa ! Chính Ngài đang rèn luyện ngươi theo ý Ngài. Ngươi hãy vui lên ! Đây là một sự thử thách cần thiêt để dẫn đưa ngươi tới sự hiệp nhất”. Đúng thế, hỡi linh hồn yêu qúi của Chúa, bạn hãy tin vào tâm tình thầm kín sâu xa này. Vâng, mọi sự đều tốt lành. Tuy nhiên bạn đừng ước ao thấy điều đó tỏ tường, đừng suy luận liên miên để tự thuyết phục mình. Bạn hãy bước đi trong đức tin trần trụi và trong tin tưởng tín thác. Mọi sự đều tốt lành, nhưng bạn không thể thấy điều đó. Đúng vậy, bây giờ bạn không thể thấy điều đó, vì bây giờ là đêm tối. Khi ánh sáng ban ngày trở lại, bạn sẽ xem thấy và sẽ hiểu. Và bạn sẽ chúc tụng Chúa vì bạn đã nhất quyết tín thác.

Nhưng sẽ phải nghĩ sao, nếu sự thử thách này kéo dài ? Nếu xem ra nó kéo dài vô tận, thì phải chăng đó không phải là một thử thách, nhưng là một sự trừng phạt của Chúa ? Hoặc là, có thể đó là một sự thử thách, một ân sủng lúc đầu, nhưng rồi tôi đã đi lầm đường sau đó ? Có thể tôi đã làm hư tất cả do thiếu quảng đại và do không vâng theo ý Chúa ? Phải chăng tôi đã đánh mất những ơn trọng đại Chúa ban cho tôi ?

Nhiều khi chính các cha linh hướng cũng rối trí vì những sự thử thách kéo dài đó. Nó đã kéo dài nhiều năm quá ! Như vậy phần lớn cuộc đời đã diễn ra trong một thứ tình trạng bất hoạt động và uể oải thiêng liêng !

Không ! Không phải thế đâu ! Tình trạng uể oải không nên làm cho ta rối trí và nghi nan. Thánh Gioan Thánh Giá đã khẳng định : đêm tối các giác quan và đêm tối của tâm trí, cả hai loại đều có thể kéo dài nhiều năm, đôi khi rất nhiều năm, như ta thấy nơi nhiều vị thánh[9]. Và chúng ta đừng tưởng đó là những thời gian uổng phí đối với cuộc sống đời đời ! Thiên Chúa phán đoán khác hẳn. Ngài chỉ nhìn vào những biến chuyển đã thực hiện được nơi các linh hồn nhờ sự thanh tẩy thụ động này : chúng ta không thấy gì lắm về sự biến chuyển nơi đáy sâu thẳm của linh hồn, nhưng Chúa thấy rõ và Ngài rất hân hoan. Không, đó không phải là những thời gian uổng phí đâu, trái lại đó là thời gian vô cùng lợi ích và phong phú, mang lại nhiều kết qủa cho linh hồn với những hành vi yêu mến tinh ròng. Thiên Chúa dùng thời gian dài này để thanh tẩy linh hồn, chuẩn bị nó cho sự kết hiệp với Ngài.

Dầu là những lo ra và sự không hoạt động trong việc cầu nguyện. 

– Linh hồn chìm đắm trong đêm tối thường hay bị lo ra khi cầu nguyện, và đó là nguyên nhân thường sinh ra đau khổ cho nó. Nhưng chúng ta không có gì phải sợ, những sự lo ra này là điều rất tự nhiên. Khi ta chiêm niệm, chỉ có ý chí của ta kết hiệp với Thiên Chúa, và sự kết hiệp này chỉ chi phối rất ít và có khi không chi phối được trí nhớ, trí tuệ và trí tưởng tượng của ta, cho nên trong khi ý muốn của ta kết hiệp cách trìu mến với Chúa, thì trí năng của ta chạy sục sạo khắp nơi !

Thánh Phanxicô Salêsiô và thánh Têrêxa Avila đã mô tả đầy đủ sự khổ sở này của những linh hồn thần bí. Chính thánh nữ Têrêxa, vị thánh vĩ đại của chiêm niệm đã trải qua những đau khổ lớn lao. Trong nhiều năm dòng, thánh nữ không thể nguyện gẫm trong thời gian một kinh Lạy Cha mà không lo ra. Và thánh nữ đã để lại cho ta một bí quyết, không phải để thoát khỏi, vì không có cách nào thoát khỏi, nhưng để đừng bị thiệt hại vì những sự lo ra đó. Đó là “đừng bận tâm về những gõ gạc của trí tưởng tượng”. Hãy nhẹ nhàng bỏ qua đi, để mặc cho những lo ra qua đi ! Đó là những con ruồi quấy phá ta, hãy lấy tay gạt qua một bên, đừng dại đuổi theo chúng ! Thiên Chúa nhìn rõ đáy lòng ta, ý muốn của ta là kết hiệp với Ngài. Thế là đủ. Khi giờ của Chúa đến, Ngài sẽ dùng ánh sáng huy hoàng của Ngài để thu hút luôn các tài năng khác của linh hồn ta là trí tuệ và trí nhớ, để linh hồn ta trọn vẹn kết hiệp với Ngài.

Người ta sẽ vấn nạn rằng : Nhưng như thế các việc cầu nguyện của tôi đều vô ích, vì nó diễn ra một cách rất tệ. Tôi không thể để tâm suy ngắm những chân lý siêu nhiên. Tôi chán ngán nguyện gẫm. Tôi cảm thấy trống rỗng hoàn toàn, thật là khác xa với những giờ nguyện gẫm nồng nhiệt xưa kia ! – Chuyện này cũng không nên làm ta lo nghĩ, càng không nên làm ta lo sợ ! Đó là hậu qủa tất nhiên của hành động Thiên Chúa. Như đã nói trên đây, Thiên Chúa biến đổi cách cầu nguyện của bạn. Ngài dần dần loại bỏ hết hoạt động của bạn để thay vào đó hành động của Ngài, đó là một nhận thức thiên phú, một hình thức rất đơn sơ của chiêm niệm[10].  Bạn hãy an tâm. Những giờ cầu nguyện có vẻ rất trống rỗng đó lại thực sự đầy những hành vi trực tiếp của lòng yêu mến, những hành vi không phản tỉnh của lòng mến[11]. Bạn vẫn yêu mến Chúa luôn mà không nhận ra. Mỗi khi giờ cầu nguyện của bạn vẫn làm tươi nở trăm ngàn bông hoa trong tâm hồn bạn, mắt bạn không nhìn thấy, nhưng Chúa Giêsu thấy và Ngài rất vui lòng.

Dầu là sự không hoạt động của đời sống thiêng liêng. 

– Người ta còn vấn nạn thêm : Sự thiếu hoạt động mà tôi lo buồn trên đây xem ra bao trùm lên tất cả đời sống thiêng liêng của tôi. Nó làm tê liệt tất cả. Không những khó nguyện gẫm, tôi còn khó cầu nguyện bằng những lời cầu xin vắn tắt, những lời than thở, những tiếng lòng đầy lửa mến xưa kia. Tôi không có dịp thực hành đức khiêm nhường, đức nhẫn nhục, những sự hãm mình như xưa. Những cố gắng của tôi về một số vấn đề cũng có vẻ vô hiệu qủa. Tôi muốn sửa nết xấu này, tật xấu kia mà xem ra không thành công chút nào hết. – Chúng tôi cũng phải trả lời bạn như thế. Miễn là bạn làm hết sức mình, bạn đừng sợ sệt gì hết. Bạn hãy làm việc phải làm, hãy vâng theo ơn soi sáng và thúc đẩy của Chúa và đừng lo ngại gì về các hậu qủa, vì trong đêm tối bạn sẽ chẳng thấy gì. Cũng như việc cầu nguyện của bạn, các sinh hoạt hằng ngày của bạn cũng đầy những hành vi yêu mến, những hành vi nhẫn nhục và tín thác : chúng phát ra từ tâm hồn bạn, như những dòng nước tươi mát làm vui lòng Chúa. Còn như nếu những nỗ lực của bạn nhắm vào một số hướng đi đã không thành công, đó là vì Chúa muốn thể khác. Mà ta biết, hành động của Chúa thì luôn luôn phải thành tựu. Bạn không nhận ra đó thôi, Ngài đang làm cho bạn chán ghét sự hư vô của mình, tính tự ái xấu xa của mình. Dần dần và một cách bạn không nhận thấy, Ngài đang tiêu hủy tính tự mãn và tự ái của bạn. Hoạt động của bạn không đáng kể gì nữa, còn hoạt động của Chúa thì tuyệt diệu. Tính thụ động, luôn vâng theo hành động của Chúa, đó là hoạt động tốt nhất của bạn. Đó là hoạt động mà Chúa muốn thấy nơi bạn. Ngài muốn biến đổi sự hoạt động tự nhiên của bạn, biến nó thành thụ động hoàn toàn dưới sức tác động của ân sủng. Ngài làm cho bạn chết đi cho bản thân bạn, để Ngài sống và hoạt động trong bạn. Ôi ! Sự chết qúi trọng và đáng ước ao dường nào ! Vì nó biến thành sự sống thần linh…

Rồi khi sự buồn sầu trở nên nặng nề hơn, chiếc thuyền nan nhỏ bé của linh hồn bạn bị sống gió vùi dập, bạn hãy nhớ rằng Thiên Chúa không chờ gì khác nơi bạn ngoài một niềm tín thác đầy trìu mến. Đó là tất cả những gì bạn có thể làm, và đó cũng là tất cả những gì Chúa mong đợi nơi bạn. Vậy bạn đừng băn khoăn vô ích, lấy cớ là muốn lòng nhiệt thành. Điều Chúa mong đợi ở bạn lúc này là hãy đơn sơ nhìn nhận sự hư vô của mình, chúc tụng và cảm tạ Chúa đang yêu thương hướng dẫn bạn, và ngủ yên bên lòng Chúa, mặc cho sóng gió gầm thét. Chúa Giêsu ở trong thuyền với bạn. Như thế bạn còn sợ gì nữa ?

Những đau khổ của bạn là những đau khổ của lòng mến. – Đặc điểm đáng an ủi của những đêm tối này. 

– Một nguồn mạch sinh ra lo buồn cho linh hồn là nó không thể không cảm thấy như mình đang thụt lùi. Vì không hiểu tình trạng của mình và không hiểu hành động của Chúa, nó không thể không lo sợ vì những gì đang xảy ra nơi nó. Hoạt động sôi nổi của nó trong việc cầu nguyện trước kia, nay nhường chỗ cho một hoạt động âm thầm qúa giản dị, giống như một sự nhàn rỗi. Những tâm tình nồng nàn yêu mến Chúa trước đây nay chỉ còn là sự lạnh lùng. Nó không thấy ước ao hãm mình nhiều như xưa : tất cả những điều đó phải chăng là những dấu hiệu của sự nguội lạnh ? Rồi nếu cha linh hướng tìm cách trấn an nó, nó lại nghĩ rằng ngài không hiểu nó, và nó đã không biết cách trình bày mọi sự cho ngài. Nó cũng có thể nghĩ : ngài an ủi nó như thế, chỉ vì thương hại nó, chứ thật tình ngài nghĩ khác…

Ôi ! Linh hồn đáng thương ơi ! Bạn nên nhớ đây là đêm tối. Bạn hoàn toàn như một người mù. Bạn không thấy gì hết, cha linh hướng của bạn là đôi mắt của bạn, ngài nhìn thay cho bạn. Tình trạng của bạn không phải là sự nguội lạnh đâu. Lòng mến Chúa không chết, cũng không giảm đi trong bạn đâu : những lo âu, những buồn phiền của bạn, đó là dấu hiệu lòng mến Chúa của bạn. Tại sao bạn buồn? Tại sao bạn lo âu ? Đó chính là vì bạn mến yêu nhiều mà không biết. Đó là một điều chắc chắn, rõ ràng, để bạn an tâm. Bạn hãy tin như thế.

Biết bao lần bạn đã tự nhủ thầm mình : Ôi ! Nếu ít là tôi biết chắc mình vẫn đẹp lòng Chúa Giêsu, tất cả mọi đau khổ của đêm tối này sẽ không đáng kể đối với tôi. Sự lo sợ, những áy náy và đôi khi tôi hầu như thấy mình không còn được Chúa yêu thương nữa : đó chính là điều làm tôi đau khổ. – Bạn đâu có nói như thế, nếu bạn không yêu mến Chúa cách say mê mà không biết ? Bạn không có lòng mến Chúa ? Chắc chắn bạn không có lòng mến yêu cảm giác. Nhưng lòng mến yêu sâu xa của bạn đối với Chúa Giêsu làm Ngài rất vui sướng. Bạn nói không có lòng mến ? Đúng, bạn không có lòng mến yêu ngọt ngào, vui sướng. Nhưng bạn có một lòng mến yêu rất tốt lành, có thể là tốt hơn : đó là một lòng yêu mến đau khổ, thầm kín nhưng rất nồng nàn, nó làm cho bạn khát khao kết hiệp với Đấng lòng mình yêu mến. Có vui sướng vì mến yêu và cũng có đau khổ vì yêu mến. Bây giờ là lúc bạn đang uống no say đau khổ. Xưa kia bạn vui sướng vì mến yêu, nay bạn đau khổ vì yêu mến : đối với một linh hồn đã biết quên mình để chỉ yêu mến Chúa Giêsu cách tinh ròng, thì như thế không tốt hơn cho nó sao ?

Và bạn không ngờ rằng dần dần Chúa đã đặt vào tâm hồn bạn một tình mến yêu có tính qúi trọng : Ngài cho bạn thấy rõ sự xấu xa đáng chê ghét của bản thân mình, và sự thánh thiện vô cùng đáng qúi trọng và mến yêu của Chúa. Bình minh sẽ ló rạng : lòng qúi mến này sẽ khiến bạn sung sướng mến yêu Chúa tốt lành vô cùng[12] !

Không ai có thể hoàn toàn an ủi bạn, nhưng đây còn là một tư tưởng, nếu Chúa muốn, sẽ có thể khích lệ và nâng đỡ bạn vững lòng tín thác cho tới khi Chúa trở lại. Bạn tin chắc, hoặc bạn nghi ngờ rằng bạn đang đi lùi lại, thay vì tiến tới trên con đường trọn lành. Bạn tự trách mình như thế. Nhưng Chúa Giêsu có trách cứ bạn điều gì chăng ? Hay là bạn chỉ ý thức chung chung về sự bất xứng và bất trung của mình ? Bạn có thấy cần phải trách mình về một sai lỗi nào nhất định, một sai lỗi cố tình nào chăng ? Chắc là không. Bạn chỉ thấy sự xấu xa của mình nói chung và trăm ngàn những lỗi lầm sơ ý, do yếu đuối, chứ không cố tình… Bạn không thấy một lỗi phạm nào đáng kể…. Bạn nghĩ Chúa Giêsu có thể bỏ rơi bạn chỉ vì một sự bất trung vô ý sao ? Ngài rất ước ao lòng mến yêu của bạn và ước ao thấy bạn nên thánh, lẽ nào Ngài bỏ rơi bạn, đẩy bạn vào tình trạng kém cỏi chỉ vì mấy lỗi lầm do yếu đuối và sơ ý? Mà Ngài qúa biết chúng ta yếu đuối. Còn nếu như bạn sa ngã vào một lỗi lầm đáng kể, chắc Ngài đã khiển trách bạn cách rõ ràng… Chứ làm sao Ngài có thể lìa bỏ bạn mà không nói gì, không nói lời từ biệt, và rút đi khỏi bạn những hồng ân đặc biệt như thế ?

Chúa Giêsu không trách bạn điều gì đáng kể. Trái lại thì có. Vào những giờ tạm lắng dịu, tuy Ngài chưa trở lại, chưa ban cho bạn vẻ ấm áp của sự hiện diện của Ngài, nhưng bạn đã cảm thấy rằng Ngài không ở xa. Bạn cảm thấy như thế. Và phải chăng Ngài mời gọi bạn hãy sống bình an, hãy tín thác, chứ Ngài đâu có trách mắng bạn gì đâu ? Bạn hãy tin vào những giờ phút nửa sáng nửa tối đó, khi mà đêm có vẻ đỡ đen tối, và trong bóng đêm thấp thoáng có những luồng sáng chạy qua. Bạn hãy tin và hãy hướng tới những tâm tình tín thác tốt lành. Đó, chính tiếng nói của Chúa Giêsu đang thì thầm : “Con đừng sợ ! Cha đây mà” (Ga 6,20).

Nên nhớ kỹ điều này : tới một mức nào đó, đây là một đặc điểm của đêm tối các giác quan, và nhất là đêm tối của tâm trí : linh hồn ý thức sâu sắc về sự khốn nạn của mình và về sự bất xứng của mình, nhưng nó không có ý thức rõ ràng về một lỗi phạm vào nhất định, hoặc một sự thiếu quảng đại nào nghiêm trọng để đáng phải mất các ân sủng của Chúa. Bởi vậy nó không thấy Chúa Giêsu khiển trách nó về một điểm gì rõ ràng, cũng không thấy Ngài bảo nó đã mất ân sủng của Ngài vì tội này hay tội khác…

Tuy nhiên linh hồn vẫn cứ có cảm tưởng chung chung về sự bất xứng của mình, nhưng lại không thấy mình có mắc những sai lỗi nào nhất định. Nhất là trong đêm tối của tâm trí, linh hồn có cảm tưởng rõ ràng mình không còn đẹp lòng Chúa. Và đúng đây là chỗ ứng dụng câu nói của thánh Augustinô: “Lạy Chúa, Ngài đi tìm những kẻ chạy trốn Ngài và Ngài trốn những kẻ đi tìm Ngài”. Đó là điều linh hồn cảm thấy : Thiên Chúa không hài lòng vì nó. Ngài trốn bỏ nó. Nó không còn được Ngài yêu thương. Nó xấu xa qúa, làm sao đẹp lòng Ngài được ? Thiên Chúa không thương yêu nó nữa, và nó cũng không mến yêu Ngài nữa.

Cảm tưởng này phát sinh do những thay đổi lớn lao mà chúng ta đã ghi nhận nơi linh hồn : Chúa cất đi sự ngọt ngào của lòng mến yêu đặm mầu cảm giác, linh hồn thấy mình có vẻ không hoạt động gì hết, rồi nó lại thấy qúa rõ sự xấu xa của mình. Là một kẻ ăn xin, nghèo khổ và hèn hạ, làm sao nó dám nói chuyện yêu thương với Vua trời đất, làm sao dám mơ tưởng kết hiệp với Ngài ? – Đàng khác, trong đêm tối của tâm trí, Thiên Chúa còn dùng hành động của Ngài để tăng cường nỗi sợ hãi và những lo sợ của linh hồn. Ngài có ý làm cho linh hồn nghĩ rằng nó đã làm mất lòng Ngài. Ngài ẩn mình đi để khiến nó khát khao yêu mến Ngài, vì Ngài biết chắc rằng linh hồn sẽ đau khổ và khát khao Ngài. Nó sẽ kêu cầu Ngài trong tuyệt vọng, và những tâm tình đó của nó sẽ làm cho Chúa vô cùng vui sướng.

Một sự so sánh của thánh Gioan Thánh Giá. Nhớ lại những giờ phút an ủi xưa. 

– Tới lúc này, chúng ta chưa nói gì về những thử thách khác mà Chúa thường gửi đến cho các linh hồn vào thời gian những đêm tối, để gia tăng công việc thanh tẩy nó. Trong khi linh hồn đang phải chịu những buồn sầu và những lo sợ nội tâm, Chúa còn để cho nó gặp phải những chống đối, những bách hại, những phản bội của bạn bè, những hiểu lầm của các Bề Trên, và nhiều khi cả những cơn bệnh kéo dài liệt giường và đau đớn. Rồi từng lúc, nó còn bị quấy phá bởi những cơn cám dỗ nặng nề… Như vậy, ta thấy linh hồn cần phải có niềm tín thác vững vàng dường nào trong những ngày tháng đó. Và các cha linh hướng cần phải lo nâng đỡ các linh hồn đó dường nào ! Các linh hồn hãy nhớ mục đích của những đau khổ này, và hãy nghĩ đến sự kết hiệp với Thiên Chúa là phần thưởng của những cuộc chiến đấu đó. Nhớ đến Thiên Chúa vô cùng đáng mến, và nghĩ đến sự kết hiệp với Ngài, sẽ giúp họ can đảm chịu đựng mọi đau khổ để được thanh tẩy hết mọi vết nhơ, hết mọi điều bất toàn, để sau cùng được kết hiệp với Chúa.

Không ai nói hay hơn về các đêm tối giác quan và đêm tối tâm trí bằng thánh Gioan Thánh Giá[13].  Trong tác phẩm thời danh của Ngài, thánh tiến sĩ thần bí vĩ đại đã đưa ra một sự so sánh mà ngài triển khai rất đầy đủ để giúp các linh hồn biết chịu đựng và yêu mến những sự thanh tẩy rất đau đớn này, mà mục đích của Chúa là hủy diệt tất cả những gì có thể là trở ngại cho việc kết hiệp hoàn toàn của linh hồn với Ngài. Trong đêm tối các giác quan và trong đêm tối của tâm trí, lửa của đức ái thần linh và của ơn chiêm niệm thiên phú sẽ tác động lên linh hồn, để biến đổi nó thành giống hệt như Ngài, cũng như lửa vật chất tác động trên thanh củi để biến nó thành lửa. Lửa bắt đầu làm cho thanh củi còn ướt kia khô đi dần dần, khiến nhựa sống của nó chảy nước mắt ra. Sau đó, lửa làm cho nó trở nên đen như than, làm cho nó trở nên bẩn thỉu, xông ra mùi hôi, và như vậy làm lộ ra tất cả những gì là dơ bẩn có khả năng cản trở hành động của lửa. Sau cùng lửa đốt nó cháy thành lửa, sáng láng và nóng như chính bản thân lửa.

Như vậy, trước khi thực hiện sự hiệp nhất của linh hồn với Thiên Chúa, lửa mến của ơn chiêm niệm trìu mến phải thanh tẩy linh hồn sạch hết mọi thứ dơ bẩn của nó. Lửa sẽ làm lộ ra tất cả những sự xấu sa còn tiềm ẩn của nó, khiến nó trở nên tối tăm, và xem ra như nó xấu xa và bất toàn hơn trước kia. Linh hồn đáng thương hại sẽ lo sợ và than thở cách đau khổ. Lẽ ra nó phải thầm vui mừng vì nghĩ rằng cũng ngọn lửa của sự chiêm niệm trìu mến này, bây giờ có vẻ độc ác, làm cho nó đau đớn vì phải thanh tẩy khỏi những dơ bẩn của nó, thì một khi nó đã được thanh tẩy đủ rồi, lửa chiêm niệm này sẽ thiêu đốt nó trong tình yêu ngọt ngào, khiến nó quên đi tất cả những khổ cực đã qua. Nó sẽ vui sướng vì những đau khổ bổ ích và tốt lành đó, những đau khổ đã biến thành những ngọn lửa của tình yêu Thiên Chúa.

Sự nhớ lại những hồng ân mình đã nhận được xưa kia cũng có thể là một an ủi tốt lành, nếu ta biết sử dụng tốt. Tôi nhớ lại những năm tháng được Chúa Giêsu và Mẹ Maria ban cho dư đầy những ơn phúc, những âu yếm và ủi an trong yêu thương. Trong đêm tối tăm của tâm hồn, những hoài niệm này giống như những tia chớp loé lên trong đêm tối giúp ta nhìn thấy những thực tại mầu nhiệm của tình yêu Thiên Chúa. Sau khi những ánh chớp qua đi, trời lại tối đen như trước, nhưng những gì ta vừa nhìn thấy vẫn tồn tại đó. Chúa Giêsu và Mẹ Maria vẫn ở đó. Tình thương của Chúa và sự âu yếm của Mẹ Maria đối với chúng ta muôn đời vững bền như trời đất. Tình thương đó, tuy tôi không cảm thấy lúc này, vì Chúa muốn như thế, nhưng tôi biết “Lòng thương xót của Chúa từ muôn thủa đến muôn đời” (Tv 102,17).

Tôi tin rằng Chúa vẫn thương yêu tôi cách dịu dàng và âu yếm như xưa, như khi Ngài ban phát vô vàn sự ngọt ngào và an ủi. Ôi ! Thật là tốt lành khi nghĩ lại những năm tháng đó : những tia chớp lóe lên kia đã giúp tôi hiểu phần nào những chân lý siêu cảm giác ! Như vậy, chúng ta sẽ được an ủi, và niềm tín thác sẽ thêm vững vàng khi ta thấy rằng cả trong đêm tối tăm và đau khổ, khi ta cảm thấy như mọi sự đã thay đổi, nhưng thật sự tất cả mọi sự vẫn như xưa.

Đúng thế, mọi sự vẫn tốt lành, không có gì đổ vỡ hết. Tình mến yêu của tôi đối với Chúa vẫn nguyên vẹn. Tôi tưởng mình không mến yêu Chúa nữa ! Xưa kia, lửa mến yêu của đức ái thần linh soi sáng linh hồn tôi, khiến nó như bị thiêu đốt bởi lòng yêu mến : khi đó Chúa muốn cho tôi thấu hiểu và như sờ thấy, như chạm tay vào những nhân đức siêu nhiên mà sự thường người ta không thể cảm nghiệm. Nhưng rồi đêm tối đã đến. Tôi không còn thấy gì nữa, nhưng tất cả những nhân đức siêu nhiên kia vẫn hiện hữu, vẫn hoạt động và rung động trong tôi một cách tàng ẩn và siêu cảm giác.

Tư tưởng này phải được coi là rất tốt lành. Nó mang lại an vui cho tâm hồn tôi và giúp tôi thêm tín thác vững vàng nơi Chúa.

Chúa Giêsu lại đang trải qua cuộc khổ nạn của Ngài ở trong ta. 

– Sự nhớ lại đêm tối các giác quan, một đêm tối kéo dài với bao nhiêu thử thách, nhưng cũng với muôn vàn hồng ân lớn lao của Chúa, sẽ có thể là một nâng đỡ cho linh hồn chìm sâu trong đêm tối ghê sợ của tâm trí. Bởi vì có những nét giống nhau giữa hai loại đêm tối này. – Đúng thế, hỡi linh hồn đáng thương, bạn hãy nhớ lại những thử thách hồi đầu. Hồi đó cũng như bây giờ bạn lo sợ và nghi nan tất cả, nhưng niềm tín thác vững vàng đã giúp bạn đứng vững cho đến khi trời lại sáng. Bạn hãy nhớ lại những ân sủng đã theo sau đêm tối : bạn đã thấy lại sự hiện diện đầy yêu thương của Chúa Giêsu, Chúa âu yếm bạn hơn trước kia. Còn bây giờ cũng là đêm tối, và là đêm tối đau khổ hơn : mọi sự đều phải chết đi trong bạn để Chúa sống cách tròn đầy ở trong bạn. Nhưng cũng như xưa, rạng đông sẽ bừng lên, khi Chúa đã hoàn tất việc thanh tẩy bạn. Bạn hãy vững lòng tin tưởng và tín thác ! Chúa đã dắt đưa bạn qua con đường dài, gần tới nơi rồi, Ngài không thể bỏ rơi bạn đâu.

Rồi, trong đêm tối của tâm trí, bạn hãy nhớ rằng bạn đã từ lâu tận hiến cho Chúa, để Ngài sử dụng con người của bạn theo sở thích của Ngài, để Ngài yêu mến Cha Ngài ở trong bạn. Bạn đã hiến toàn thân cho Ngài, để Ngài hoàn toàn sống trong bạn, thế vào chỗ con người xấu xa của bạn. Bạn đã từ bỏ hưởng dụng cuộc đời của bạn, để Ngài sử dụng theo ý Ngài. Vậy bạn đừng ngạc nhiên vì phải chịu đau khổ nhiều như thế. Chúa Giêsu sống ở trong bạn thấy cần phải chịu đau khổ thêm nữa ở trong bạn và nhờ bạn. Đúng thế, Chúa Giêsu muốn chịu đau khổ ở trong bạn và nhờ bạn. Bạn phải để Ngài hoàn thành những đau khổ còn thiếu cho cuộc khổ nạn của Ngài. Như thánh Phaolô đã nói : bạn phải hoàn tất những gì còn thiếu cho cuộc khổ nạn của Chúa Kitô. Ngài muốn tái diễn cuộc khổ nạn của Ngài ở trong bạn : Ngài muốn lại sống những giờ phút hấp hối vô cùng đau đớn trong vườn cây Dầu, Ngài muốn sống những lo buồn và sợ hãi đó ở trong bạn. Và trong giờ phút vô cùng đau khổ và tối tăm, Ngài sẽ kêu lên ở trong bạn : “Lạy Chúa Trời, ôi lạy Thiên Chúa của con, sao Chúa bỏ rơi con ?” (Mt 27,46).

Vậy bạn hãy luôn can đảm, hãy đứng vững trong niềm tín thác trọn vẹn của bạn. Bạn sẽ chết như Chúa Giêsu trên thập giá, trong một cơn hấp hối cùng cực. Nhưng Chúa Giêsu sẽ sống lại ở trong bạn. Bình minh của ngày hiển vinh sẽ bừng lên, Chúa Giêsu sẽ chia sẻ với bạn những niềm vui khôn tả của bản tính nhân loại được tôn vinh của Ngài. Ngay ở đời này linh hồn bạn sẽ tràn ngập ánh sáng và những niềm vui cao cả của thần tính của Ngài.

 

 Paul De Jaegher S.J.

[1] Trong thực tế, sự đa dạng của các trường hợp lớn lao đến độ những nhà chú giải và những đồ đệ của thánh Gioan Thánh Giá đã chấp nhận rằng : Đêm tối của các giác quan có thể cùng tồn tại với Đêm tối của tâm trí. – Về cường độ của những thử thách thần bí này, nó cũng có thể khác nhau lắm. Nơi một số linh hồn, Đêm tối các giác quan xem ra đã không ghê sợ như thánh Gioan Thánh Giá mô tả. Người ta nghĩ rằng thánh nhân đã mô tả trường hợp của bản thân Ngài, và đó là một trường hợp rất nặng nề.

   Vì tính đa dạng của những thử thách như thế, cho nên chính thánh Gioan Thánh Giá đã cảnh báo trước rằng có thể có những linh hồn bị thử thách trong những đêm tối đó mà không gặp những điều ngài đã mô tả trong cuốn sách thời danh của Ngài là cuốn “Đêm tối tăm”.

   Đàng khác nên ghi nhớ rằng : nhất là nơi những linh hồn tông đồ, những thử thách bên ngoài của những đêm tối tăm đó (xem các trang 292 – 293) thường mạnh mẽ hơn và nhân đó sẽ bù cho sự thử thách nội tâm ít đau đớn hơn và ít thanh tẩy hơn.

[2] x. Đêm tối, cuốn II, ch.I

[3] x. Đêm tối, cuối II, ch.20

[4] x. Đêm tối, cuốn II, § 3

[5] Xem Angèle de Foligno, Livre des visions (cuốn cách ghi các thị kiến), bản dịch của E.Hello, ch XXXIII.

[6]     x. Đêm tối, cuốn II, § 2

[7] Thánh Gioan Thánh Giá nhấn mạnh, và ngài nhắc đi nhắc lại rằng đêm tối các giác quan và nhất là đêm tối của tâm trí đều tuyệt đối cần thiết cho việc thanh tẩy trọn vẹn, đòi phải có cho việc kết hiệp. Phải có thế mới hoàn toàn thanh tẩy đáy linh hồn ta.

[8] Cũng cần phải nhớ rằng linh hồn không thể một mình quyết đoán mình có thật sự ở trong đêm tối các giác quan và cả trong đêm tối của tâm trí chăng. Họ phải hỏi ý cha linh hướng. Vậy chỉ sau khi bàn hỏi với cha linh hướng và biết mình ở trong hai thứ đêm tối này, họ mới được áp dụng cho mình những điều của chương này.

[9] Thánh nữ Têrêxa thành Avila đã chịu những thử thách thanh tẩy đó mười tám năm. Thánh nữ Mađalêna thành Pazzi đã qua năm năm, rồi thêm mười sáu năm. Chân phước Suso chịu mười năm, và thánh nữ Angela thành Fôlignô chịu hai năm đêm tối của tâm trí. Những thử thách này có khi liên tục, có khi cách quãng.

[10] Thật ra Thiên Chúa không làm giảm sức hoạt động của tâm trí ta, nhưng Ngài giúp nó bỏ cách nhận thức tự nhiên của nó, và với hai ơn khôn ngoan và hiểu biết, Ngài cho nó có khả năng nhận thức siêu việt, không dùng quan niệm và hình ảnh nữa. Hoạt động của tâm trí không bị suy giảm, nhưng đã được đổi mới, được thần linh hóa. Linh hồn không trực tiếp nhận ra cách nhận thức mới này, nhưng nó nhận ra cách gián tiếp khi thấy mình mất đi cách nhận thức tự nhiên xưa.

[11] Xem chương : Tín thác trong buồn sầu, I, § III.

[12] Chính lòng mến yêu qúi trọng này khiến linh hồn, dầu chìm đắm trong đêm tối của tâm trí cũng không bao giờ coi những ước ao của mình trọng hơn những ước ao của Chúa Giêsu. Như vậy đâu có phải tại linh hồn nguội lạnh ? Xem Đêm tối tăm ch. XIII.

[13] Xem Đêm tối tăm (cuốn II, ch X).

Niềm Tín Thác – Chương XVI: TÍN THÁC TRONG BUỒN SẦU CHÁN NẢN

I.  TẦM QUAN TRỌNG CỦA NHỮNG CƠN BUỒN RẦU.

–   NHỮNG NHÂN ĐỨC MÀ CHÚNG LÀM TƯƠI NỞ.

–   NIỀM VUI CỦA LÒNG MẾN KHÔNG LUÔN CẢM THẤY: NHỮNG HÀNH VI “TRỰC TIẾP” CỦA LINH HỒN THÌ VÔ CÙNG QÚI GIÁ.

–   TỪ BỎ NIỀM VUI ĐƯỢC CẢM THẤY HOẠT ĐỘNG CỦA MÌNH.

Tầm quan trọng của những cơn buồn sầu.

– Đối với chúng ta, xấu hay tốt, thánh thiện hay tội lỗi, trái đất mà chúng ta ở một ít năm này, là một chốn lưu đầy, một thung lũng đầy nước mắt. Chúng ta gặp những đau khổ từng bước trên đường đời, dưới mọi hình thức. Nhưng có một thứ đau khổ dành riêng cho những linh hồn nội tâm, những người bạn của Chúa Giêsu. Đó là những lúc khô khan, những lúc chán nản mà chúng ta gọi bằng một tên chung là “những buồn sầu”. Chúng phát sinh do sự có vẻ vắng mặt của Chúa. Chỉ những người đã được hưởng những an ủi của Chúa mới hiểu thấu thế nào là buồn sầu thiêng liêng. Chỉ những tâm hồn đã cảm nghiệm sự ngọt ngào khôn tả của sự hiện diện của Chúa, mới hiểu được nỗi buồn sầu khi cảm thấy thiếu vắng Ngài. Tất cả chúng ta đều đã trải qua những thử thách thiêng liêng này, và đã khát khao mong chờ lúc Chúa trở lại.

Linh hồn vừa mới bước qua ngưỡng cửa của cuộc sống nội tâm, vừa mới cảm nghiệm ít lâu những sự an ủi ngọt ngào, và vừa mới tập dứt mình ra khỏi những sự vật thế gian, thì Chúa đã ẩn mình đi từng lúc. Ngài bắt linh hồn phải nếm vị thuốc cay đắng của sự buồn sầu chán nản, để linh hồn tự dứt ra khỏi bản thân mình và dứt bỏ những sự vui sướng thiêng liêng. Và chỉ mãi sau này, vào giai đoạn cuối cùng, khi linh hồn đã trải qua mây mù và giông tố để đạt tới đỉnh cao của sự thánh thiện, nghĩa là khi linh hồn đạt tới sự kết hợp trọn vẹn với Chúa, khi đó nó mới được hưởng niềm vui của một khung trời hoàn toàn trong sáng, không một đám mây mù.

Như vậy những buồn sầu chán nản chiếm một địa vị quan trọng trong đời sống thiêng liêng của ta, và chúng ta cần phải có những nhận định và những tâm tình đích đáng, để vâng theo thánh ý Chúa và bước đi theo sự hướng dẫn của Ngài.

Nhưng đáng buồn thay ! Chính trong những khi bị buồn sầu chán nản, niềm tín thác của ta thường bị suy sụp. Đúng thế, với những cơn thử thách khác, chúng ta còn có thể chịu đựng. Khi chúng ta được an ủi, chúng ta vẫn có thể vui chịu những đau khổ, vẫn sẵn lòng chấp nhận những thánh giá để làm vui lòng Chúa. Đúng như lời sách Gương Phúc : “Khi được ân sủng Chúa nâng niu, người ta phóng ngựa đi cách ngọt ngào”. Nhưng khi đức tin và đức mến xem như đã biến mất khỏi linh hồn ta, khi ta cảm thấy mình cô đơn trong tâm trạng buồn sầu và trầm cảm : khi đó thế giới trở nên lạnh lùng và tối tăm. Trong cảnh nhá nhem tối đó, mọi vật đều có bộ mặt ma quái và thù địch. Trái tim ta se lại và ta bị cám dỗ nghĩ rằng Chúa Giêsu đã bỏ rơi ta, hoặc ít ra tình thương của Ngài đối với ta đã giảm nhiều, đã trở nên lạnh nhạt.

Những cơn buồn sầu sẽ làm tươi nở các nhân đức.

– Thật ra, nếu ta biết sử dụng những cơn buồn sầu chán nản, chúng ta sẽ tiến mau lẹ trên đường trọn lành. Chúng ta sẽ được lợi ích nhờ những ân sủng qúi giá mà chúng mang lại cho ta. Có thể nói rằng, đối với những linh hồn quảng đại, những sự khô khan và những cơn buồn sầu là những mảnh vườn ươm cây nhân đức. Đó là nơi Thiên Chúa vun trồng các nhân đức khiêm nhường, tín thác, yêu mến thánh giá, chê ghét bản thân và yêu mến Chúa hết lòng.

Nếu không có sự luân phiên những lúc được an ủi và những lúc bị buồn sầu, sẽ không bao giờ ta thực sự có kinh nghiệm về sự bất lực căn bản của ta, và sự yếu đuối ghê sợ của ta. Một linh hồn phải cảm nghiệm trăm ngàn lần sự yếu đuối của mình, sự khốn khổ của mình, sự thiếu quảng đại của mình, rồi nó mới có một ý tưởng xác đáng về thân phận tội lỗi và yếu hèn của nó, và nó lệ thuộc vào ơn Chúa biết bao. Khi nó đã có kinh nghiệm về những giờ phút suy niệm nồng nàn yêu mến Chúa và như được nâng bổng lên bởi tâm tình mến yêu Chúa, rồi chỉ vài giờ sau đó, nó lại thấy mình quạu cọ, sợ đau khổ, chán nản…, thì nó sẽ có kinh nghiệm và thấy rõ sự yếu hèn của mình, hơn là nhờ những giờ phút suy niệm sâu xa…

Rồi phải nói gì về sự tương phản mà những linh hồn được ơn chiêm niệm cảm thấy trong một ngày ? Ban sáng là bình minh tươi sáng của ơn nguyện gẫm kết hiệp thắm thiết, linh hồn rạng ngời những ơn soi sáng, và khấp khởi vui mừng vì cảm thấy Chúa Giêsu hiện diện với những yêu thương tràn trề. Nhưng đến chiều, linh hồn có cảm tưởng như Chúa Giêsu đã bỏ ra đi. Sự hiện diện âu yếm và nồng thắm của Chúa đã nhường chỗ cho một sự trống vắng đau thương. Linh hồn có cảm tưởng như mình đã không yêu mến Chúa, và Chúa Giêsu cũng không thương yêu nó. – Nhưng điều này chẳng thấm vào đâu, nếu so với những sự buồn sầu ghê sợ, kéo dài nhiều năm, và đó là ngưỡng cửa mà các linh hồn Chúa kén chọn phải bước qua để đi vào cuộc sống thần bí. Các thánh gọi đó là “đêm tối của các giác quan”. Nhưng thử thách ghê sợ này vẫn chưa là gì so với những thử thách lâu dài mà Chúa dùng để thanh tẩy các linh hồn thần bí, trước khi dẫn đưa họ tới đỉnh cao của sự thánh thiện : những thử thách này có tên là “đêm tối của tâm trí”. Khi đó các linh hồn ở trong tình trạng của thánh Gióp, chìm ngập trong mật đắng của những đau khổ. Thật là như sống trong luyện ngục ở đời này.

Tất cả mọi thử thách này, buồn sầu đau khổ một giờ hay là chịu đau khổ chán nản nhiều năm, đều là việc làm của Thiên Chúa. Đó là phương tiện Chúa dùng để thực hiện nơi các linh hồn những điều mà ta không thể đạt được nhờ việc cầu nguyện, suy gẫm hoặc quyết chí. Chính Thiên Chúa làm công việc thanh tẩy này, để giúp ta có được đức khiêm nhường đích thực và sâu thẳm, giúp ta triệt để hết tin tưởng vào mình, hết muốn tự kiêu coi các hồng ân của Chúa là tài đức của mình. Nếu chúng ta thật lòng muốn sống khiêm nhường, chúng ta hãy qúi mến đón chào những cơn buồn sầu chán nản này, coi đó là chất bón rất tốt cho cây nhân đức khiêm nhường tăng trưởng tươi tốt.

Đức khiêm nhường là chị của nhân đức tín thác. Bởi vậy ta thường thấy đức tín thác tăng trưởng mau lẹ giữa những cơn khô khan và buồn sầu, nơi những linh hồn quảng đại. Còn nơi những linh hồn tầm thường, khi gặp buồn sầu chán nản, họ mất luôn chút ít tín thác mà họ đang có, vì lẽ đó, Thiên Chúa ít khi để cho họ phải buồn sầu chán nản. Trái lại, đối với những linh hồn quảng đại yêu mến Chúa, muốn chịu đau khổ để tỏ lòng mến yêu và tín thác, những buồn sầu lại được coi là những hồng ân, bởi vì chúng là cơ hội để họ chứng tỏ niềm tín thác nơi Chúa, khi mà mọi sự muốn làm cho họ mất tin tưởng.

Bản tính con người dễ nản, buồn sầu và ưa thích những niềm vui bên ngoài. Chúa Giêsu thì có vẻ như không tha thiết gì với ta nữa. Những khi đó, ta phải kêu lên với Chúa Giêsu rằng : “Ôi Chúa Giêsu, con yêu mến ! Con biết Chúa vẫn thương yêu con và thương yêu con mãi. Con tin vào tình thương của Chúa. Con tín thác nơi Chúa, dầu con hèn mọn và khốn khổ. Chúa muốn thử xem con tín thác đến đâu : vậy con xin thưa : “Lạy Chúa Giêsu, với ân sủng của Chúa giúp sức, con sẽ đi tới cùng. Con sẽ tin tưởng cho tới khi Chúa trở lại”. – Ôi, những tâm tình như thế của những linh hồn tận hiến, khi bị buồn rầu, sẽ an ủi Thánh Tâm Chúa Giêsu biết bao ! Đó là những bông hoa tím xinh tươi và thơm ngát, làm cho Chúa vui, bù lại sự thiếu tin tưởng của những linh hồn kém nhiệt thành.

Từ tâm tình tín thác đến sống tín thác chỉ có một bước. Thật không gì qúi báu bằng những thử thách thiêng liêng để tập cho ta biết sống trọn vẹn tín thác trong tay Chúa. Khi ta được an ủi, mọi sự có vẻ tiến bộ tốt đẹp. Chúng ta có cảm tưởng mình đang tiến bước trên đường trọn lành : mặt trời chiếu sáng, đường đi thì phẳng phiu và sáng sủa. Nhưng này ! Chúng ta bước vào con đường rừng. Không thấy lối đi nữa ! Cây cối um tùm che khuất hết. Thật là một thứ mê cung ! Và thế là ta rối trí, chán nản, buồn rầu. Chúng ta bị mất định hướng. Có cảm tưởng như dẫm chân tại chỗ. Chúng ta vẫn cứ muốn tự hướng dẫn mình. Nhưng đây là thời giờ của Chúa. Những linh hồn tận hiến phải biết đây là lúc phải trọn vẹn tín thác nơi Chúa, như những người mù hoàn toàn tín thác trong tay Đấng hướng dẫn thần linh : Ngài đã dẫn đưa họ vào rừng rậm, Ngài thừa biết cách dẫn dắt họ đi qua rừng để tiến lên.

Niềm vui ngọt ngào của những linh hồn sống tín thác : họ ước ao quên mình đi, và vì tin tưởng và yêu mến, họ sung sướng như người mù đưa tay cho Thầy Chí Thánh dẫn dắt tới sự kết hiệp. Để có thể trọn vẹn quên mình, họ không muốn biết gì về con đường họ đang đi, đã đi được bao nhiêu chặng, và còn bao nhiêu chặng trước mặt. Hiện nay họ đang ở đâu trên con đường nên thánh, đó là điều họ phải quyết tâm không được thắc mắc, không được tìm hiểu, để sống tín thác trọn vẹn. Nếu muốn vén màn của mầu nhiệm này, họ sẽ đánh mất niềm vui sâu xa họ có được, khi quên mình đi, để Chúa lo liệu.

Thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu, vị thánh gương mẫu của lối sống tín thác, thường nói rằng : “Tôi là đồ chơi, là trái banh nhỏ của Hài đồng Giêsu. Chúa muốn làm gì thì làm với trái banh nhỏ này. Ngài chơi với trái banh, hoặc thích lấy kim băng chọc lủng rồi liệng nó vào một góc nhà, thì trái banh nhỏ vẫn sung sướng, vì Chúa thích làm như vậy”. Thánh nữ còn ưa thích những lúc bị buồn rầu, bởi vì, hơn những khi được an ủi, đó là lúc chị thánh có được niềm vui sâu xa làm Chúa vui, dầu đây là niềm vui không cảm thấy. Không cảm thấy, nhưng chị thánh tin chắc Chúa vui và thương chị, vì chị đã chịu đau khổ, chịu mất vui để làm cho Chúa vui.

Để hoàn tất bó hoa những bông hoa tươi đẹp mà chúng ta đã hái được trên mảnh đất đầy gai góc của những đau khổ, chúng ta phải nói về đức ái là nữ hoàng các loài hoa, nữ hoàng các nhân đức. Đức ái cũng thường mọc lên và nở ra rất lớn và rất đẹp nơi có nhiều gai góc. Đó là hoa hồng, mà ta biết “không thể có bông hồng mà không có gai”. Có nhiều loại bông hồng, và thứ đẹp nhất là lòng mến đau khổ.

Không thể có lòng mến Chúa đích thực, nếu không biết yêu mến đau khổ. Điều này chúng ta đều biết và đều có kinh nghiệm. Nhưng có đau khổ nào lớn hơn và qúi trọng hơn đau khổ dứt chúng ta ra khỏi sự sung sướng vì cảm thấy mình được Chúa an ủi, được Chúa yêu thương ? Chúng ta có những đau khổ khác, khi mất tiền của, mất danh vọng, mất tình thương của những người thân, mất sức khoẻ. Còn những buồn sầu và những chán nản thiêng liêng, là vì chúng ta bị mất đi những của thiêng liêng vô cùng qúi trọng. Thật là đau khổ khi ta phải từ bỏ của cải, từ bỏ cha mẹ và bạn hữu, và từ bỏ mình vì Chúa. Nay ta lại “mất” Chúa thì còn gì đau đớn bằng. Sự buồn sầu thiêng liêng, sự mất những an ủi thiêng liêng không còn là cảnh lưu đày xa vắng cha mẹ, xa vắng quê hương, nhưng là xa vắng Thiên Chúa ! Những buồn sầu thiêng liêng, sự mất mọi an ủi thiêng liêng cho ta có cảm giác là ta sống xa Chúa, không còn có sự hiện diện đầy yêu thương của Ngài. Đó là cảnh lưu đày, lưu đày thiêng liêng. Nếu tình trạng lưu đày này kéo dài, nó sẽ thật sự là một cuộc tử đạo.

Vậy chúng ta hãy yêu mến những cơn thử thách này vì đó là những cơ hội để ta tỏ lòng mến yêu Chúa Giêsu và chịu đau khổ vì Ngài. Nếu chúng ta không có thể thực hành những việc hãm mình lớn lao, chúng ta vẫn có thể chịu những cơn buồn sầu thiêng liêng một cách quảng đại, và như thế để chứng tỏ lòng mến nồng nàn và tinh ròng của chúng ta. Điều này còn tốt cho việc nên thánh của ta hơn là nhiều thử thách khác.

Vẫn còn một loài hoa nữa của đức mến, rất được qúi chuộng : nó có tên là yêu mến sự bé nhỏ và sự nghèo khó của mình. Những linh hồn đã tiến xa trong tình yêu mến tinh ròng biết rõ loài hoa này, một loài hoa mà nhiều người không biết đến. Khi các linh hồn này thấy mình yếu đuối, bất lực, thiếu quảng đại, xấu xa, họ cảm thấy một thứ vui thú vì sự khốn khổ của mình. Họ cảm thấy vui vì những sự khốn nạn, cả vì những lỗi lầm của họ. Họ không những cam chịu mà còn vui mừng thấy mình là hư vô và xấu xa tội lỗi. Tại sao thế ? Bởi vì lòng mến Chúa tinh ròng đòi hỏi phải có sự chê ghét bản thân mình. Cái mặt tiêu cực của lòng mến tinh ròng chính là sự chê ghét bản thân mình. Bởi vậy hạnh phúc thánh thiện gồm hai yếu tố : một là vui sướng ngắm nhìn và yêu mến những vẻ tuyệt hảo của Thiên Chúa và của Chúa Giêsu, coi đó như là những nét tuyệt hảo của mình, – hai là niềm vui được gớm ghét những sự xấu xa của cái tôi, coi đó là những sự khốn nạn do kẻ thù để lại trong linh hồn ta.

Linh hồn yêu mến sẽ sung sướng vì niềm vui kép này. Nó vui sướng vì thấy mình xấu xa, tự bản thân nó rất bất toàn và tồi tệ, cái tôi mà xưa kia nó yêu chiều và qúi mến thì nay nó thấy rõ là đáng ghét. Và sự xấu xa của cái tôi càng nêu cao những vẻ đẹp vô cùng của Thiên Chúa. Nay chúng ta liệng thật xa cái tôi xấu xa đó, như một chiếc áo đầy chấy rận và hôi hám mà xưa kia chúng ta đã yêu chiều, và chúng ta đặt tất cả niềm vui và lòng mến yêu nơi vẻ đáng yêu vô cùng của Thiên Chúa mà chúng ta coi như cái tôi mới của mình. Bởi vậy chúng ta vui mừng khi thấy kẻ thù xưa kia bị vạch mặt và bị chê ghét. Lòng mến yêu Chúa khiến chúng ta vui mừng sung sướng vì kẻ thù chung của Chúa và của ta đã hiện nguyên hình trong sự xấu xa của nó, nó đã bị vạch mặt, và chúng ta không còn sợ bị dụ dỗ và lừa dối bởi những vẻ hấp dẫn dối trá của nó nữa.

Yêu mến sự yếu đuối và bé nhỏ của mình để càng gia tăng sự yêu mến Chúa vô cùng tốt đẹp là niềm vui mà chỉ một số linh hồn đã cảm nhận. Đó là những linh hồn bé nhỏ và khiêm nhường. “Cha đã mặc khải những điều đó cho những kẻ bé mọn”. Đó là một sự qúi mến và một niềm vui rất ít linh hồn biết cảm nhận. Qúi mến và vui vì sự xấu xa của mình ! Thường các linh hồn chỉ cảm thấy buồn và chán nản vì sự xấu xa của mình ! Thánh Phanxicô Salêsiô thích nói về niềm vui mầu nhiệm ta cảm thấy, khi nhận biết mình đáng chê ghét. Còn thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu đã viết những lời rất tốt lành về vấn đề này. Chị thánh thường nói : “Tôi đã có những sự yếu đuối, nhưng tôi vui mừng vì những chuyện đó. Cảm thấy mình yếu đuối và bé nhỏ là điều thật ngọt ngào.”

Đó là lòng mến yêu rất tinh ròng mà những buồn sầu  thiêng liêng cho ta có cơ hội thực tập. Nếu nó chỉ sinh ra có bông hoa này, bông hoa của lòng mến và của đức khiêm nhường, thì cũng đủ cho ta qúi mến những cơn mất an ủi đó. Bông hoa này rất đẹp lòng người làm vườn là Chúa Giêsu. Vậy chúng ta hãy xin ơn sủng mạnh mẽ này là ơn duy nhất có sức giúp ta cảm nghiệm được niềm vui thần bí khi chê ghét mình vì lòng mến Chúa. Hơn bất cứ ơn nào khác, ân sủng này sẽ giúp ta giết chết con người cũ ở trong ta.

Niềm vui của lòng mến không luôn luôn được cảm thấy. 

– Người ta sẽ vấn nạn rằng : Đúng, theo lý thuyết, sự mất an ủi có thể là dịp để ta thực tập nhiều nhân đức, nhưng trong thực tế, sự buồn sầu  không giúp ta thực hành các nhân đức đó, nhất là không thể vui khi thực hành các nhân đức đó. Vui vì sống tín thác, vui vì được đau khổ vì Chúa, vui vì đã quên mình vì Chúa Giêsu, vui vì chê ghét bản thân mình: Tất cả những niềm vui đó có thể có khi ta được an ủi, chớ không có khi ta bị buồn sầu  thiêng liêng.

Trước hết, ta đừng lộn, và phải phân biệt niềm vui cảm giác và niềm hạnh phúc sâu xa, rất hiện thực mặc dầu không nếm được bằng giác quan. Trong những lúc khô khan chán nản, chắc chắn chúng ta không cảm thấy niềm vui cảm giác vì đã sống tín thác, vì chịu đau khổ vì Chúa, vì đã sống quên mình, nhưng rõ ràng chúng ta thấy an vui nơi đáy lòng mình, và thỏa lòng vì đã biết hy sinh vì Chúa. Rồi chúng ta càng tấn tới trên đường thiêng liêng, càng dứt mình ra khỏi những vật hữu hình, chúng ta sẽ càng cảm thấy nơi sâu xa của tâm hồn mình sự bình an và hạnh phúc của lòng mến yêu tinh ròng.

Nhưng còn một điều khó khăn hơn và quan trọng hơn, đó là, khi không có niềm vui cảm giác, chúng ta không biết thực hiện những hành vi nhẫn nhục vâng theo ý Chúa, yêu mến Chúa. Đầu óc chúng ta nặng nề, và trái tim chúng ta mê mẩn : nói lên lời yêu mến Chúa, nói lên lời nhẫn nhục vâng ý Ngài, tỏ lòng tín thác nơi Ngài trong những giờ phút đó, xem ra qúa khó khăn, qúa đau lòng đối với ta. Có thể ví như muốn nâng lên một cái gì nặng ngàn cân ! Nhưng ta cũng biết một hành vi yêu mến và tín thác như thế sẽ rất đẹp lòng Chúa, làm Chúa vui vô cùng. Chúng ta có thể dâng lên Chúa những hành vi như thế cách đơn sơ, chỉ bằng một tâm tình, bằng một cái nhìn mến yêu, bằng một lời than thở.

Những hành vi “trực tiếp” của linh hồn thì vô cùng qúi giá. 

– Nếu những hành vi như thế được coi là qúa khó khăn, không thể thực hiện nhiều lần được, thì cũng nên biết có một loại hành vi khác, những hành vi “trực tiếp” của tâm hồn, nghĩa là những hành vi không phản tỉnh, không ý thức. Đó là những hành vi ta không ý thức, hoặc không hoàn toàn có ý thức. Thiên Chúa thấu suốt tâm can ta, chỉ mình Ngài thấy rõ những hành vi đó, và Ngài rất vui lòng. Đó là những tâm tình rất thầm kín và tự phát của tâm hồn ta. Những lời nói không cần được nói lên của tâm hồn ta, và được tâm hồn ta không ngừng nói lên để tỏ lòng yêu mến Chúa.

Một người mẹ hiền ân cần chăm lo cho đứa con đau yếu, phải chăng bà chỉ yêu dấu con bà khi bà vỗ về hôn hít con bà ? Không, tình thương nồng nàn của bà đối với đứa con đau yếu của bà đã luôn luôn nồng nàn đêm ngày. Từng phút, tâm hồn bà nghĩ đến đứa con với biết bao lo lắng và yêu thương. Nỗi buồn sầu, sự lo âu của bà là những biểu lộ của tình thương người hiền mẫu. Nhìn đứa con yêu với niềm lo âu là một hành vi yêu thương, một hành vi “trực tiếp”, không phản tỉnh.

Đối với chúng ta khi buồn sầu, mất an ủi thiêng liêng, cũng vậy : buồn sầu  vì thiếu vắng Chúa cũng là một hành vi yêu mến Chúa. Và hành vi này không ngừng phát ra từ tâm hồn yêu mến của ta, như một mạch phát ra từ một nguồn nước sâu thẳm và tràn đầy. Tất nhiên nước này chỉ làm mát cho Chúa Giêsu, chỉ Ngài được vui, còn chúng ta vẫn cảm thấy buồn. Nhưng điều đó có hệ chi đối với tâm hồn nồng nàn yêu mến Chúa ?

Hoặc là chúng ta sống tín thác trong tay Chúa, trọn vẹn tin tưởng vào tình thương của Ngài, mặc dầu cảm thấy mình như bị bỏ rơi. Nép mình vào Chúa, làm như muốn ngủ yên trong vòng tay Chúa, phải chăng đó không phải là những hành vi tín thác “trực tiếp”, không phản tỉnh, của lòng mến yêu ? Rồi, nếu đôi khi chúng ta có những hành vi mến yêu tỏ tường, có ý thức, thì đó là hành vi của đứa bé ôm hôm mẹ nó, để tỏ lòng mến yêu mẹ nó, trong khi vẫn được ngủ yên trong lòng của mẹ nó.

Những con đường mà Chúa dắt chúng ta đi qua là thế nào đi nữa, dầu là những an ủi, dầu là Chúa cất đi những an ủi, chúng ta hãy tin chắc rằng những ngày tháng chúng ta sống đều tràn đầy những hành vi có công trước mặt Chúa. Chúng ta hãy nhìn những cánh đồng lúa với từng ngàn cây lúa mang nặng những hạt lúa vàng : những cây lúa tốt lành đó đang đu đưa những bông lúa vàng nặng trĩu, mỗi khi gió thổi nhẹ. Chính Thiên Chúa săn sóc từng cây lúa đó, từng bông lúa và từng hạt lúa đó. Thiên Chúa đã vì thương yêu ta, làm cho những cây lúa này sinh ra những hạt lúa để nuôi sống ta. Vậy Thiên Chúa yêu thương linh hồn ta muôn ngàn lần hơn thế, lẽ nào Ngài không chăm lo cho linh hồn ta, để nó sinh những hoa trái tốt lành là các nhân đức ?

Nếu chúng ta yêu mến Chúa thì những ngày có vẻ trống rỗng nhất, những ngày linh hồn ta mất an ủi và sống buồn sầu, những ngày ta đau yếu, cũng vẫn là những cây lúa với những bông lúa đầy những hạt lúa vàng : đó là những hành vi nhân đức “trực tiếp”, không phản tỉnh, không ý thức rõ rệt. Điều duy nhất chúng ta phải lo giữ, là đừng cố tình chiều theo lòng tự ái. Bởi vì trong cánh đồng thiêng liêng của linh hồn, bên cạnh những hành vi “trực tiếp” của lòng mến Chúa, cũng có những hành vi “trực tiếp” của lòng tự ái : đó là những hạt lúa lép của lòng tự ái.

Nếu chúng ta hiểu được giá trị của những hành vi yêu mến “trực tiếp”, những tâm tình không nói lên đó, chắc chúng ta sẽ giữ được bình an những khi bị buồn sầu, những khi bị Chúa rút đi những an ủi. Và bây giờ chúng ta biết rằng những hành vi mến yêu tỏ tường, có ý thức, có phản tỉnh, chỉ là cách bày tỏ rõ ràng tâm tình của ta đối với Chúa, nhưng không vì thế mà đẹp lòng Chúa hơn và có công phúc hơn. Điều cần phải nhớ là phải từ bỏ niềm vui vì mình đã có những hành vi yêu mến đó. Phải từ bỏ niềm vui cảm giác của các hành vi nhân đức mà Chúa đã giúp ta thực hiện, và dành tất cả niềm vui cho Chúa Giêsu. Chắc chắc điều này không dễ, vì nó đòi hỏi phải từ bỏ mình, phải quên mình đi, và yêu mến Chúa nhiều.

Từ bỏ niềm vui vì hoạt động của mình. 

– Bởi vậy mà buồn sầu, mất an ủi thiêng liêng, là ơn rất qúi trọng. Nó bắt ta thật sự chết cho bản thân mình. Tính tự ái của con người vẫn thích cảm thấy mình thực hiện được những hành vi đạo đức. Sự thầm hài lòng về mình như thế là thứ rượu làm say mê lòng con người, và con người rất khó bỏ được sự ưa thích này. Bởi vậy không phải một hai cơn buồn sầu, mà cần cả trăm lần bị khô khan và buồn sầu, để hủy diệt tính tự ái mà ta thấy nơi sự hài lòng về mình đó. Cái thứ cỏ gấu rất khó nhổ này, nó đâm rễ rất sâu trong linh hồn ta, cho nên phải rất nhiều lần, chúng ta phải cảm nghiệm đi cảm nghiệm lại sự hoàn toàn bất lực của ta trong đời sống thiêng liêng, cảm thấy mình nặng nề và yếu đuối, thì rồi chúng ta mới nhổ tận rễ được nó. Để nhổ thứ cỏ tai hại này, để giúp ta thật sự chết cho bản thân mình, Chúa Giêsu sẵn sàng để chúng ta vướng vào những nết xấu, để cho chúng ta có những sa ngã nho nhỏ cho biết thân, và để cho chúng ta phạm vào những điều bất trung bổ ích cho ta. Ngài không coi gì là qúa, nếu cần phải như thế để tiêu diệt tính tự ái rất nguy hại cho ta.

Bởi vậy Ngài thường dùng sự buồn sầu, mất an ủi thiêng liêng, để ta không còn cảm thấy niềm vui, không còn cảm thấy tiến bộ, không còn hứng thú khi thực hành các nhân đức. Vậy chúng ta phải an vui và vững tin rằng chính Ngài rút lấy niềm vui và niềm an ủi của ta, để mưu ích cho linh hồn ta. Và Ngài vui khi thấy ra vâng theo ý Ngài và tiếp tục sống tín thác. Chúa rất vui thỏa, vì những hành vi “trực tiếp” của niềm tín thác, của lòng khiêm nhường và lòng mến của ta, bởi vì tâm hồn ta không ngừng phát ra những tâm tình đó trong những cơn thử thách đau đớn của ta.

II.  TÔI VẪN CÓ THỂ LÀM VUI LÒNG CHÚA GIÊSU. CẢ KHI TÔI CẢM THẤY NHƯ NGƯỢC LẠI.

–   PHẢI PHÂN BIỆT NIỀM VUI VÌ LÀM ĐẸP LÒNG CHÚA, VỚI NIỀM VUI VÌ CẢM THẤY MÌNH ĐẸP LÒNG CHÚA.

–   YÊU MẾN THIÊN CHÚA CỦA NIỀM AN ỦI, CHỚ KHÔNG YÊU MẾN NHỮNG AN ỦI CỦA CHÚA.

–   CÓ THỂ KHÁT KHAO MONG CHỜ CHÚA TRỞ LẠI.

Tôi vẫn có thể làm vui lòng Chúa Giêsu. 

– Nếu chúng ta khát khao yêu mến Chúa, khát khao quên mình đi để tận hiến cho Ngài, thì chúng ta còn cần điều gì nữa để sống an vui khi bị buồn sầumất an ủi ? Ước nguyện của ta ở đời này là gì ? Là làm vui lòng Chúa Giêsu, và kết hiệp với Chúa Giêsu để làm vui lòng Chúa Cha. Đó là ước nguyện tuyệt đối và vô điều kiện của chúng ta, và đó là ước nguyện mà Chúa Giêsu sẽ không đòi hỏi ta phải hy sinh cho Ngài. Ngoài ra, bất cứ ước vọng nào Ngài cũng có thể đòi hỏi ta phải hy sinh. Ngài có thể xin ta hy sinh một lối sống nào đó, hy sinh một ân sủng thần bí, hy sinh một cha linh hướng ta yêu qúi, hy sinh một công việc tông đồ, hy sinh những việc có vẻ thành công trong đời sống thiêng liêng của ta. Ngài có thể xin ta hy sinh một niềm an ủi thiêng liêng, một chương trình nên thánh v.v…. Nhưng không bao giờ Ngài đòi ta hy sinh niềm vui cao cả của linh hồn, là vui vì làm đẹp lòng Ngài. Niềm vui đó cũng là niềm vui lớn nhất của Thánh Tâm Ngài, Ngài chỉ ước ao ban cho ta thôi. Làm sao Ngài có thể từ chối ta ? Làm sao Ngài có thể cất lấy khỏi ta ?

Hỡi linh hồn yêu mến và chỉ ước ao một điều là làm vui lòng Chúa Giêsu, bạn hãy vui mừng ! Dầu chương trình của Chúa về bạn là thế nào đi nữa, dầu Ngài dẫn đưa bạn đi bất cứ con đường nào, trong an vui cũng như trong buồn sầu, bạn luôn có thể làm vui lòng Chúa và Chúa vui nhiều vì bạn. Làm vui lòng Chúa là lẽ sống của bạn. Không làm được như thế, bạn sẽ không có thể sống. Chúa Giêsu biết rõ điều này. Để làm vui lòng Chúa, chỉ có một điều phải làm : đó là làm hết sức để sống theo ý Chúa, sống tín thác trong tay Ngài. Và điều này thì bạn luôn có thể làm được. Cả trong những lúc buồn sầu tối tăm, bạn vẫn có thể làm được điều đó, làm theo sự có thể của bạn. Trong một niềm tin trần trụi, bạn có thể nhắm mắt tín thác cho tình thương của Chúa. Chúa Giêsu không đòi hỏi gì hơn. Chúa không bao giờ đòi hỏi bạn một việc gì qúa sức mình. Như vậy, vững tin như vậy bạn sẽ ở trong đại dương của bình an, vì biết rằng mình có thể mãi mãi làm vui lòng Chúa. Niềm xác tín này sẽ mang lại sự trong sáng và sự đơn sơ tốt lành cho đời sống thiêng liêng của bạn. Bởi vì bạn vững tin rằng, mặc dầu trăm ngàn dao động ở bên mặt, nhưng nơi sâu thẳm của tâm hồn, một niềm an vui rất phẳng lặng sẽ luôn luôn được giữ vững, vì bạn luôn luôn có thể làm vui lòng Chúa Giêsu vô cùng yêu mến.

Cả khi ta cảm thấy ngược lại. 

– Nói thế không có nghĩa là chúng ta cảm thấy niềm an vui đó, vì đây là một niềm vui mà linh hồn không cảm thấy khoái trá. Không, một niềm an vui cảm giác sẽ chỉ nuôi dưỡng tính tự ái của ta do được vui hưởng. Niềm an vui này thường chỉ là niềm vui thiêng liêng, hoàn toàn thiêng liêng, không cảm thấy, một niềm an vui ở tận đáy linh hồn và chúng ta không cảm thấy, không có ý thức, nhưng không phải vì thế mà không phải là một niềm vui hiện thực. Nên nhớ : trên kia chúng ta đã nói rằng Chúa Giêsu không bao giờ đòi hỏi chúng ta hy sinh niềm an vui cao cả là được làm vui lòng Ngài. Nhưng nhiều khi thoạt trông như chúng ta lầm rồi. Đúng thế, có những cơn thử thách ghê sợ và lâu dài, khi mà không những chúng ta không cảm thấy vui vì làm vui lòng Chúa và được Chúa yêu thương, mà còn cảm thấy mình không còn đẹp lòng Chúa nữa. Mình đang làm Chúa phiền lòng. Và Chúa Giêsu có vẻ đã ngoảnh mặt đi khỏi ta. Ôi ! Sự đau khổ lớn lao ! Ôi sự hoài nghi ghê sợ ! Tôi còn sống làm gì nữa, nếu Chúa Giêsu không còn sống ở trong tôi ? Những hy sinh của tôi, những sự hãm mình của tôi còn có ý nghĩa gì nữa, nếu chúng không làm vui lòng Chúa Giêsu ? Trầm hương của lời cầu nguyện của tôi và của lòng mến của tôi không bay lên tòa Chúa nữa sao ?

Hỡi linh hồn bị khủng hoảng và rất đáng thương, bạn hãy cứ tín thác, cứ sống tín thác luôn ! Dầu xác thịt nặng nề, dầu tâm hồn bạn chán nản, bạn hãy vững tin vào Chúa Giêsu, hãy tin rằng bạn vẫn sống đẹp lòng Ngài. Chúa Giêsu vẫn thương yêu bạn như trước, Chúa vẫn yêu thương bạn như những lúc thân yêu nhất trước đây. Hãy tin tưởng vào tâm tình sâu xa của bạn, rằng bạn chỉ sống chết vì Chúa. Có bao giờ niềm tín thác làm bạn thất vọng đâu ! Và giờ đây, niềm tín thác đó cũng sẽ không lừa dối bạn. Khi cơn giông tố này sẽ qua đi và bình an trở lại trong linh hồn bạn, bạn sẽ lại nghe thấy tiếng nói dịu hiền của Chúa Giêsu. Ngài sẽ nói cho bạn biết Ngài vẫn luôn ở trong tâm hồn bạn, Ngài đã rất vui lòng thấy bạn can đảm và đầy tin tưởng trong cơn thử thách. Và niềm tín thác trọn vẹn, nhắm mắt tín thác của bạn, đã làm Chúa hết sức vui lòng.

Đừng lẫn lộn niềm vui vì sống đẹp lòng Chúa với niềm vui vì cảm thấy mình đẹp lòng Chúa.

– Bởi vậy đừng lộn niềm vui vì sống đẹp lòng Chúa, làm Chúa vui lòng, với niềm vui vì cảm thấy mình sống đẹp lòng Chúa. Chúng ta có thể sống rất đẹp lòng Chúa, làm Chúa vui lòng, nhưng không có ý thức và cảm giác nào về việc đó. Đôi khi có thể chúng ta còn có cảm giác ngược lại, cảm thấy những nghi nan ghê sợ : đó là trường hợp “những đêm tối của các giác quan” và nhất là “những đêm tối của tâm trí”. Nhưng nếu lòng mến của ta chân thành và tinh ròng, chúng ta vẫn tin rằng mình sống đẹp lòng Chúa, đồng thời chúng ta hy sinh dâng cho Chúa niềm vui vì không cảm thấy. Thật ra, nếu ta chỉ quan tâm đến niềm vui của Chúa, chỉ chú ý làm vui lòng Ngài, thì cảm thấy hay không cảm thấy mình làm vui lòng Chúa có hệ gì lắm ! Miễn là Chúa vui, miễn là tôi làm vui lòng Ngài. Thế là đủ, và thế là tất cả đối với tôi. Tôi muốn có niềm vui của Ngài, chớ không phải niềm vui của tôi, và tôi sẵn sàng hy sinh cho Ngài niềm vui cao cả vì biết mình làm vui lòng Ngài, nếu Ngài đòi hỏi tôi điều đó.

Đó là điều thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu đã bày tỏ một cách rất dễ thương như sau. Lúc còn ở nhà Tập, chị thánh đã viết cho Mẹ Agnès : “Mẹ hãy xin Chúa Giêsu cho con lòng mến yêu vô tư. Con không ước ao có lòng mến cảm động. Chỉ cần Chúa Giêsu cảm thấy con mến Ngài là đủ”[1]. Chị Thánh còn viết cho chị Maria của mình như sau : “Con gái bé nhỏ của chị chẳng nghe thấy thiên thần ca hát gì hết, cuộc du ngoạn hôn lễ của nó rất khô khan. Chị sẽ tưởng nó buồn lắm phải không ? Không đâu, trái lại nó hân hoan bước theo Chàng chỉ vì yêu mến Chàng, chớ không phải vì các hồng ân của Chàng. Chàng tuyệt vời ! Cả khi Chàng im lặng, cả khi Chàng ẩn mình đi”[2].

Yêu mến Chúa của những an ủi, chớ không yêu mến những an ủi của Chúa. 

– Chúng ta có cảm tưởng mình không còn làm vui lòng Chúa, khi mình rơi vào những lúc bị khô khan, mất an ủi. Đó là một cảm tưởng sai lầm. Trên kia chúng ta đã chứng minh rằng chính những cơn buồn sầu, những lúc bị khô khan, là những cơ hội rất tốt lành để ta thực hiện những hành vi khiêm nhường sâu thẳm, nhắm mắt tín thác trong tay Chúa, và yêu mến thập giá Chúa Kitô. Đó là những cơ hội giúp ta chết hẳn cho bản thân mình. Cho nên đó là những cơ hội để ta làm vui lòng Chúa Giêsu.

Lợi ích lớn nhất của những cơ hội này là chúng cho ta có dịp yêu mến Chúa Giêsu bằng một lòng mến tinh ròng và vô tư. Đúng thế, những khi ta được an ủi, ta dễ bị cám dỗ yêu mình và tin cậy nơi bản thân mình. Chúng ta tưởng như có cánh để bay bổng, và chúng ta dễ tưởng đó là do sức của mình. Hơn nữa chúng ta cảm thấy niềm vui của lòng mến, cho nên ta dễ đi đến chỗ niềm vui của Chúa, những an ủi của Chúa, hơn là yêu mến Chúa của niềm vui và của những an ủi. Trái lại, khi ta bị buồn sầu, bị khô khan, mất an ủi, không thể xảy ra chuyện đó. Nếu ta tiếp tục yêu mến Chúa, thì sẽ là lòng mến tinh ròng : ta yêu mến Chúa vì Ngài mà thôi, không phải vì những hồng ân Ngài ban, không phải vì được an ủi. Khi đó, ta dứt mình ra khỏi những niềm an ủi, để chỉ yêu mến bản thân Thiên Chúa mà thôi.

Nguyên tư tưởng này cũng đủ thuyết phục chúng ta phải qúi mến những sự khô khan và những khi chán nản, bị mất an ủi. Nếu chúng ta ước ao yêu mến Chúa bằng một lòng mến tinh ròng, chúng ta phải vui vẻ đón chào những cơ hội để yêu mến Chúa như thế, những cơ hội mà Chúa gửi đến cho ta vì thương yêu ta. Tất nhiên, điều này không dễ chút nào. Nhưng không sao ! Chúng ta càng yêu mến Chúa, càng tấn tới trong lòng mến tinh ròng, chúng ta sẽ càng biết qúi mến những cơ hội đó. Thánh nữ Têrêxa thường nói : “Chúng ta hãy yêu mến Chúa Giêsu tới mức chấp nhận mọi sự Ngài muốn cho ta, cả những sự khô khan và những tâm tình có vẻ lạnh lùng. Yêu mến Chúa mà không cảm thấy sự ngọt ngào của lòng mến, đó mới là yêu mến nhiều. Nhưng đó là một thứ tử đạo… Vậy chúng ta hãy sẵn sàng tử đạo !”[3]. Như vậy chắc chắn chúng ta sẽ làm Chúa vui nhiều, nếu chúng ta vững lòng mến yêu và tín thác khi bị chán nản.

Bạn muốn là người bạn thân tín của Chúa Giêsu ? Bạn muốn an ủi Ngài thay cho biết bao người vô ân bạc nghĩa đối với Ngài ? Vậy bạn hãy quyết tâm yêu mến Ngài trong lúc chán nản cũng như khi được an ủi. Hãy yêu mến Ngài trên Núi Sọ cũng như trên núi Tabor ! Hãy yêu mến Chúa Giêsu bằng một lòng mến tinh ròng, thay cho những linh hồn chỉ yêu mến Ngài vì được an ủi, vì nhận được những hồng ân, và như vậy là họ tự yêu mình hơn là yêu mến Chúa.

“Thiện chí ! Yêu mến Chúa luôn, mọi nơi và mọi lúc ! Đó là tất cả chương trình của tôi từ lúc này. Chúa Giêsu sẽ lo mọi chuyện khác cho tôi. Tôi sẽ yêu mến Chúa luôn, yêu mến Ngài dầu có phải chịu đau khổ, chịu thiệt thòi, yêu mến Chúa mà không cảm thấy vui gì hết, yêu mến khi đau khổ, yêu mến trong chán nản, trong khô khan, trong tối tăm, trong nghi nan, trong những cơn cám dỗ, trong những viễn ảnh đen tối về tương lai : đó là phần dành cho tôi, bao lâu Thầy Chí Thánh muốn như thế. Tôi biết Ngài nhân lành, tôi biết Ngài thương yêu tôi. Tôi tin vào tình thương của Ngài. – Lạy Chúa Giêsu, được yêu mến Chúa như thế này, con vui sướng lắm. Để vui hưởng Chúa, con có cả một sự đời đời, nhưng để làm Chúa vui vì lòng mến của con, lòng mến được tỏ bày bằng đau khổ và hy sinh, con chỉ có cuộc đời ngắn ngủi này. Vậy Chúa hãy dùng đau khổ của con để làm vinh danh Chúa ! Hãy tận dụng khả năng chịu đựng của con, để khi chết, tất cả con người con biến thành mến yêu”[4].

Có thể khát khao trông đợi Chúa trở lại.

– Như thế có nghĩa là chúng ta không được khát khao mong ước Chúa trở lại chăng ? Không phải thế, những ước ao khát vọng đó là dấu hiệu của lòng mến thiết tha, và rất đẹp lòng Chúa. Tất cả các thánh đều đã cảm nghiệm những niềm ước ao nồng nàn đó, và các thánh đã khóc trong những khi bị buồn sầu, mất an ủi. Thánh Bênađô đã có những vần thơ rất đẹp như sau : “Ôi Giêsu rất dịu hiền của con, là hy vọng của linh hồn than vãn, những nước mắt sùng mộ của con tìm kiếm Chúa, từ đáy lòng tiếng kêu của con kêu gọi Chúa !”. Trong vấn đề này, chúng ta hãy theo sự thúc đẩy của ân sủng. Có những lúc, hãy sống tín thác và an bình ngủ đi trên chiếc gối êm dịu của niềm tín thác mến yêu. Có những lúc, ta thức dậy khỏi giấc ngủ, và mến yêu giơ hai tay lên với Đấng mà lòng ta nồng nàn yêu mến.

III.  SỰ BUỒN SẦU KHIẾN CHÚNG TA CHẠY ĐẾN CÁC KHO TÀNG CỦA CHÚA GIÊSU, ĐẤNG ĐẦY ĐỦ CHO TA, ĐANG SỐNG TRONG TA.

– Ý TƯỞNG ĐÚNG VỀ SỰ BUỒN SẦU : ĐÓ LÀ MÙA ĐÔNG, CŨNG CẦN THIẾT CHO ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG NHƯ SỰ AN ỦI LÀ MÙA XUÂN.

–   SỰ KHOAN DUNG CỦA CHÚA GIÊSU ĐỐI VỚI NHỮNG SỰ YẾU ĐUỐI CỦA TA TRONG NHỮNG LÚC BỊ BUỒN SẦU.

Sự buồn sầu khiến ta chạy đến các kho tàng của Chúa Giêsu. Đấng đầy đủ của ta, Ngài đang sống trong ta. 

– Nay chúng ta đã thấy : có nhiều lý do khiến ta phải qúi mến và yêu mến những cơn thử thách, những lúc bị buồn sầu. Nếu chúng ta xác tín điều đó khi còn được bình an và an vui, thì nó sẽ giúp ta rất nhiều khi bị buồn sầu, mất an ủi. Nhưng phải thú thật rằng : nhiều khi, rất nhiều khi, niềm xác tín đó cũng như những tư tưởng khác chẳng giúp gì cho ta, khi lâm vào đau khổ và bị thử thách. Đó là vì Chúa Giêsu muốn chúng ta chạy lại nương náu trong Thánh Tâm Ngài, vì đó là nơi nương náu an toàn duy nhất.

Khi chúng ta cảm thấy mình nghèo khổ, buồn phiền, lạnh lẽo, không có lòng mến ; Khi chúng ta thấy mình không có gì để dâng tiến Chúa…, cho nên quá mệt mỏi, chúng ta chỉ còn cách chạy lại Chúa Giêsu. Điều này đúng cho tất cả mọi người, nhất là đúng cho những linh hồn đã quen sống kết hiệp với Chúa Giêsu. Những khi bị khô khan, và thấy mình nghèo nàn, đầy những sự xấu xa khốn nạn, tự nhiên họ chạy lại cầu cứu nơi Chúa Giêsu, Đấng rất đầy đủ cho họ, để tìm thấy nơi Ngài những tâm tình thờ lạy, đền tạ và yêu mến. Họ nhớ lại rằng họ không sống một mình và yêu mến Chúa một mình, nhưng có Chúa Giêsu sống trong họ và với họ. Họ tin rằng đời sống của họ chỉ là sự sống của Chúa Giêsu ở trong họ: Chúa Giêsu dùng họ để tôn thờ và mến yêu Chúa Cha.

Đôi khi trong những lúc được an ủi, họ đã thấy Chúa tỏ sự hiện diện của Ngài cách tỏ tường. Một tàn lửa mến yêu thần linh của Thánh Tâm Chúa Giêsu thiêu đốt con tim họ, gây nên một lòng mến nồng nàn và êm dịu khôn tả. Những khi khác, những khi mất an ủi, họ không cảm thấy lửa mến của Chúa nữa, nhưng họ biết Trái Tim Chúa vẫn đập và vẫn yêu mến Chúa Cha ở trong họ. Chúa Giêsu vẫn ở đó, Ngài không bỏ đi đâu hết. Bây giờ cũng như trước đó, linh hồn họ không một mình yêu mến và tôn thờ Thiên Chúa. Chúa Giêsu chỉ ẩn mình đi nơi đáy linh hồn họ, cho nên từ trái tim họ, trầm hương của lòng mến thần linh của Chúa Giêsu vẫn không ngừng bay lên trước tòa Chúa Cha hằng hữu.

Bạn không còn cảm thấy rằng lòng mến yêu của Chúa Giêsu thấm nhập vào tâm trí và tâm hồn bạn để yêu mến Chúa Cha ? Thì có quan hệ gì đâu ! Chúa Giêsu vẫn ở đó, nơi đáy tâm hồn bạn thay vì quảng đại, khát khao hy sinh, và thay vì cảm thấy tín thác và mến yêu, bạn chỉ cảm thấy khô khan và chán nản. Nhưng có sao đâu ? Bạn vẫn có nơi đáy lòng mình những điều qúi giá gấp trăm ngàn lần những tâm tình mà bạn có khi được an ủi, bởi vì  bạn dễ bị cám dỗ tin tưởng vào bản thân mình. Còn bây giờ bạn vẫn có những sự toàn hảo khôn sánh của Chúa Giêsu đang sống ở trong bạn.

Đúng thế, thay vì những viên ngọc kém cỏi, những hạt kim cương giả, tức các nhân đức của bạn, bạn vẫn có thể dâng lên Thiên Chúa những viên ngọc và kim cương vô giá là các nhân đức thần linh của Chúa Giêsu. Bạn có thể dâng lên Thiên Chúa đức khiêm nhường vô cùng sâu thẳm, niềm tín thác trọn vẹn, sự quên mình hoàn toàn và đức mến vô cùng nồng nàn của Chúa Giêsu. Đó là niềm vui đích thực của bạn, dầu là một niềm vui không cảm thấy. Và đó cũng là cách thế để bạn làm đẹp lòng Chúa và dâng lên Ngài một hy lễ vẹn toàn thánh thiện, và đáng được Ngài chấp nhận. Sự buồn sầu sẽ trở thành những giây phút ơn phúc cho bạn, nếu trong cảnh bần cùng và khốn khó của mình, bạn biết nghĩ đến kho tàng vô cùng qúi giá của bạn là những nhân đức và công nghiệp của Chúa Giêsu đang sống ở trong bạn.

Ý tưởng đúng về sự buồn sầu : đó là mùa đông, cũng cần thiết cho đời sống thiêng liêng như sự an ủi là mùa xuân. 

– Chúng ta phải có một ý tưởng đúng và chính xác về sự buồn sầu, mất an ủi, dưới mọi hình thức của nó : những lúc khô khan, buồn nản, tối tăm, chán ngán các việc đạo đức, không muốn cầu nguyện v.v… Chúng ta nên biết : Chúa là người làm vườn, Ngài cần phải có sự thay đổi 4 mùa để cho cây cối tăng trưởng và sinh hoa kết qủa. Ngài là người thợ kim hoàn, Ngài cần phải thanh tẩy linh hồn ta khỏi những chất dơ bẩn còn bám vào nó, để làm cho nó trở thành viên kim cương tốt đẹp trước mặt Cha trên trời.

Nhiều linh hồn thiếu kinh nghiệm đã hiểu lầm rằng mất an ủi là một hình phạt, cũng như niềm an ủi là một phần thưởng cho những hy sinh của họ. Một ảo tưởng tai hại ! Đôi khi điều này có thể đúng, nhất là đối với những linh hồn mới bước vào đường nhân đức. Nhưng đại đa số các trường hợp thì, trong chương trình của Chúa, những cơn buồn sầu, mất an ủi, lại là dấu Chúa yêu thương linh hồn cách riêng : buồn sầu là một ân sủng đặc biệt Chúa dùng để đưa linh hồn lên cao hơn, đi tới sự kết hợp với Ngài.

Nếu ta không ý thức về một lỗi phạm hoặc một sự bất trung nào của mình, thì không nên tự làm khổ mình bằng những sự xét mình đi, xét mình lại như thế. Những lo âu đó là không chính đáng. Tốt hơn, ta hãy hạ mình trước mặt Chúa, xin lỗi Chúa vì tất cả những lỗi lầm xưa kia, và những gì quên sót, rồi hãy giữ tâm hồn thư thái trong niềm tín thác đầy mến yêu. Trong lúc này, chúng ta rất cần phải có niềm tín thác để đứng vững trong những quyết tâm của mình. Đừng thay đổi gì trong cách sống của mình. Đừng đi tìm nơi những tạo vật một sự an ủi nào, để bù vào những an ủi mà Chúa đã rút đi. Chúng ta cần đến tất cả nghị lực của tâm hồn mình, để đứng vững và lợi dụng tốt những thời gian qúi báu này theo thánh ý Chúa[5].

Nói chung, tình trạng mất an ủi không phải là sự Chúa phạt ta vì đã bất trung hoặc đã sao lãng trong đời sống đạo đức. Đó chỉ là một phương tiện qúi báu và cần thiết Chúa dùng để thanh tẩy ta. Những khi được an ủi và những lúc mất an ủi cũng giống như mùa xuân và mùa đông của đời sống thiêng liêng. Những sự an ủi của Chúa cho ta thấy những sự tuyệt hảo và sự đáng mến vô cùng của Chúa, để đốt lửa yêu mến của ta, trái lại những buồn sầu, mất an ủi cho ta thấy sự khốn khổ của bản tính con người, vẻ xấu xa của những nết xấu, khiến ta thật lòng chê ghét mình và gớm ghét cái tôi của mình : đó là những mùa xuân và những mùa đông không thể thiếu trong đời sống thiêng liêng của chúng ta.

Những thay đổi kế tiếp nhau giữa các mùa như thế đã được Thiên Chúa xếp đặt cách khôn ngoan và đầy yêu thương, để dẫn đưa chúng ta trên con đường nên thánh và kết hiệp mật thiết với Chúa. Thiên Chúa thay đổi và kéo dài thời gian của mỗi mùa, tùy theo nhu cầu của mỗi linh hồn.

Vậy không có lý do gì để lo buồn, khi thời gian bị mất an ủi kéo dài. Chúng ta thường nghĩ lầm rằng như thế mình mất đi bao thời gian qúi báu. Ừ, mình đang tiến bước mau lẹ trên đường trọn lành, với sự đồng hành của Chúa Giêsu. Thế rồi, đùng một cái, Ngài biến mất. Chúng ta có cảm tưởng như Chúa Giêsu đã bỏ rơi chúng ta. Chúng ta không tiến bộ nữa. Nghĩ thế là sai lầm ! Không, không, Chúa Giêsu không bỏ rơi ta đâu. Ngài không quên ta đâu. Ngài ước ao sự trọn lành của ta hơn chúng ta nhiều. Ngài rất ước ao sự thánh thiện của chúng ta. Ngài làm ra vẻ bỏ quên chúng ta như thế là một ân sủng đặc biệt qúi trọng. Nay Ngài làm việc ở bề sâu, nơi đáy linh hồn ta, để loại bỏ những chướng ngại vật cuối cùng cho sự kết hiệp thần linh. Ngài làm việc không ngừng nghỉ, suốt ngày đêm, một cách vô cùng nhẫn nại và với một niềm mong ước lớn lao. Ngài tỉa những nhánh vô ích để cho cây thêm tươi tốt. Ngài để cho mùa đông tiếp theo sau mùa xuân. Ngài có ý để cho mấy bông hoa rụng xuống, và Ngài lặng lẽ hái mấy trái mà Ngài thấy đã chín. Ngài biết cây đang lớn lên và khi đến mùa hạ, Ngài sẽ có được những bông đẹp hơn và những trái ngon hơn trước, cho tới khi Ngài hái được những trái tuyệt vời của lòng mến yêu trọn vẹn.

Lòng khoan dung của Chúa Giêsu đối với những sự yếu đuối của ta trong khi bị buồn sầu.

– Sau cùng, đừng quên rằng Chúa Giêsu vô cùng nhân từ và khoan dung. Nếu trong những khi bị thử thách, bị mất an ủi, chúng ta có tỏ ra thiếu quảng đại cách nào, hoặc có sao lãng phần nào, chúng ta đừng nghĩ rằng Chúa Giêsu buồn giận ta và mọi sự đã hỏng hết. Chúa biết ta yếu đuối, ta gặp khó khăn, Chúa thấu hiểu tất cả, cho nên nếu chúng ta vẫn cố gắng giữ vững thiện chí và lòng trung thành, thì Chúa dễ dàng bỏ qua những sai lỗi nho nhỏ của ta.Vậy chúng ta đừng buồn và nghĩ rằng : “Tôi đã không quảng đại khi buồn sầu, mất an ủi. Tôi vác thập giá, nhưng đã không vác cách khẳng khái. Tôi đã vác cách nặng nhọc, gần như bị thập giá đè ngã qụy. Rồi tôi đã có những sai lỗi trong thời gian bị buồn sầu…. Tôi đã sống qúa tự nhiên, thiếu tinh thần siêu nhiên. Thật là khác xa với khi còn được an ủi !” – Chúa Giêsu biết rõ tất cả những chuyện đó. Ngài biết rõ hơn ta nhiều, vậy mà Ngài cứ gửi những thử thách đến cho ta, vì Ngài biết chúng sẽ mang lại nhiều lợi ích thiêng liêng cho ta. Ngài biết những lỗi lầm nho nhỏ đó của ta sẽ được đền bù cách rộng rãi bởi sự trung thành của ta, sự nhẫn nhục, lòng khiêm nhường và niềm tín thác của ta. “Diligentibus Deum omnia cooperantur in bonum. – Đối với những ai yêu mến Thiên Chúa, mọi sự đều mang lại những điều tốt lành” (Rm 8,28). Miễn là chúng ta trung thành yêu mến Chúa và ước ao ngày càng làm vui lòng Ngài hơn, thì dầu ta vẫn phạm phải những sai lỗi nho nhỏ, chúng ta hãy tin rằng những cơn thử thách thiêng liêng sẽ sinh ích cho ta và, chen kẽ với những khi được an ủi, sẽ dẫn ta tới đỉnh cao của con đường trọn lành. 

 Paul De Jaegher S.J.

[1] Esprit de Ste Thérèse de l’Enfant Jésus (Tinh thần của thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu). Ch.III Lòng mến vô tư, tr. 35

[2] Histoire d’une âme (Tiểu sử một linh hồn) : Các thư, tr. 349.

[3] Esprit de Sainte Thérèse de l’Enfant – Jésus, § III. Amour désintéressé, p.36

[4] Jos. Schryvers, La bonne volonté, p. 53

[5] Về vấn đề này, chúng ta phải ghi nhớ lời dạy của thánh Inhaxiô, vị thầy vĩ đại của khoa tu đức, về những qui luật để biện biệt các tinh thần (luật số 5). Luật này dạy rằng : Những giờ phút chán nản, mất an ủi không phải là giờ phút tốt để phán đoán cách lành mạnh về mọi sự, bởi vậy không nên thay đổi những quyết tâm của mình hoặc cách sống của mình trước đó.

Hạnh Phúc – Chương 3: Tình Yêu - 7. MẦU NHIỆM CỦA TÌNH YÊU

Ngay cả những mối tình nhân loại cao thượng nhất thì cũng có một lúc nào đó người ta cảm thấy mất đi tính cách nhiệm mầu. Giờ đây người ta đã lờn ngay cả với những gì tốt đẹp nhất, giống như những tay buôn nữ trang có thể cầm giữ những viên ngọc quí nhất mà chẳng thèm để ý chiêm ngắm chúng. Những gì chúng ta chiếm hữu được hoàn toàn rồi thì chúng ta không còn thèm nữa. Những gì đạt được rồi chúng ta sẽ chẳng hy vọng nữa. Thế mà hy vọng, ước muốn và nhất là mầu nhiệm lại là những thứ cần thiết để giúp chúng ta vui sống…

Một khi tháng ngày sống của chúng ta không còn cảm thấy có gì đáng ngạc nhiên nữa thì cuộc sống sẽ thành nhàm chán. Tâm trí chúng ta luôn luôn phải được vươn ra, phải rán đạt đến những giải pháp cho một số vấn đề mà lúc nào cũng như cố lẩn tránh chúng ta. Có thể do ảnh hưởng phổ biến của tiểu thuyết huyền bí nên khá nhiều người thời nay không còn thích luận bàn đến những mầu nhiệm của đức tin mà lại sẵn sàng tìm kiếm một cái gì đó thay thế cho những gì họ đã đánh mất. Độc giả các sách huyền bí dành hết thời gian để thắc mắc về cách thức một kẻ nào đó bị giết, chứ không thắc mắc về số phận vĩnh cửu của những người chết như đám người thời đại của Đantê và Michel Angêlô.

Người ta không thể nào hạnh phúc một khi cảm thấy thừa mứa. Cửa chưa mở, màn chưa kéo, nốt nhạc chưa đánh xuống mới làm cho chúng ta háo hức. Nếu “Tình yêu” chỉ thuộc bình diện thể lý thì chắc hẳn hôn nhân sẽ kết thúc khúc tình lãng mạn ấy, bởi vì cuộc săn đã kết thúc rồi thì mầu nhiệm sẽ hết là nhiệm mầu. Bất cứ khi nào người ta cho rằng đó là điều dĩ nhiên phải thế, người ta sẽ đánh mất đi tính nhạy cảm, tế nhị là đức tính thiết yếu tạo nên tình bạn, niềm vui và tình yêu trong mối quan hệ giữa con người với nhau. Hôn nhân cũng thế! Một trong những hậu quả bi đát nhất của nó là chỉ chiếm hữu mà chẳng còn ham muốn nữa!

Một khi người ta chạm được tới đáy hay nghĩ rằng mình đã chạm tới đáy thì sẽ không còn tình yêu nữa! Làm cạn kiệt hết “mầu nhiệm” nơi nhân cách người kia tức là biến người ấy trở thành nỗi phiền toái. Phải luôn luôn có một cái gì đó chưa hé lộ, một mầu nhiệm nào đó chúng ta chưa thăm dò, một đam mê nào đó chúng ta không thể thoả mãn trọn vẹn… và điều này cũng đúng ngay cả trong vấn đề nghệ thuật. Chúng ta sẽ chẳng muốn nghe cô ca sẽ lải nhải mãi cung giọng chót vót của cô ta, cũng chẳng thích một diễn giả nào trình bày “toạc móng heo” một niềm cảm xúc nào đó của ông ta.

Một cuộc hôn nhân đích thực phải luôn bao hàm trong đó một mầu nhiệm càng lúc càng sâu, một thứ lãng mạn luôn luôn hấp dẫn. Ít nhất có thể liệt kê ra đây bốn mầu nhiệm của hôn nhân. Thứ nhất là mầu nhiệm đến từ thân xác người phối ngẫu mà ta gọi là mầu nhiệm tính dục. Khi mầu nhiệm ấy đã chu tất và đứa con đầu lòng chào đời thì một mầu nhiệm mới lại khởi đầu. Người chồng nhìn thấy nơi vợ mình điều mà trước kia anh ta chưa từng thấy đó là mầu nhiệm tuyệt vời của tình mẫu tử. Còn người vợ thì nhìn thấy nơi chồng mầu nhiệm ngọt ngào của tình phụ tử. Trong khi những đứa con khác tiếp tục ra đời hâm nóng lại sức lực và nét đẹp của họ, thì trước mắt cô vợ anh chồng xem ra chẳng bao giờ già hơn ngày đầu họ gặp gỡ nhau và trước mắt anh chồng, cô vợ vẫn mãi đẹp xinh như ngày họ mới đính hôn thệ ước.

Rồi khi các đứa con đến tuổi khôn lớn thì bắt đầu hé mở mầu nhiệm thứ ba: mầu nhiệm của tài năng bố mẹ sử dụng để uốn nắn tâm hồn đám trẻ đi theo đường lối Chúa. Trong khi đám trẻ càng tiến tới tuổi trưởng thành thì mầu nhiệm này vẫn tiếp tục triển nở, nhân cách từng đứa con luôn là điều bố mẹ phải thăm dò và uốn nắn để ngày càng trở nên giống với vị Thiên Chúa của Tình yêu hơn.

Mầu nhiệm thứ tư trong hạnh phúc hôn nhân hệ tại đời sống xã hội của đôi vợ chồng, hệ tại sự đóng góp của họ cho sự sung mãn của thế giới. Căn rễ của chế độ dân chủ nằm ở nơi đây bởi vì trong gia đình mọi người không đánh giá một cá nhân theo những gì tài khéo, những gì cá nhân ấy có thể cống hiến mà lại đánh giá dựa trên chính bản thể của cá nhân ấy. Chỉ cần cá nhân ấy có mặt trong gia đình là đủ đảm bảo có được vị thế riêng cho mình. Chẳng hạn một đứa trẻ dù bị câm hay mù, một đứa con dù bị tàn tật vì chiến tranh thì nó vẫn được yêu mến như một đứa con trong gia đình và như một đứa con của Thiên Chúa. Không cha mẹ nào giảm đi lòng yêu mến đối với đứa con khi nó có thêm quyền chức hoặc khôn ngoan sành sỏi, cũng không cha mẹ nào băn khoăn về giai cấp của con cái mình. Sự kính trọng nhân vị vì nhân vị nơi cuộc sống gia đình chính là nền tảng xã hội làm điểm tựa cho một cuộc sống cộng đoàn rộng lớn hơn. Nó cũng là lời nhắc nhở đầy hiệu nghiệm giúp ta luôn nhớ đến nguyên tắc chính trị quan trọng nhất đó là: sở dĩ có nhà nước là vì lợi ích của con người, chứ không phải con người phải phục vụ lợi ích của nhà nước.

 

Hạnh Phúc – Chương 3: Tình Yêu - 6. VÀI SUY NGHĨ VỀ TÌNH YÊU

Để nguỵ trang cho những lý do thực sự của lòng vị kỷ, cái tôi thường viện dẫn ra một phương cách đặc biệt nào đó. Nó có thể làm bộ như lo lắng cho việc an sinh của kẻ khác song thực sự nó đang tìm kiếm lạc thú cho riêng mình.

Có vài người thường thích khoác lác là mình bao dung nhưng thực sự chẳng qua họ bị cái tôi vị kỷ sai khiến. Họ muốn đừng ai rớ đến những gì họ đang nghĩ dù có sai trái mấy đi nữa, vì thế họ bênh vực cho lòng bao dung đối với tư tưởng của kẻ khác. Tuy nhiên bao dung kiểu đó rất là nguy hiểm bởi vì ngay khi cái tôi bị quấy rầy hay đe doạ thì người ta sẽ trở thành bất nhẫn ngay lập tức. Đó là lý do cắt nghĩa tại sao một nền văn minh khoan dung với các ý tưởng xấu mà cứ tưởng là bác ái với tha nhân, thì chắc hẳn không bao lâu sẽ khơi mào cho những cuộc bắt bớ tàn nhẫn.

Kẻ vị kỷ luôn luôn cảm thấy cái tôi của mình thiếu một thứ gì đó. Hành vi chính yếu của hắn là luôn luôn phải lôi kéo về cho mình một cái gì đó, tương tự như cái họng lúc nào cũng muốn tọng thức ăn vào. Chẳng hề muốn cho ra, chẳng hề thích phục vụ, và chẳng bao giờ chấp nhận một hy sinh nào, bởi vì theo hắn hy sinh có nghĩa làm giảm đi chính mình.

Ngược lại, tình yêu đích thực luôn cảm thấy nhu cầu cho đi mãnh liệt thôi thúc mình hơn nhu cầu nhận lãnh. Khi tình yêu này khởi đầu, người ta luôn cảm thấy không bao giờ mình có thể cho đi cho đủ. Và dù tặng phẩm có quí giá ngần nào, nó vẫn xem ra chưa sánh được với lòng muốn cho thêm. Giá cả thì sá gì, bởi vì chúng ta nào muốn nhìn nhận một tỷ lệ tương xứng giữa quà tặng và nhu cầu trao ban. Thảm kịch sẽ xảy ra khi tình yêu bắt đầu tàn lụi, bởi vì lúc đó người ta sẽ không còn muốn cho ngay cả cái họ có sẵn. Lúc này không còn là vấn đề không thể cho người kia cho đủ nữa, mà đúng hơn là chẳng cho người kia cái gì ráo.

Trong tình yêu đích thực thì luôn bao hàm sự xót thương và sự cần thiết. Xót thương ở đây có nghĩa là người ta cảm thấy nhu cầu trải rộng và trao ban triệt để; còn cần thiết ở đây có nghĩa là bởi vì tình yêu hàm chứa một khoảng trống mà con người muốn thấy được lấp đầy. Tình yêu đích thực sẽ đón nhận mà chẳng bao giờ giải thích những gì được trao ban, chẳng bao giờ tìm kiếm một động lực nào khác ngoài chính tình yêu. Kẻ nào còn hỏi “tại sao” lại cho đi một vật gì đó thì chứng tỏ kẻ ấy chưa tin tưởng.

Một trong những bi kịch của thời đại chúng ta là người ta thường chỉ nghĩ rằng tự do là thoát khỏi một điều gì đó thay vì lẽ ra phải nghĩ rằng tự do là để phục vụ cho tình yêu. Kẻ nào yêu mến tất cả mọi người thì mới đúng là kẻ tự do, còn kẻ nào nuôi lòng căm giận thì thực sự đã nô lệ hoá chính mình. Kẻ căm ghét thì lệ thuộc cái mà hắn ta không thể yêu nổi và do đó, hắn ta chẳng thể có tự do. Thù ghét anh láng giềng là một hình thức hạn chế tự do của mình, bởi vì mình buộc phải đi vòng thêm một khu phố để tránh gặp mặt anh láng giềng đó, hoặc phải chờ cho anh ta ra khỏi nhà rồi mình mới rời khỏi nhà mình được.

Chính tình yêu và dục vọng của chúng ta qui định nỗi đau khổ của chúng ta. Chẳng hạn nếu chúng ta cực kỳ yêu thích lạc thú của thân xác thì niềm đau lớn nhất của chúng ta là mất sức khoẻ, nếu chúng ta cực kỳ ham mê của cải thì nỗi âu sầu lớn nhất của chúng ta là sự bất an toàn, còn nếu chúng ta cực kỳ yêu mến Chúa thì nỗi sợ lớn nhất của chúng ta chính là tội lỗi.

Mầu nhiệm vĩ đại không phải là ở chỗ tại sao chúng ta yêu, mà là tại sao chúng ta lại được yêu. Tại sao chúng ta yêu thì dễ hiểu thôi, bởi vì chúng ta khiếm khuyết và luôn bất mãn vì tình trạng chưa tốt đẹp của mình. Còn tại sao lại có kẻ nào đó yêu chúng ta thì mới là mầu nhiệm, bởi vì khi nhìn vào cái bản thể thực sự của mình, chúng ta biết được chúng ta rất ít đáng yêu. Tuy nhiên vấn đề các loài thụ tạo khác yêu mến chúng ta dầu sao cũng chưa phải là một mầu nhiệm quá lớn lao vì họ cũng bất toàn như chúng ta. Còn riêng đối với tình yêu Chúa dành cho chúng ta thì quả thật chúng ta sẽ không bao giờ hiểu nổi. Khi một linh hồn mới trở về với tình yêu mến Chúa thì thể nào cũng xốn xang trong lòng vì đã lỡ đánh mất quá nhiều thời gian. Như thánh Augustinô từng nói: “Ôi Thiên Chúa mỹ lệ tự ngàn xưa, con yêu Ngài quá trễ đi thôi”. Tuy nhiên, nỗi ân hận này được đền bù khi linh hồn ấy biết được rằng kế hoạch của Chúa luôn luôn là muốn cho chúng ta cuối cùng rồi cũng sẽ tìm đến nhận biết Ngài.

Chúng ta yêu thích được thấy kẻ khác lý tưởng hoá chúng ta trong tâm trí họ. Đó là một trong những niềm hoan lạc thú vị của tình yêu. Chúng ta trở thành tươi mát, ngây thơ, can đảm, mạnh mẽ trong tâm trí người mình yêu. Tình yêu khoả lấp đi sự hư hoại của linh hồn. Nụ xuân mới làm ta quên đi mùa đông ảm đạm. Không bao lâu, kẻ đang yêu sẽ thay thế những gì hiện đang có trong trí mình bằng những gì hiện đang nằm trong tâm trí người kia. Đây chính là điều mà trong tình yêu thương xảy ra sự lý tưởng hoá khiến người ta rất hài lòng. Đó là lý do tại sao tình yêu làm cho người ta nên tốt đẹp hơn. Khi kẻ kia nghĩ tốt về chúng ta thì thường là chúng ta sẽ cố gắng làm sao cho xứng đáng với ý nghĩ ấy. Những kẻ khác nghĩ rằng chúng ta tốt thì đó quả là nguồn khích lệ to tát giúp chúng ta trở nên tốt. Đó cũng là lý do tại sao mà một trong những nguyên tắc nền tảng của cuộc sống là phải nghĩ tốt cho kẻ khác, làm như thế chúng ta sẽ giúp họ trở nên tốt.

Gm. Fulton Sheen