7. Đời Sống Mới Trong Thần Khí

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - ĐTC HUẤN TỪ CN25TN=B

  •  
    Tinh Cao
    Sun, Sep 19 at 6:40 AM
     
     

    ĐTC Phanxicô: Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật XXV Thường Niên Năm B

      

    Thân mến chào anh chị em,

    Bài Phúc Âm của Phụng vụ hôm nay (Mk 9:30-37) thuật lại rằng, trên đường đi Jerusalem, các môn đệ của Chúa Giêsu đang bàn luận "với nhau xem ai là người lớn nhất" (v.34). Bởi vậy mà Chúa Giêsu đã nói thẳng với các vị những lời nhức nhối vẫn còn hiệu năng cho tới ngày nay:

    "Nếu ai muốn làm đầu thì phải làm người thấp hèn nhất tất cả và làm đầy tớ của mọi người" (v.35). Nếu các con muốn làm đầu, các con cần phải ở vào chỗ cuối cùng và phục vụ hết mọi người. Bằng câu nói nẩy lửa này, Chúa muốn tung ra một thứ đảo ngược: Người lật đổ các tiêu chuẩn về những gì thực sự là chính yếu. Giá trị của con người không lệ thuộc vào vai trò của họ nữa, vào công việc họ làm, vào tiền bạc họ có trong ngân hàng. Không, không, không, nó không lệ thuộc vào những thứ ấy. Tính cách cao cả và thành đạt trước mắt của Thiên Chúa được đánh giá một cách khác hẳn: chúng được đánh giá bằng việc phục vụ. Không phải vào những gì ai đó có được, mà là vào những gì họ cho đi

    Anh chị em có muốn làm đầu hay chăng? Thì hãy phục vụ nhé. Như thế mới được.

    Ngày nay, chữ "phục vụ" được sử dụng có vẻ nhàm chán một chút. Thế nhưng nó có một ý nghĩa chính xác và cụ thể trong Phúc Âm. Phục vụ không phải là một thứ bày tỏ lịch sự, mà là tác hành như Chúa Giêsu, Đấng đã tóm gọn đời sống của mình bằng mấy chữ là Người đã đến "không phải để được phục vụ mà là để hầu hạ" (Mk 10:45).

    Đó là những gì Chúa đã nói. Bởi thế, nếu chúng ta muốn theo Chúa Giêsu, chúng ta cần phải theo đường lối chính Người đã vạch vẽ là đường lối phục vụ. Việc trung thành của chúng ta với Chúa lệ thuộc vào việc chúng ta sẵn sàng phục vụ. Chúng ta biết được làm như thế thì phải trả giá, bởi "hương vị thập giá của nó"Thế nhưng, khi mà việc chúng ta chăm sóc và trở nên thuận lợi cho người khác gia tăng, thì nội tâm của chúng ta trở nên tự do thanh thoát hơn, chúng ta trở nên giống như Chúa Giêsu hơn. Chúng ta càng phục vụ, chúng ta càng nhận thức được sự hiện diện của Thiên Chúa. Nhất là khi chúng ta phục vụ những ai không thể đáp đền, thành phần nghèo khổ, tỏ ra gắn bó với những khó khăn cùng nhu cầu của họ một cách dịu dàng cảm thương: để rồi ngược lại, chúng ta khám phá thấy được tình yêu thương và vòng tay ôm ấp của Thiên Chúa ở đó.

    Sau khi đã nói về tính chất chính yếu của việc phục vụ, Chúa Giêsu còn làm một điều để minh họa cho thấy nữa. Chúng ta đã thấy rằng các hành động của Chúa Giêsu còn mạnh mẽ hơn cả những lời Người nói. Vậy đâu là hành động này? Người đem một em nhỏ mà đặt em vào giữa các môn đệ, ngay tại trung tâm điểm, vào một vị thế quan trọng nhất (v.36). Trong Phúc Âm, con trẻ không tiêu biểu cho tình trạng vô tội cho bằng tính chất bé mọn. Vì như con trẻ, những con người nhỏ bé này lệ thuộc vào người khác, vào người lớn, chúng cần được đón nhận. Chúa Giêsu đã ôm lấy những con trẻ ấy mà nói rằng những ai đón nhận một con người bé nhỏ nào, đón nhận một con trẻ, là đón nhận Người (v.37). Những ai cần phải được phục vụ trên hết là những người cần được đón nhận mà không có gì đền đáp. Phục vụ những ai cần được đón nhận và không thể đáp đền. Khi đón nhận những ai sống ở bên lề xã hội, những con người bị bỏ rơi quên lãng là chúng ta đón nhận Chúa Giêsu, vì Người đang ở đó. Để rồi nơi con người bé nhỏ này, nơi con người nghèo khổ chúng ta phục vụ, chúng ta cũng nhận được vòng tay ôm ấp dịu dàng của Thiên Chúa.

    Anh chị em thân mến, được Phúc Âm thách thức, chúng ta hãy tự hỏi xem: là người theo Chúa Giêsu, tôi có chú ý tới những ai bị bỏ rơi hay chăng? Hay tôi lại tìm kiếm những gì là thoả mãn cá nhân mình, như các vị môn đệ hôm ấy? Tôi có cho rằng đời sống có tính cách đối chọi cạnh tranh để chiếm đoạt, bất chấp cái giá người khác phải trả, hay tôi tin rằng làm đầu tức là phục vụ? Một cách cụ thể hơn là tôi có cống hiến thời gian cho "một con người bé nhỏ", cho một ai đó không thể nào đền đáp cho tôi hay chăng? Tôi có quan tâm về một ai đó không thể trả lại cho tôi bất cứ sự gì chăng, hay chỉ quan tâm tới những người thân nhân và thân hữu của tôi thôi? Đó là những câu hỏi chúng ta phải tự vấn.

    Xin Trinh Nữ Maria, người tôi tớ khiêm hèn của Chúa, giúp chúng ta hiểu được rằng phục vụ không phải là làm cho chúng ta thụt xuống, mà là giúp chúng ta tăng trưởng. Và cho đi thì phúc hơn là nhận lãnh (cf Acts 20:35).

    (Sau Kinh Truyền Tin, trong số các điều ngỏ cùng cộng đồng dân Chúa bấy giờ, ĐTC nhắc đến Đức Mẹ La Salette như sau:)

    Tôi đang nghĩ đến những ai đang qui tụ lại ở Đền Thánh La Salette ở Pháp, nhân dịp kỷ niệm 175 năm biến cố hiện ra của Đức Mẹ châu lệ với hai con trẻ. Những giọt nước mắt của Mẹ Maria làm cho chúng ta nghĩ đến những giọt nước mắt của Giêsu thương thành Jerusalem và nỗi thống khổ của Người trong Vườn Nhiệt: những giọt nước mắt ấy là phản ảnh nỗi đớn đau của Chúa Kitô phải chịu vì tội lỗi của chúng ta và là một lời kêu gọi luôn hiện đại là hãy phó thác bản thân chúng ta cho lòng thương xót Chúa.

     

    https://www.vatican.va/content/francesco/en/angelus/2021/documents/papa-francesco_angelus_20210919.html

     

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

     

    --

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - ĐTC - THƯ GALATA

  •  
    Tinh Cao
    Wed, Sep 1 at 5:10 PM
     
     

     

    ĐTC Phanxicô: Giáo Lý về Thư Galata - Bài 7 - Những Người Galata Khờ Dại

      

    Xin chào anh chị em,

    Chúng ta sẽ tiếp tục việc dẫn giải của Thư Galata được Thánh Phaolô gửi Kitô hữu giáo đoàn Galata. Đây không phải là một điều gì mới mẻ, tức là việc dẫn giải này, nó không phải là cái gì đó của tôi: những gì TA đang học hỏi là những gì Thánh Phaolô nói hết sức xung khắc với Kitô hữu Galata.

    Nó cũng là Lời Chúa nữa, vì nó thuộc về Thánh Kinh. Chúng không phải là những gì được ai tạo ra: không. Nó là những gì đã xẩy ra vào thời đó và còn có thể tái diễn nữa. Đấy chỉ là một bài giáo lý về Lời Chúa được diễn tả trong Thư Thánh Phaolô gửi cho Giáo đoàn Galata; ngoài ra không còn gì khác. Cần phải nhớ như thế. Trong các bài giáo lý trước đây, chúng ta đã thấy cách thức Thánh Phaolô tỏ cho những Kitô hữu tiên khởi ở Galata mối nguy hiểm khi họ lìa bỏ đường lối họ đã bắt đầu hành trình bằng việc đón nhận Phúc Âm. Thật vậy, mối nguy cơ là ở chỗ chiều theo khuynh hướng hình thức, một trong những khuynh hướng dẫn đến chỗ giả hình, thái độ chúng ta đã nói đến ở những lúc khác. Việc chiều theo hình thức và chối bỏ phẩm vị mới mẻ mà họ đã lãnh nhận, phẩm vị của những ai được Chúa Kitô cứu chuộc. Đoạn thư chúng ta vừa nghe là đoạn bắt đầu phần hai của bức Thư này. Cho đến lúc này thì Thánh Phaolô đã nói về đời sống của ngài và ơn gọi của ngài: về cách thức ơn Chúa đã biến đổi cuộc sống của ngài, khiến ngài hoàn toàn dấn thân cho việc phục vụ phúc âm hóa. Đến đây, ngài trực tiếp thách thức những Kitô hữu Galata: ngài đưa cho họ những chọn lựa của họ và tình trạng bấy giờ của họ, những gì có thể vô hiệu hóa cảm nghiệm về ân sủng họ đã sống.

    Những từ ngữ được Vị Tông đồ này sử dụng để ngỏ cùng Kitô hữu Galata thật sự là không lịch sự gì hết, như chúng ta đã nghe thấy. Ở các Thư khác, chúng ta dễ dàng thấy được những lời bày tỏ như "Chư huynh" hay "các bạn thân mến"; ở đây lại không, vì ngài cảm thấy giận dữ. Ngài nói chung chung về Kitô hữu Galata, và không ít hơn 2 lần ngài cho họ là "khờ dại", một lời lẽ không được lịch sự. Khờ dại, cù lần, có thể mang nhiều ý nghĩa... Ngài nói thế không phải vì họ thiếu thông minh, mà vì, hầu như không ý thức, họ đang có nguy cơ mất đi đức tin nơi Chúa Kitô mà họ đã lãnh nhận hết sức nhiệt tâmHọ khờ dại vì họ không ý thức thấy rằng mối nguy hiểm ở đây là mối nguy hiểm bị mất đi kho tàng quí giá, mất đi vẻ đẹp, nơi tính chất mới mẻ của Chúa Kitô. Nỗi ngỡ ngàng và phiền muộn của vị Tông đồ này là những gì hiển nhiên. Cảm thấy đắng cay chua xót, ngài đã gợi lên cho những Kitô hữu này ký ức về việc loan báo ban đầu của ngài, được ngài cống hiến cho họ cái khả thể đạt tới một thứ tự do mới mẻ, bất ngờ có được cho tới lúc ấy.

    Vị Tông đồ này đặt vấn đề với Kitô hữu Galata, chủ ý làm cho họ bừng tỉnh lương tâm của họ: đó là lý do tại sao nó lại thật mãnh liệt như thế. Chúng là những vấn đề có tính cách hùng biện, vì Kitô hữu Galata ý thức rõ được rằng việc họ tin tưởng vào Chúa Kitô là hoa trái của ân sủng họ nhận được nhờ việc rao giảng Phúc Âm. Ngài đưa họ về lại khởi điểm của ơn gọi Kitô hữu. Lời mà họ đã nghe từ Thánh Phaolô đều tập trung vào tình yêu của Thiên Chúa, hoàn toàn được tỏ hiện nơi cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu. Thánh Phaolô không tìm thấy được một bày tỏ nào thuyết phục hơn những gì ngài có lẽ đã lập đi lập lại cho họ một số lần trong việc ngài rao giảng rằng: "Không phải là tôi sống nữa mà là Chúa Kitô sống trong tôi. Sự sống tôi hiện sống trong xác thịt đây là tôi sống niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương tôi và hiến Mình cho tôi" (Galata 2:20). Thánh Phaolô không muốn biết gì khác ngoài Chúa Kito tử giá (cf. 1Cor 2:2). Kitô hữu Galata cần phải nhìn vào biến cố này, đừng để mình bị phân tâm bởi những thứ rao truyền khác. Tóm lại - ý muốn của Thánh Phaolô là thúc bách các Kitô hữu hãy nhận thức được những gì đang nguy biến ở chỗ họ để mình bị thu hút bởi những tiếng nói của thành phần muốn dẫn họ tới một thứ đạo giáo chỉ biết tuân giữ các chỉ thị một cách thận trọng. Vì họ, thành phần rao giảng mới mẻ đã đến Galata, đã thuyết phục họ phải quay đầu trở lại với các luật lệ những người này đã tuân giữ và hoàn trọn trước khi Chúa Kitô xuất hiện, Đấng nhưng không ban ơn cứu độ.

    Ngoài ra, những Kitô hữu Galata đã hiểu rất rõ những gì vị Tông đồ này muốn nói tới. Họ thật sự đã cảm nghiệm được tác động của Thánh Linh nơi cộng đồng của họ, ở chỗ, như nơi các cộng đồng khác, dức bác ái và các đặc sủng khác nhau đã tỏ hiện cả giữa họ nữa. Khi bị thử thách, họ cần phải đáp lại để những gì họ đã nghiệm thấy trở thành hoa trái về tính chất mới mẻ của Thần Linh. Bởi thế, khởi điểm việc họ chấp nhận đức tin là việc khởi động của Thiên Chúa, chứ không phải bởi con người. Thánh Thần đã là tác nhân nơi cảm nghiệm của họ; vậy việc đẩy Thánh Linh vào hậu trường để ưu tiên cho c ác việc làm của họ - tức là việc hoàn trọn các chỉ thị của Lề Luật - sẽ là những gì liều lĩnh dại dột. Tính chất thánh đức là những gì xuất phát từ Thánh Linh và là việc cứu chuộc nhưng không của Chúa Giêsu: chúng ta được công chính hóa là như vậy.

    Như thế, Thánh Phaolô mời gọi cả chúng ta nữa hãy suy nghĩ xem chúng ta đang sống đức tin của chúng ta ra sao? Tình yêu của Chúa Kitô, Đấng tử giá và phục sinh, vẫn là tâm điểm của đời sống chúng ta hằng ngày như nguồn mạch cứu độ hay chăng, hay chúng ta cảm thấy hài lòng về một vài hình thức đạo nghĩa để xoa dịu lương tâm của chúng ta? Chúng ta đang sống đức tin của chúng ta ra sao? Chúng ta có gắn bó với kho tàng quí báu, với vẻ đẹp nơi tính chất mới mẻ của Chúa Kitô, hay chúng ta thích một cái gì đó thu hút chúng ta trong chốc lát nhưng rồi lưu lại trong chúng ta những gì là trống rỗng? Những gì là phù du thường hay gõ cửa trong những ngày sống của chúng ta, nhưng nó lại là một thứ ảo tưởng u buồn, khiến chúng ta nông nổi chiều theo và ngăn trở chúng ta khỏi nhận thức được những gì là thực sự đáng sống.

    Anh chị em ơi, tuy nhiên, chúng ta hãy tin tưởng rằng ngay cả khi chúng ta bị cám dỗ quay đi thì Thiên Chúa vẫn tiếp tục ban các tặng ân của Ngài. Qua giòng lịch sử, thậm chí ngay cả hôm nay đây, những sự việc xẩy ra giống như những gì đã xẩy ra cho Kitô hữu Galata. Ngay cả hôm nay đây, người ta hô hào chúng ta rằng: "Không, thánh đức là ở nơi các thứ chỉ thị này, nơi những điều kia, các bạn cần phải làm điều này điều nọ", và đề ra một thứ đạo nghĩa có tính cách uyển chuyển, một tính chất uyển chuyển lấy đi khỏi chúng ta cái tự do theo Thần Linh được ơn cứu chuộc của Chúa Kitô ban cho chúng ta. Hãy coi chứng tính cách cứng cỏi họ đề ra cho anh chị em: hãy cẩn thận. Vì ở đằng sau hết những gì là uyển chuyển đều có một cái gì xấu xa tệ hại, không xuất phát từ Thần Linh Chúa. Đó là lý do bức Thư này sẽ giúp chúng ta không nghe theo thánh phần có vẻ bảo thủ này đề ra để làm cho chúng ta thoái hóa đời sống thiêng liêng của chúng ta, và sẽ giúp chúng ta tiến bước  theo ơn gọi vượt qua của Chúa Giêsu.

     Đó là những gì vị Tông đồ này lập lại cho Kitô hữu Galata, khi ngài nhắc nhở họ rằng Chúa Cha "ban Thần Linh cho anh em và thực hiện các phép lạ giữa anh em" (3:5). Ngài nói ở thời hiện tại, ngài không nói "Chúa Cha đã ban cho anh em Thần Linh", đoạn 3, câu 5, không, ngài nói "đang ban"; ngài không nói "đã thực hiện" mà là "đang thực hiện". Vì, bất chấp tất cả mọi khó khăn chúng ta có thể gây ra cho tác động của mình, Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi chúng ta, trái lại còn ở với chúng ta bằng tình yêu nhân hậu của Ngài. Ngài như một người cha hằng ngày ngong ngóng đứa con của mình trở về: tình yêu thương này của Chúa Cha không bao giờ biết mỏi mệt về chúng ta.

    Chúng ta hãy xin ơn khôn ngoan luôn nhận thức được thực tại này, và hãy tránh xa thành phần bảo thủ đề ra một đời sống khắc khổ có tính cách nhân tạo, đẩy xa khỏi cuộc phục sinh của Chúa Kitô. Việc khổ hạnh thì cần thiết đấy, nhưng khổ hạnh một cách khôn ngoan chứ không phải một cách nhân tạo.

     https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210901_udienza-generale.html

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

     

    DTCPhanxico.ThuGalata-7.mp3  

     

    --

     

ĐÒI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ

  •  
    Tinh Cao
     
     

    ĐTC Phanxicô: Giáo Lý về Thư Galata

     

    Bài 5 - Lề Luật như giám hộ viên

      

    Xin chào anh chị em!

    Thánh Phaolô, vị đã kính mến Chúa Giêsu và đã hiểu rõ ơn cứu độ là gì, đã dạy chúng ta rằng "con cái của lời hứa" (Galata 4:28) - tức là tất cả chúng ta đây, thành phần đã được công chính hóa bởi Chúa Giêsu Kitô - thì không còn lệ thuộc vào Lề Luật nữamà là được kêu gọi thực hành lối sống tự do cần có của Phúc Âm. Tuy nhiên, Lề Luật vẫn còn đó. Thế nhưng  còn đó một cách khác, ở chỗ, vẫn Lề Luật như vậy, vẫn Thập Giới, mà bằng một cách khác, vì tự mình nó không còn được công chính khi Chúa đến. Bởi thế, trong bài giáo lý hôm nay, tôi muốn giải thích điều này. Chúng ta đặt vấn đề: Theo Thư Galata thì đâu là vai trò của Lề Luật? Trong đoạn thư chúng ta vừa nghe, Thánh Phaolô đã nói rằng Lề Luật giống như một giám hộ viên. Đó là một hình ảnh đẹp đẽ, hình ảnh về thứ giám hộ chúng ta đã nói đến trong buổi triều kiến chung vừa rồi, một hình ảnh đáng được tìm hiểu đúng với ý nghĩa của nó.

    Vị Tông đồ này dường như gợi ý là Kitô hữu hãy chia lịch sử cứu độ ra làm hai phầnnhư câu truyện đời của ngài. Có hai giai đoạn: trước khi trở thành tín hữu tin vào Chúa Giêsu Kitô và sau khi đã lãnh nhận đức tin. Ở tâm điểm của hai giai đoạn này là biến cố tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu, một biến cố được Thánh Phaolô giảng dạy để tác động lòng tin tưởng vào Người Con của Thiên Chúa, nguồn mạch ơn cứu độ, và nơi Chúa Giêsu Kitô chúng ta được công chính hóa. Bởi thế, khởi đi từ lòng tin vào Chúa Kitô mới có chuyện Lề Luật có "trước đó" và "sau đó", vì Lề Luật vẫn còn đó, Thập Giới vẫn còn đó, thế nhưng thái độ lại khác nhau trước khi Chúa Giêsu xuất hiện và sau đó. Lịch sử trước đó được xác định là "lệ thuộc Lề Luật". Con người sống theo Lề Luật thì được cứu độ, được công chính hóa; giai đoạn lịch sử tiếp sau đó, tức giai đoạn sau khi Chúa Giêsu xuất hiện, lại sống theo Thánh Linh dẫn dắt (Galata 5:25). Đây là lần đầu tiên Thánh Phaolô sử dụng cụm từ: "lệ thuộc Lề Luật". Ý nghĩa sâu xa này ám chỉ một sự qui phục tiêu cực, tiêu biểu cho thành phần nô lệ: "bị lệ thuộc". Vị Tông đồ này làm sáng tỏ vấn đề khi nói rằng nếu một người "lệ thuộc Lề Luật" thì như thể bị "canh giữ" và "gò bó", một thứ bảo hộ phòng ngừa. Thánh Phaolô nói rằng giai đoạn này đã kéo dài một thời gian lâu dài - từ Moisen, cho tới khi Chúa Giêsu xuất hiện - và mãi mãi tồn tại với những ai sống trong tội lỗi.

    Mối liên hệ giữa Lề Luật và tội lỗi sẽ được diễn giải một cách có hệ thống hơn nơi Thư Roma, được viết ít năm sau Thư Galata. Tóm lại, Lề Luật dẫn đến xác định những gì là vi phạm và làm cho dân chúng nhận thức được tội lỗi của họ: "Anh em đã làm như thế nên Lề Luật - Thập Giới - mới nói rằng anh em phạm tội". Hay nói cách khác, như kinh nghiệm chung cho thấy, thứ luật này đưa đến chỗ tác động việc vi phạm. Trong Thư Roma, ngài viết: "Khi chúng ta còn bị tính xác thịt chi phối, thì các đam mê tội lỗi dùng Lề Luật mà hoạt động nơi các chi thể chúng ta, để chúng ta sinh hoa kết quả đưa tới cái chết. Nhưng nay, chúng ta không còn bị Lề Luật ràng buộc nữa, vì chúng ta đã chết đối với cái vẫn giam hãm chúng ta" (Roma 7:5-6) Tại sao? Vì việc công chính hóa của Chúa Giêsu Kitô đã tới. Thánh Phaolô bày tỏ vắn gọn quan điểm của ngài về Lề Luật như thế này: "Tử thần có độc là vì tội lỗi, mà tội lỗi có mạnh cũng tại có Lề Luật" (1Corinto 15:56). Một thứ trao đổi: anh em lệ thuộc lề luật và anh em ở đó như mở đường cho tội lỗi.

    Theo chiều hướng ấy thì lề luật đóng vai giám hộ viên như được ám chỉ mới trọn vẹn ý nghĩa. Thế nhưng, Lề Luật là giám hộ viên dẫn anh em đi đâu? Đi đến với Chúa Giêsu. Theo đường lối học thức cổ thời thì giám hộ viên đây không có phận sự được chúng ta qui cho như ngày nay, tức là phận vụ nâng đỡ trợ giúp việc học hành của con trẻ nam nữ nào đó. Trái lại, vào thời ấy thì người này là một kẻ nô lệ có phận sự dẫn đứa con của vị chủ nhân đến thày giáo rồi sau đó mang con của chủ trở về nhà. Người này bảo vệ đứa nhỏ cần phải trông coi cho khỏi nguy hiểm và canh chứng nó cho khỏi các hành vi cử chỉ xấu. Phận vụ của người nô lệ đi trông coi con của chủ này thật sự là việc kèm giữ. Khi đứa nhỏ trưởng thành thì giám hộ viên này hết phận sự. Giám hộ viên được Thánh Phaolô ám chỉ ở đây không phải là thày giáo, mà là người đi kèm theo đứa nhỏ được giao cho kèm giữ, người canh chừng đứa bé và đưa nó về lại nhà.

    Việc qui cho Lề Luật những ý nghĩa như thế giúp cho Thánh Phaolô có thể làm sáng tỏ vai trò của Lề Luật trong lịch sử của dân Do Thái. Ngũ Kinh, tức là Lề Luật, là một hành động hào phóng của Thiên Chúa đối với dân của Ngài. Sau việc tuyển chọn Abraham là một hành động cao cả khác Ngài tỏ ra đó là Lề Luật, ở chỗ chỉ cho dân Ngài con đường phải theo. Thật sự là nó có những phận vụ rào chắn, nhưng đồng thời nó lại bảo vệ dân của Ngài, nó đã giáo huấn họ, no đã kỷ cương họ và đã nâng đỡ họ nơi tình trạng yếu kém của họ, nhất là nó đã bảo vệ họ khỏi chiều hướng ngoại giáo; vào thời ấy có rất nhiều thái độ ngoại đạo. Ngũ Kinh dạy rằng: "Chỉ có một Thiên Chúa duy nhất và Ngài đã đưa chúng ta vào con đường của chúng ta". Một hành động thiện hảo của Chúa. Như tôi đã nói, nó thật sự là có những phận vụ rào chắn, nhưng đồng thời nó lại bảo vệ dân của Ngài, nó đã giáo huấn họ, no đã kỷ cương họ và đã nâng đỡ họ nơi tình trạng yếu kém của họ. Đó là lý do tại sao vị Tông đồ này tiếp tục diễn tả câu nói về lứa tuổi non dại. Ngài nói: "Bao lâu người thừa kế còn là thiếu niên thì không khác gì một nô lệ, mặc dù là chủ mọi tài sản. Nó phải ở dưới quyền những người giám hộ và quản lý, cho đến khi mãn hạn người cha đã định. Chúng ta cũng vậy, khi còn là thiếu niên, chúng ta phải làm nô lệ những yếu tố của vũ trụ". (Galata 4:1-3). Nói tóm lại, niềm xác tín của vị Tông đồ này là ở chỗ Lề Luật thật sự đóng một vai trì tích cực - như giám hộ viên kèm giữ người mình coi sóc - thế nhưng nó có một nhiệm vụ giới hạn về thời gian. Nó không thể kéo dài quá xa, vì nó liên hệ tới tầm mức trưởng thành của cá nhân cùng với việc tự do chọn lựa của họ. Khi người ta biết tin tưởng thì Lề Luật mất giá trị kèm giữ của nó và phải nhường bước cho một thẩm quyền khác. Như thế nghĩa là gì? Nghĩa là sau Lề Luật chúng ta có thể nói: "Chúng tôi tin vào Chúa Giêsu Kitô và chúng tôi làm những gì chúng tôi muốn?" Không! Các Giới Răn vẫn còn đó, thế nhưng nó không còn công chính hóa chúng ta. Điều làm cho chúng ta nên công chính đó là Chúa Giêsu Kitô. Các Giới Răn cần phải tuân giữ, thế nhưng chúng không mang lại cho chúng ta sự công chính; đã có những gì là nhưng không của Chúa Giêsu, việc gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô mới hoàn toàn công chính hóa chúng ta. Công trạng của đức tin là lãnh nhận Chúa Giêsu. Chỉ có một công trạng duy nhất đó là cởi mở cõi lòng. Vậy chúng ta phải làm gì với các Giới răn đây? Chúng ta cần phải tuân giữ các Giới răn, nhưng như là một thứ phụ giúp để gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô thôi.

    Giáo huấn về giá trị của Lề Luật này là những gì rất quan trọng, và đáng được cẩn thận suy xét để chúng ta khỏi bị hiểu lầm và trở nên sai lệch. Thật là hữu ích khi chúng ta tự vấn xem chúng ta vẫn sống trong giai đoạn chúng ta cần đến Lề Luật, hay trái lại chúng ta hoàn toàn nhận thức được mình đã lãnh nhận ơn được làm con cái của Thiên Chúa hầu sống trong yêu thương. Chúng ta đang sống ra sao? Bằng nỗi sợ hãi là nếu tôi không làm như thế thì tôi sẽ sa hỏa ngục? Hay tôi sống với cả niềm hy vọng, với niềm vui về ơn cứu độ nhưng không nơi Chúa Giêsu Kitô? Đó là một câu hỏi cần. Cả câu thứ hai này nữa: Tôi có coi thường các Giới răn hay chăng? Không. Tôi tuân giữ chúng, nhưng không tuyệt đối, vì tôi biết rằng chính Chúa Giêsu Kitô là Đấng công chính hóa tôi.

     

    https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210818_udienza-generale.html

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

     

    --

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - ĐTC - HUẤN TỪ CN21TN-B

  •  
    Tinh Cao

     

    ĐTC Phanxicô: Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật XXI Thường Niên Năm B

     

    Thân mến chào anh chị em,

    Bài Phúc Âm cho phụng vụ hôm nay (Jn 6:60-69) cho chúng ta thấy phản ứng của đám đông, và của những người môn đệ, với bài nói của Chúa Giêsu sau phép lạ những ổ bánh được tăng bội. Chúa Giêsu đã mời gọi họ hãy suy diễn cái dấu chỉ ấy và hãy tin vào Người, Đấng là bánh thực sự từ trời xuống, thứ bánh sự sống; và Người đã mạc khải cho biết rằng thứ bánh Người sẽ ban cho ấy chính là mình của Người và máu của Người. Đó là những lời lẽ nghe có vẻ ngang ngược khó nghe đối với con người ta, đến độ, vào lúc ấy, như Phúc Âm cho biết, nhiều môn đệ của Người đã bỏ đi; tức là họ không theo vị Thày này nữa (vv.60,66). Bấy giờ Chúa Giêsu mới hỏi 12 Vị: "Các con cũng có muốn ra đi hay chăng?", nên Phêrô, thay cho cả nhóm, khẳng định các vị quyết ở lại với Người: "Lạy Thày, chúng con còn biết theo ai đây? Thày mới có những lời sự sống đời đời; chúng con đã tin và đã nhận biết rằng Thày là Đấng Thánh của Thiên Chúa" (Gioan 6:68-69). Đó là một lời tuyên xưng đức tin tuyệt vời.

    Chúng ta hãy vắn tắt nhìn vào thái độ của những ai rút lui, không còn theo Chúa Giêsu nữa. Việc bất tin tưởng này từ đâu mà có vậy? Đâu là lý do cho việc tẩy chay này?

    Những lời lẽ của Chúa Giêsu đã làm bùng lên một tệ hại cả thể: Người đã nói rằng Thiên Chúa đã quyết định tỏ mình ra và hoàn thành ơn cứu độ bằng tính chất yếu hèn của xác thịt loài người. Đó là mầu nhiệm nhập thể. Việc Thiên Chúa nhập thể là những gì quái gở, gây trở ngại cho những con người ấy - thế nhưng, thường cũng cho cả chúng ta nữa. Thật vậy, Chúa Giêsu khẳng định rằng thứ bánh cứu độ thực sự, thứ bánh truyền đạt sự sống đời đời, là chính thịt của Người; vì thế, để được hiệp thông với Thiên Chúa, trước khi tuân giữ luật lệ hay chu toàn các chỉ thị của đạo giáo, cần phải sống mối liên hệ thực sự và cụ thể với Người đã. Bởi ơn cứu độ từ Người mà có, nơi việc nhập thể của Người. Tức là người ta không được theo đuổi Thiên Chúa một cách mơ màng, tưởng tượng ra những gì là lớn lao cao cả quyền thế, nhưng Ngài cần phải được nhận biết nơi nhân tính của Chúa Giêsu, để rồi, nơi cả nhân tính của anh chị em chúng ta gặp gỡ trên đường đời. Thiên Chúa đã biến mình thành xác thịt. Và khi chúng ta nói điều ấy, theo Kinh Tin Kính, vào Ngày Lễ Giáng Sinh, hay vào Lễ Truyền Tin, chúng ta quí gối xuống thờ lạy mầu nhiệm nhập thể. Thiên Chúa đã biến mình thành thịt và máu; Ngài đã hạ mình xuống tới độ trở thành một con người như chúng ta. Ngài đã khiêm hạ tới độ gánh váo vào thân những đau khổ và tội lỗi của chúng ta, và vì thế Ngài xin chúng ta đừng tìm kiếm Ngài ở bên ngoài đời sống và lịch sử, mà nơi mối liên hệ với Chúa Kitô cũng như với anh chị em của chúng ta. Tìm kiếm Ngài trong đời, nơi lịch sử, trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Anh chị em thân mến, con đường dẫn đến cuộc gặp gỡ Thiên Chúa là ở mối liên hệ với Chúa Kitô cũng như với anh chị em của chúng ta.

    Ngay cả đến hôm nay đây, việc Thiên Chúa mạc khải nơi nhân tính của Chúa Giêsu vẫn có thể gây ra tệ hại và không dễ gì chấp nhận đâu. Đó là những gì Thánh Phaolô gọi là "cái điên rồ" của Phúc Âm trước mắt những ai tìm kiếm các phép lạ hay những gì là khôn ngoan trần thế (cf.1Cor 1:18-25). "Tính chất quái gở tệ hại" này được tiêu biểu rõ ràng nơi bí tích Thánh Thể: trước mắt thế gian thì có nghĩa lý gì khi quì gối trước một miếng bánh chứ? Tại sao trên đời này lại có những người cần phải được chuyên cần nuôi dưỡng bằng thứ bánh này chứ? Thế gian cảm thấy thật là quái gở.

    Trước việc làm kỳ diệu của Chúa Giêsu, Đấng đã sử dụng 5 ổ bánh và 2 con cá để nuôi hàng ngàn người, thì hết mọi người đều tung hô Người và muốn tôn vinh Người làm Vua. Thế nhưng, khi Người dẫn giải cho họ biết rằng cử chỉ ấy là dấu chỉ về sự hy sinh của Người, tức là về việc Người hiến ban mạng sống của Người, hiến ban thịt và máu của Người, và những ai muốn theo Người thì phải nên giống Người, nên giống như nhân tính của Người, được dâng hiến cho Thiên Chúa và người khác, thì bấy giờ là xong, vị Giêsu này không còn được yêu thích nữa, nhân vật Giêsu này đã khiến chúng ta hoảng lên. Trái lại, chúng ta lại cần phải lo rằng nếu Người không làm cho chúng ta hoảng lên, khi chúng ta đã có thể hạ thấp sứ điệp của Người xuống! Chúng ta hãy xin ơn biết để bản thân mình được khơi động lên và hoán cải trước "những lời sự sống đời đời" của Người. Xin Rất Thánh Maria, vị đã cưu mang Người Con Giêsu của Mẹ nơi xác thịt và đã liên kết bản thân Mẹ với hy tế của Người, giúp chúng ta luôn làm chứng cho đức tin của chúng ta trong cuộc sống thực hữu của chúng ta.  

    https://www.vatican.va/content/francesco/en/angelus/2021/documents/papa-francesco_angelus_20210822.html

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

     

     

    --

     

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ

  •  
    Chi Tran
    THỞ HÍT THẦN KHÍ - SINH LẠI BỞI THÁNH THẦN

     


    HÍT THỞ SỰ SỐNG CHÚA BAN

     

    Khi đã nằm xuống và sắp sửa ngủ, trong khoảng thời gian bằng đọc một kinh Kính Mừng, tưởng nghĩ đến giờ tôi phải thức dậy và để làm gì. 

     

    Ngày nào cũng thế, đệ tử chỉ hỏi Minh Sư mỗi một câu: “Làm thế nào con gặp được Thượng Đế?” Và ngày nào Minh Sư cũng trả lời một câu giống nhau, đầy bí ẩn: “Bằng sự ước muốn.” “Nhưng con ao ước Thượng Đế hết tâm hồn! Vậy tại sao con không gặp được Ngài?

     

    Ngày kia, có dịp Minh Sư cùng đệ tử đó đi tắm trong một dòng sông. Ngài dìm đầu đệ tử xuống nước và cứ giữ như thế trong khi đệ tử đáng thương kia vùng vẫy một cách tuyệt vọng để cố thoát thân. Hôm sau, Minh Sư bắt đầu gợi chuyện: “Tại sao con cố vùng vẫy như thế khi thầy dìm đầu con xuống nước?” “Bởi vì con muốn hít thở không khí.” “Khi con nhận lãnh ơn khao khát hít thở Thượng Đế cũng như con khao khát hít thở không khí thì con sẽ gặp gỡ Ngài.”[1]

     

    Trò chuyện thiêng liêng:

    Khi đọc câu chuyện của cha Anthony de Mello trên đây, tôi nhớ đến người bạn chia sẻ với tôi rằng: “Thầy biết không, lúc con bị nhiễm Covid-19, cảm giác khó thở thật kinh khủng. Con như sắp chết vậy. Những giờ khắc đó con ước sao mình được hít thở không khí một cách bình thường. Tạ ơn Chúa đã cho con được vượt qua căn bệnh khủng khiếp ấy.” Hoặc một linh mục viết trong những ngày bị nhiễm Covid: “Tạ ơn Chúa, sức khỏe dần dần trở lại, đầu cũng bớt choáng váng, ăn ngon hơn, ăn được nhiều hơn, không còn sợ ăn, không còn sợ nước, không còn cảm giác nóng lạnh hay khó thở…Không phải uống thuốc, không còn những buổi chiều nóng lạnh ngồi trong nhà nguyện mà chỉ mong thánh lễ mau qua…Mình đã có thể hát trong thánh lễ, dù cho vẫn còn yếu thấy rõ, nhưng đi đứng, đối đáp và hát thì đã gần như bình thường. Đi dạo được nhiều hơn, dầu cho hít thở sâu vẫn là một cái gì đó khó chịu, không giữ hơi trong lòng ngực được lâu, nhưng cảm giác cơ thể tiếp nhận khí trời và sự thanh lọc trong cơ thể đang diễn ra…” Đúng là chỉ khi trong cuộc mới trải nghiệm được thế nào là hiểm nguy và cần thở.

     

    Bạn thân mến,

    Không cần nói, ai cũng biết hơi thở liên quan đến sự sống của con người. Chết nghĩa là tắt thở, còn thở nghĩa là còn sự sống trong mình. Không ai muốn chết, nghĩa là ai cũng muốn được hít thở khí trời. Có lẽ trong lần đại dịch này, virus cũng cho chúng ta thấy giá trị của bầu không khí trong lành mà Thiên Chúa ban tặng cho con người. Chúng ta chia sẻ với những bệnh nhân đang phải cần máy trợ thở lúc này. Lời cầu nguyện của từng người hy vọng Thiên Chúa giúp họ được hồi sinh. Mong sao dưỡng khí đủ để các bệnh nhân vượt qua sức công phá của virus Corona.

     

    Trong câu chuyện trên đây, chúng ta có thể biết thêm được một cách cầu nguyện bằng hít thở. Chọn một tư thế thật thoải mái, nơi thoáng mát và yên lặng. Sau đó hít chậm rãi thật sâu với ý nguyện: “Lạy Chúa Thánh Thần xin ngự vào tâm hồn con.” Nín thở một chút, sau đó thở ra thật mạnh với ý nguyện: “Lạy Chúa, này con đây.” Nếu thực tập điều này trong vài phút, chắc chắn bạn đủ dưỡng khí và tâm hồn cũng được chút bình an. Bạn có thể kết thúc với lời nguyện của Đức Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận: “Lạy Chúa Giêsu, con sẽ không chờ đợi nữa. Con sống giây phút hiện tại cho tràn đầy tình yêu.” Cách cầu nguyện này thật thích hợp trong ngôi nhà của bạn, có thể trước cửa sổ mở hoặc ngoài sân.

     

    Ở vế hai, vị Minh sư trên đây nhắc đến một yếu tố quan trọng giúp bạn cầu nguyện gặp được Thiên Chúa: Ước muốn. Điều này không mới trong linh đạo, khi các nhà thiêng liêng khuyên người cầu nguyện nuôi lòng ao ước gặp Thiên Chúa. Chẳng hạn thánh I-nhã trước mỗi bài cầu nguyện, bao giờ cũng nhắc người ta cần có lòng ao ước (xin điều tôi ao ước). Thậm chí nếu chưa có ao ước này, thì người cầu nguyện cần xin với Chúa cho con “có lòng ao ước điều ao ước!” Lý do là người ta chỉ làm thành công với mục tiêu và lòng muốn. Để có được điều này, thánh I-nhã cũng chỉ cho người ta vài cách (x. Linh Thao 73-90):

     

    - 1. Khi đã nằm xuống và sắp sửa ngủ, trong khoảng thời gian bằng đọc một kinh Kính Mừng, tưởng nghĩ đến giờ tôi phải thức dậy và để làm gì.

    - 2. Khi thức dậy không nghĩ đến gì khác, nhưng để tâm vào ngay điều tôi sắp suy ngắm, cầu nguyện.

     

    Như vậy với quỹ thời gian dồi dào như lúc này, thật tốt để trong những bận tâm của tôi luôn có ao ước đến gặp gỡ Thiên Chúa. Ao ước ấy nếu mạnh như nhu cầu hít thở không khí, chẳng lẽ Thiên Chúa không đưa bạn đến với Ngài sao? Nói cách khác, ngay khi bạn có ao ước cầu nguyện, đến gặp Chúa là bạn đã thực sự cầu nguyện rồi. Hơn nữa, Giáo hội dạy rằng: “cầu nguyện là ân huệ, là quà tặng của Thiên Chúa, phát xuất từ nỗi khát của Thiên Chúa khao khát con người chúng ta; cầu nguyện cũng xuất phát từ nỗi khao khát của con người chúng ta, nỗi khát này lại do chính Thiên Chúa đã đặt trong con người. Hai nỗi khát này tìm nhau, trao đổi, làm thỏa mãn cơn khát của nhau, đó là cầu nguyện.[2]

     

    Để kết thúc, bạn thử dừng lại, hít thở thật sâu và thở ra thật mạnh. Thử làm đôi phút! Rồi với trải nghiệm thú vị này, bạn thử mời gọi các thành viên trong nhà làm theo. Hy vọng các thành viên đều cảm nhận được hiệu quả mà khí trời mang lại. Điều quan trọng hơn, đừng quên không khí, sự sống là món quà Thiên Chúa dành tặng nhưng không cho con người.

    Đành rằng Trong tự nhiên, oxy tự nhiên được sinh ra từ việc phân giải nước trong quá trình quang hợp oxy dưới tác động của ánh sáng, nhưng đó là công trình của Chúa. Từ thuở tạo thiên lập địa, Ngài đã quan phòng trao tặng vũ trụ này cho con người chăm sóc và hưởng dùng. Có lẽ lúc này là thời gian để mỗi người nói lên lời cảm ơn, chúc tụng và ngợi khen Thiên Chúa, vì hồng ân sự sống Chúa ban trong bầu khí quyển này.

     

    Giuse Phạm Đình Ngọc, SJ

     

     


    [1] Anthony de Mello SJ, Một Phút Minh Triết, dịch giả Đỗ Tân Hưng

    [2] Xem Youcat dẫn nhập phần IV