7. Đời Sống Mới Trong Thần Khí

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ-CẬU BÉ ĐƯỢC TUYÊN PHONG.

Cậu bé ăn xin được tuyên phong đầy tớ Chúa

Đầy tớ Chúa là bước đầu tiên để có thể tuyên thánh (gồm ba bước: Đầy tớ Chúa – Á thánh – Hiển thánh) cho một người đã chết, nhưng được nhìn nhận có những nhân đức anh hùng trong khi còn ở dương thế.

Từ khu ổ chuột, một thiếu niên Phi Luật Tân được Tòa Thánh công nhận là Đầy tớ Chúa ngày 7.11.2018, vì luôn truyền cảm hứng của lòng tin, sự thánh thiện, niềm vui sống, tình yêu cuộc sống… cho đến khi trút hơi thở ở tuổi 17.

1. TUỔI THƠ BẤT HẠNH.

Darwin Ramos sinh tại khu ổ chuột của thành phố Pasay, ngoại ô Manila, Phi Luật Tân ngày 17.12.1994, trong một gia đình nghèo khổ. Mẹ là thợ giặt ủi. Cha nghiện rượu nặng. Khi Darwin đủ khôn lớn, người cha bắt cậu và đứa em gái Marimar đi bới rác kiếm tiền. Hai anh em không được đi học.

Lúc 5 tuổi, không hiểu sao cơ bắp Darwin Ramos cứ yếu dần. Cậu thường xuyên vấp té. Năm lên 7, hai chân càng lúc càng đau nhức, cuối cùng, cậu không thể tự đứng. Bác sĩ chẩn đoán cậu bị chứng loạn dưỡng cơ Duchenne. 

Lẽ ra, biết con mình đau đớn bệnh tật, cha của cậu phải lo chạy chữa và cho con nghỉ ngơi. Ngược lại, ông lại thấy đây là cơ hội kiếm tiền. Mỗi sáng ông đưa đứa con tật nguyền tội nghiệp tới ga xe lửa Libertad, gần nhà để ăn xin. 

Xót xa hơn, ông bắt cậu phải cho mọi người qua lại nhìn thấy đôi chân tật nguyền để đánh động lòng thương, sự trắc ẩn mà có thể có nhiều tiền…

Bất cứ ai biết hoàn cảnh của Darwin đều cảm thương cậu. Còn bản thân, với sự tốt bụng và hiền lành vốn có, dù mỗi ngày chỉ xin được ít tiền và bị cha lấy để uống rượu, Darwin không buồn, ngược lại, cậu thấy vui vì nghĩ, dù bệnh tật, mình vẫn có thể giúp mẹ và còn có thể có ích cho gia đình. 

Cứ thế, trong nhiều năm, cuộc sống vất vả của Darwin vẫn phải tiếp tục trong hoàn cảnh: chui rúc trong khu ổ chuột, khuyết tật, chịu đựng sự đau đớn của căn bệnh, sống đói nghèo, và ăn xin…

2. THAY ĐỔI LỚN.

Đầu năm 2006, các chi dưới của Darwin hoàn toàn bất động. Mỗi khi di chuyển, cậu phải dùng tay để trườn người cách hết sức vất vả.

Cho đến một ngày, một nhóm giáo dục viên đường phố đến Libertad và phát hiện Darwin đang lê lết trên sân ga. Họ là những người thuộc Tổ chức Nhịp cầu nối với Trẻ em. Họ mang sứ mạng giúp đỡ người khyết tật và trẻ em tàn tật, bị vứt bỏ, sống lang thang trên đường phố Manila.

Sau nhiều lần chuyện trò, Darwin đồng ý theo họ về Trung Tâm Đức Mẹ Guadalupe, nơi nuôi dưỡng trẻ em tật nguyền. Cuộc đời Darwin bất ngờ biến đổi. Cậu được chăm sóc tử tế. Bệnh dù không thể khỏi, nhưng ít ra, cậu được quan tâm chu đáo và không phải ăn xin, không phải lê lết trên đường phố. 

Tại đây, lần đầu tiên Darwin được biết đức tin Kitô giáo. Cậu mau chóng yêu mến Chúa Giêsu và đức tin. Dần dà, cậu khao khát trở thành Kitô hữu.

Darwin được lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy ngày 23.12.2006. Một năm sau, ngày 22.12.2007, cậu được rước lễ lần đầu và lãnh nhận bí tích Thêm Sức. 

3. HẠNH PHÚC TRONG CHÚA.

Những người bị loạn dưỡng cơ Duchenne sẽ ảnh hưởng đến tim và phổi. Vì thế, Cậu càng lúc càng khó thở, cần được hỗ trợ bằng những điều trị y khoa. 

Trong khi tình trạng bệnh tật mỗi ngày một tồi tệ, đức tin của Darwin vào Thiên Chúa càng lúc càng sâu sắc hơn, mãnh liệt hơn. Mối tương quan của cậu với riêng Chúa Giêsu càng ngày càng phát triển. 

Cậu như chìm sâu vào lòng thương xót của Người đến độ, chính sự gắn kết chặt chẽ giữa cậu với Chúa Giêsu làm cho cậu được an ủi, được hạnh phúc lớn. Niềm an ủi và hạnh phúc này giúp cậu cảm thấy như không còn đau đớn và thống khổ về mặt thể xác. Người ta chưa bao giờ nghe cậu nói về bệnh tật, mà chỉ nghe cậu nói đến “nhiệm vụ vì Chúa Giêsu”. 

Cậu dâng lên Chúa Giêsu mọi đau khổ như dâng chính hiến lễ đời mình. Cậu chấp nhận thánh giá và kết hợp cùng thánh giá của Chúa để thánh hóa mình. Có lần cậu nói với một linh mục trong ban điều hành trung tâm: “Con nghĩ, Chúa Giêsu muốn con kiên cường tới cùng, giống như Người vậy”.

4. ĐỐI VỚI MỌI NGƯỜI XUNG QUANH. 

Như có sức mạnh thiêng liêng kỳ diệu kể từ ngày đón nhận đức tin, vốn hiền từ, Darwn lại càng dễ mến hơn. Người ta thấy cậu cười nhiều hơn. Dù bệnh tật có tấn công đến mức nào, cậu vẫn giữ nét mặt thật đẹp, đôi môi thật tươi. Nụ cười của Darwin sáng ngời, có sức đem lại niềm vui cho bất cứ ai cậu gặp gỡ. Cậu hoàn toàn mở lòng với hết mọi người để sống với mọi người càng lúc càng thân thiện hơn, hạnh phúc hơn…

5. TUẦN THÁNH CỦA RIÊNG BẢN THÂN.

Cứ thế, Darwin Ramos kiên cường chóng chọi với bệnh tật. Và rồi điều tồi tệ nhất vẫn xảy ra. Nhiều chứng nhân kể lại những ngày cuối của Darwin Ramos như là  tuần Thánh của riêng cậu. Cậu chiến đấu bất khuất, dũng cảm trong đức tin tuyệt đối vào Chúa Giêsu và phó thác cho Người đến cùng.

Ngày Thứ Hai, 16.9.2012, Darwin không thể thở nên phải dùng máy trợ thở. Cậu chỉ giao tiếp với mọi người bằng cách viết vào một cuốn sổ. 

Thứ Năm 20.9.2012, Darwin viết rằng cậu đang trải qua cuộc chiến tâm linh với ma quỷ. 

Thứ Sáu, đúng ngĩa là thứ Sáu tuần Thánh, 21.9.2012, Darwin viết hai lời cuối vào sổ tay: “Rất cảm ơn” và “Con rất hạnh phúc”. Darwin được lãnh nhận bí tích xức dầu. Sau đó cậu im lặng cho đến hết ngày thứ Bảy, một thứ Bảy tuần Thánh của bản thân theo đúng ngày thứ Bảy tuần Thánh ngủ yêu mà Chúa Giêsu đã từng trải qua.

Chúa nhật 23.9.2012, Darwin Ramos chính thức tham dự lễ Phục Sinh của Chúa Giêsu bằng sự hiến dâng trọn vẹn cuộc đời, linh hồn và thân xác của mình. 

Darwin Ramos vĩnh viễn rời bỏ trần gian ở tuổi 17, lứa tuổi đẹp nhất đời người. Đức Giám mục Honesto Ongtioco của giáo phận Cubao đã bắt đầu tiến trình tuyên thánh theo đề nghị của Hiệp hội Những người bạn của Darwin Ramos. “Darwin là một ví dụ điển hình của sự thánh thiện”, vị Giám mục nhận định, “Cậu thiếu niên gần gũi với Chúa Giêsu trong nỗi  đau lẫn hạnh phúc”.

Lm JB NGUYỄN MINH HÙNG

 

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - THƯỢNG HỘI ĐỒNGVÙNG AMAZON

Thượng Hội Đồng cho Vùng Amazon: Tóm Lược Tài Liệu Làm Việc
 
Vũ Văn An
29/Jun/2019

'Instrumentum Laboris’ (Tài liệu Làm việc) của Phiên đặc biệt sắp tới của Thượng hội đồng giám mục cho khu vực Toàn -Amazon (Pan-Amazonia) được công bố tại Vatican. Thượng hội đồng diễn ra từ ngày 6 đến 27 tháng 10 năm 2019 với chủ đề “Vùng Amazon: những nẻo đường mới cho Giáo hội và một hệ sinh thái toàn diện".

Trọng tâm Tài liệu Làm việc của Thượng Hội Đồng là tiếng kêu của Amazon xin Giáo hội trở thành đồng minh của nó để vươn tay ra với mọi người, nhất là với người nghèo, khi họ tìm kiếm sự thành toàn chân thực và nhân phẩm trong cuộc sống của họ.

Tài liệu làm việc đã được trình bày trước báo giới hôm Thứ Hai, ngày 17 tháng 6, bởi Văn phòng Tổng Thư ký Thượng Hội đồng Giám mục. Nó là kết quả của một diễn trình lắng nghe bắt đầu từ chuyến Đức Giáo Hoàng Phanxicô thăm Puerto Maldonado ở Peru, vào tháng 1 năm 2018, và tiếp tục với các cuộc tham khảo khắp Vùng Amazon và Cuộc họp lần thứ hai của Hội đồng tiền Thượng hội đồng vào tháng 5 năm ngoái.

Hãy lắng nghe Chúa, để cùng với Người, chúng ta có thể nghe thấy tiếng kêu của người ta; cho đến khi hít thở được khao khát mà Thiên Chúa đang mời gọi chúng ta

Vùng Amazon, ở trung tâm Nam Mỹ, bao gồm một khu vực rộng 7.8 triệu kilô mét vuông. Nó bao gồm lãnh thổ thuộc 9 quốc gia khác nhau: Brazil, Bolivia, Peru, Ecuador, Colombia, Venezuela, Guyana, Suriname và French Guyana. Khu rừng nhiệt đới rộng 5.3 triệu kilô mét vuông của nó là khu rừng lớn nhất thế giới và là nguồn nước ngọt, oxy và đa dạng sinh học không thể thay thế cho hành tinh này.

Hãy nghe báo cáo của chúng tôi

“Tiếng nói Amazon” là tiêu đề của phần đầu tiên của tài liệu và nó trình bày thực tại của lãnh thổ và các dân tộc của nó. Phần này tập chú vào mối liên hệ giữa sự sống và nước, bằng cách làm nổi bật việc các dòng sông lớn chảy qua khu vực này chủ yếu ra sao không những đối với hệ thực vật và động vật của lãnh thổ và của trái đất, mà còn đối với sinh kế, văn hóa và linh đạo của hàng ngàn cộng đồng bản địa, các nhóm thiểu số khác và các nông dân sống ở khu vực Amazon.

Sự sống bị đe dọa

Sự sống ở Amazon bị đe dọa bởi sự hủy hoại và khai thác môi trường, bởi sự vi phạm có hệ thống các nhân quyền căn bản của người dân Amazon: đặc biệt là vi phạm các quyền của người bản địa, như quyền đất đai, quyền tự quyết, quyền phân định đất đai, tham khảo ý kiến và sự đồng ý trước.

Theo các cộng đồng tham gia vào diễn trình lắng nghe của Thượng Hội Đồng, sự sống của họ bị đe dọa bởi lợi ích kinh tế và chính trị của các nhóm thống trị trong xã hội ngày nay, đặc biệt là các công ty khai thác mỏ. Ngoài ra, việc biến đổi khí hậu và sự gia tăng can thiệp của con người (phá rừng, hỏa hoạn và thay đổi việc sử dụng đất) đã khiến Amazon rơi vào tình trạng không thể quay trở lại, với tỷ lệ phá rừng cao, buộc người dân phải di dời và ô nhiễm khiến hệ sinh thái của nó gặp nguy hiểm và gây áp lực lên các nền văn hóa địa phương.

Tiếng kêu của trái đất và của người nghèo

Trong phần thứ hai, việc phân tích tài liệu đã phát sinh và cung cấp các đề nghị liên quan đến nền sinh thái toàn diện. Theo các báo cáo của các Giáo hội địa phương mà Văn phòng Tổng thư ký của Thượng hội đồng đã nhận được, Vùng Amazon ngày nay là “một nhan sắc bị thương và biến dạng, một nơi đau đớn và bạo lực”.

Bạo lực, hỗn loạn và tham nhũng tràn lan. Lãnh thổ đã trở thành một nơi xung đột và hủy diệt các dân tộc, văn hóa và các thế hệ

Có những người bị buộc rời khỏi đất đai của họ; họ thường rơi vào tay các mạng lưới tội phạm, buôn bán ma túy và buôn bán người (đặc biệt là phụ nữ), lao động trẻ em và mãi dâm. Đó là một thực tại bi thảm và phức tạp, vượt ra ngoài các ranh giới của luật pháp và quyền lợi.

Lãnh thổ của hy vọng và "sống tốt"

Các dân tộc gốc Amazon có nhiều điều để dạy chúng ta. Trong hàng ngàn năm, họ đã chăm sóc đất đai, nước và rừng của họ và đã cố gắng bảo tồn chúng cho đến ngày nay để nhân loại có thể hưởng lợi từ các hồng phúc nhưng không do Thiên Chúa sáng tạo. Những nẻo đường truyền giảng Tin Mừng mới phải được xây dựng trong đối thoại với sự khôn ngoan của tổ tiên, trong đó những hạt giống của Lời Chúa được biểu lộ.

Thượng Hội Đồng Amazon là một dấu hiệu hy vọng cho người dân Amazon và cho nhân loại

Các dân tộc tại các vùng ngoại vi

Tài liệu Làm việc cũng phân tích tình hình của các Dân tộc Bản địa trong Vùng Cô lập Tự nguyện. Theo dữ liệu từ các định chế giáo hội chuyên ngành, có từ 110 đến 130 dân tộc bản địa tự nguyện cô lập khác nhau, sống bên lề xã hội hoặc chỉ tiếp xúc lẻ tẻ với xã hội. Họ dễ bị thương tổn trước các đe dọa của những kẻ buôn bán ma túy, các siêu dự án cơ sở hạ tầng và các hoạt động bất hợp pháp liên kết với kỹ nghệ khai khoáng.

Người dân Amazon ra đi

Amazon là một trong những khu vực có tính di động nội bộ và quốc tế cao nhất ở Mỹ Latinh. Theo thống kê, dân số đô thị của Amazon đã tăng theo cấp số nhân; hiện có khoảng từ 70 đến 80% dân số sống ở các thành phố, nơi thường xuyên nhận được một số lượng lớn người di cư đến và không thể cung cấp các dịch vụ thiết yếu mà người di cư cần. Mặc dù Giáo hội đã đồng hành với lượng di cư này, nhưng nó đã để lại những khoảng phân cách mục vụ cần được lấp đầy.

Một Giáo hội có tính Tiên tri ở Amazon: Các Thách thức và Hy vọng

Cuối cùng, phần cuối của Tài liệu Làm việc mời các Nghị phụ Thượng hội đồng Amazon thảo luận về điểm thứ hai của chủ đề do Đức Giáo Hoàng đề nghị: những nẻo đường mới cho Giáo hội trong khu vực.

Các cộng đồng địa phương cần một Giáo hội biết tham gia, có mặt trong đời sống xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa và sinh thái của cư dân; một Giáo hội biết chào đón sự đa dạng về văn hóa, xã hội và sinh thái để có thể phục vụ các cá nhân hoặc các nhóm không có bất cứ sự kỳ thị nào; một Giáo hội có óc sáng tạo có khả năng đồng hành cùng người dân của mình trong việc thực thi các đáp ứng mới cho các nhu cầu cấp thiết; một Giáo hội hòa hợp nhằm cổ vũ các giá trị hòa bình, thương xót và hiệp thông.

Các Bí tích và Lòng Đạo đức Bình dân

Các cộng đồng thường gặp khó khăn khi cử hành Bí tích Thánh Thể vì thiếu linh mục. “Giáo hội rút tỉa sự sống của mình từ Bí tích Thánh Thể” và Bí tích Thánh Thể xây dựng Giáo hội. Vì lý do này, thay vì để các cộng đồng không có Bí tích Thánh Thể, các tiêu chuẩn lựa chọn và chuẩn bị các thừa tác viên được ủy quyền cử hành nó nên được thay đổi. Các cộng đồng yêu cầu được đánh giá cao hơn, được đồng hành và và được cổ vũ lòng đạo đức bình dân nhờ đó nhiều người phát biểu đức tin của họ qua các hình ảnh, biểu tượng, truyền thống, nghi lễ và các bí tích khác. Đó là sự biểu lộ túi khôn và linh đạo vốn tạo nên một môi trường thần học đích thực với tiềm năng truyền giáo lớn lao.

Điều thích hợp là xem xét lại ý niệm này: việc thi hành quyền tài phán (quyền cai quản) phải được liên kết với mọi lĩnh vực (bí tích, pháp chế, hành chính) và một cách thường hằng, với Bí tích Truyền chức thánh.

Các Thừa tác vụ mới

Ngoài tính đa nguyên văn hóa của vùng Amazon, các khoảng cách còn tạo ra một vấn đề mục vụ nghiêm trọng không thể giải quyết bằng các phương tiện cơ học và kỹ thuật mà thôi. Điều cần là cổ vũ các ơn gọi bản xứ để nam giới và phụ nữ đáp ứng các nhu cầu chăm sóc mục vụ bí tích; sự đóng góp có tính quyết định của họ hệ ở việc thúc đẩy truyền giảng Tin Mừng đích thực theo quan điểm bản địa, phù hợp với phong tục và tập quán của họ. Họ là những người bản địa rao giảng cho những người bản địa khác với một kiến thức sâu sắc về văn hóa và ngôn ngữ của họ, có khả năng truyền đạt sứ điệp Tin Mừng một cách mạnh mẽ và hữu hiệu của những người có nền tảng văn hóa của chính họ.

Điều cần là chuyển dịch từ một “Giáo hội đi thăm viếng” sang một “Giáo hội ở lại nhà”, đồng hành và hiện diện qua các thừa tác viên địa phương.

Trong khi khẳng định rằng độc thân là một hồng ân cho Giáo hội, Tài liệu quả quyết rằng, đối với những vùng xa xôi nhất trong khu vực, khả thể phong chức linh mục sẽ được nghiên cứu đối với những người đàn ông đã kết hôn có gia đình. Nhằm bảo đảm các Bí tích để đồng hành và hỗ trợ đời sống Kitô hữu, điều khoản này định rõ rằng những người đàn ông này ưu tiên phải là những người lớn tuổi bản địa được cộng đồng của họ tôn trọng và chấp nhận.

Vai trò phụ nữ

Loại thừa tác vụ chính thức có thể được trao cho phụ nữ vẫn còn phải được nhận diện, lưu ý đến vai trò chính mà ngày nay phụ nữ đang đóng trong Giáo hội ở Amazon.

Có người yêu cầu rằng vai trò của phụ nữ phải được công nhận, khởi đi từ các đặc sủng và tài năng của họ. Họ yêu cầu được tái chiếm hữu không gian mà Chúa Giêsu từng dành cho phụ nữ, “nơi mọi người chúng ta đều có thể tìm thấy chính mình”. Cũng có đề nghị phải bảo đảm để họ có quyền lãnh đạo, cũng như các không gian rộng lớn và có liên quan nhiều hơn trong lãnh vực đào tạo: thần học, giáo lý, phụng vụ và trường phái đức tin và chính trị.

Đời sống thánh hiến

Do đó, có đề nghị phải cổ vũ một mô hình thay thế và có tính tiên tri cho đời sống thánh hiến, có tính liên hội dòng và liên định chế. Trên hết, phải có một cảm thức sẵn sàng “để hiện diện ở nơi không ai muốn hiện diện và với người không ai muốn hiện diện với”. Có đề nghị cho rằng việc đào tạo đối với đời sống tu trì nên bao gồm các diễn trình tập chú vào tính liên văn hóa, hội nhập văn hóa và đối thoại.

Đại kết

Tài liệu này cũng nhấn mạnh một hiện tượng quan trọng cần được lưu ý, đó là sự phát triển nhanh chóng của các giáo hội Tin Lành gần đây có nguồn gốc Ngũ Tuần, đặc biệt ở các vùng ngoại vi: “Họ chỉ cho chúng ta một cách khác để làm Giáo Hội, nơi mọi người cảm thấy họ là những người chủ đạo và là nơi tín hữu có thể tự phát biểu một cách tự do không bị kiểm duyệt, không duy giáo điều hay kỷ luật nghi lễ”.

Giáo hội và quyền lực: nẻo đường thập giá và tử đạo

Trở thành Giáo hội ở vùng Amazon có nghĩa là tra vấn quyền lực một cách tiên tri, vì trong khu vực này, người dân không có cơ hội để khẳng định các quyền của họ trước các doanh nghiệp kinh tế lớn lao và các định chế chính trị. Ngày nay, tra vấn quyền lực trong việc bảo vệ đất đai và nhân quyền, có nghĩa là đặt sự sống của người ta vào thế nguy hiểm, tự mở cho mình “một nẻo đường thập giá và tử đạo”. Con số các tử đạo ở Amazon rất đáng báo động (ví dụ, chỉ riêng ở Brazil, từ năm 2003 đến năm 2017, đã có 1,119 người bản địa bị giết vì bảo vệ đất đai của họ). Giáo hội không thể thờ ơ đối với điều này; ngược lại, nó phải hỗ trợ việc bảo vệ những người bảo vệ nhân quyền và tưởng nhớ các vị tử đạo của nó, bao gồm cả các nhà lãnh đạo phụ nữ, như Nữ tu Dorothy Stang.

Trong thời gian cần thiết để soạn thảo Tài liệu Làm việc, tiếng nói Amazon đã được lắng nghe dưới ánh sáng đức tin; một nỗ lực đã được thực hiện để đáp lại tiếng kêu của người dân và của Amazon muốn có những nẻo đường mới cho Giáo hội và cho một hệ sinh thái toàn diện nhằm phát huy khả năng nói tiên tri ở vùng Amazon. Những tiếng nói Amazon này kêu gọi Thượng hội đồng giám mục đưa ra một đáp ứng mới cho các tình huống khác nhau và tìm những nẻo đường mới nhằm tạo nên một hoàng kim thời đại (kairos) cho Giáo hội và thế giới.

Kỳ tới: Hai đề nghị quan trọng của Tài liệu Làm việc của Thượng Hội Đồng Giám Mục về Amazon
----------------------------------------

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ

  •  
    Chi Tran <This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.>
    To:Nguyen Dinh
     
     
    Jun 29 at 11:13 AM
     
     
     
     


    ---------- Forwarded message ---------
    From: nguyenthi leyen <This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.>
    Date: Sat, Jun 29, 2019 at 5:23 AM
    Subject: Fw: Cuộc gặp gỡ đổi đời của thánh Phaolô với Chúa Kitô phục sinh
    To:


     
     
     
    Ảnh cùng dòng

    Cuộc gặp gỡ đổi đời của thánh Phaolô với Chúa Kitô phục sinh


    ** Khi duyệt lại cuộc đời của thánh Phaolô theo sách Tông Đồ Công Vụ, chúng ta nhận ra sự hiện diện của Chúa Kitô và của Chúa Thánh Thần trong cuộc đời của thánh nhân. Cuộc gặp gỡ đổi đời với Chúa Kitô phục sinh trên đường đến thành Damasco đã khiến cho Phaolô từ một kẻ bách hại Kitô giáo trở thành tông đồ nhiệt thành và tử đạo.

    Chương 21 sách Công Vụ cho chúng ta biết khi về Giêrusalem thánh Phaolô đã bị bắt và người Do thái muốn giết ngài. “Khi sắp bị đem vào đồn, ông Phao-lô nói với vị chỉ huy: "Tôi có được phép nói với ông một lời chăng? " Ông này đáp: "Ông biết tiếng Hy-lạp à? Vậy ra ông không phải là tên Ai-cập, trước đây ít lâu, đã xúi bốn ngàn tên khủng bố nổi loạn và dẫn chúng vào sa mạc hay sao? " Ông Phao-lô nói: "Tôi đây là người Do-thái, quê ở Tác-xô miền Ki-li-ki-a, công dân một thành không phải là không có tiếng tăm. Xin ông cho phép tôi ngỏ lời với dân." Được vị chỉ huy cho phép, ông Phao-lô đứng trên bậc thềm giơ tay làm hiệu cho dân. Mọi người im phăng phắc; ông Phao-lô nói với họ bằng tiếng Híp-ri: 

    “Thưa quý vị là những bậc cha anh, xin nghe những lời biện bạch tôi nói với quý vị bây giờ đây." Khi nghe thấy ông nói với họ bằng tiếng Híp-ri, họ càng yên lặng hơn. Ông nói tiếp: "Tôi là người Do-thái, sinh ở Tác-xô miền Ki-li-ki-a, nhưng tôi đã được nuôi dưỡng tại thành này; dưới chân ông Ga-ma-li-ên, tôi đã được giáo dục để giữ Luật cha ông một cách nghiêm ngặt. Tôi cũng đã nhiệt thành phục vụ Thiên Chúa như tất cả các ông hiện nay. Tôi đã bắt bớ Đạo này, không ngần ngại giết kẻ theo Đạo, đã đóng xiềng và tống ngục cả đàn ông lẫn đàn bà, như cả vị thượng tế lẫn toàn thể hội đồng kỳ mục có thể làm chứng cho tôi. Tôi còn được các vị ấy cho thư giới thiệu với anh em ở Đa-mát, và tôi đi để bắt trói những người ở đó, giải về Giê-ru-sa-lem trừng trị.

    "Đang khi tôi đi đường và đến gần Đa-mát, thì vào khoảng trưa, bỗng nhiên có một luồng ánh sáng chói lọi từ trời chiếu xuống bao phủ lấy tôi. Tôi ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với tôi: "Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta? Tôi đáp: "Thưa Ngài, Ngài là ai? Người nói với tôi: "Ta là Giê-su Na-da-rét mà ngươi đang bắt bớ. Những người cùng đi với tôi trông thấy có ánh sáng, nhưng không nghe thấy tiếng Đấng đang nói với tôi. Tôi nói: "Lạy Chúa, con phải làm gì? Chúa bảo tôi: "Hãy đứng dậy, đi vào Đa-mát, ở đó người ta sẽ nói cho anh biết tất cả những gì Thiên Chúa đã chỉ định cho anh phải làm. 

    ** Vì ánh sáng chói loà kia làm cho tôi không còn trông thấy nữa, nên tôi đã được các bạn đồng hành cầm tay dắt vào Đa-mát. "Ở đó, có ông Kha-na-ni-a, một người sùng đạo, sống theo Lề Luật và được mọi người Do-thái ở Đa-mát chứng nhận là tốt. Ông đến, đứng bên tôi và nói: "Anh Sa-un, anh thấy lại đi! Ngay lúc đó, tôi thấy lại được và nhìn ông. Ông nói: "Thiên Chúa của cha ông chúng ta đã chọn anh để anh được biết ý muốn của Người, được thấy Đấng Công Chính và nghe tiếng từ miệng Đấng ấy phán ra. Quả vậy, anh sẽ làm chứng nhân cho Đấng ấy trước mặt mọi người về các điều anh đã thấy và đã nghe. Vậy bây giờ anh còn chần chừ gì nữa? Anh hãy đứng lên, chịu phép rửa và thanh tẩy mình cho sạch tội lỗi, miệng kêu cầu danh Người.

    "Khi trở về Giê-ru-sa-lem, đang lúc tôi cầu nguyện trong Đền Thờ, thì tôi xuất thần và thấy Chúa bảo tôi: "Mau lên, hãy rời khỏi Giê-ru-sa-lem gấp, vì chúng sẽ không nhận lời anh làm chứng về Thầy đâu. Tôi thưa: "Lạy Chúa, chính họ biết rõ con đây đã đến từng hội đường bắt giam và đánh đòn những kẻ tin Chúa. Khi người ta đổ máu ông Tê-pha-nô, chứng nhân của Chúa, thì chính con cũng có mặt, con tán thành và giữ áo cho những kẻ giết ông ấy. Chúa bảo tôi: "Hãy đi, vì Thầy sẽ sai anh đến với các dân ngoại ở phương xa.

    Đám đông lắng nghe ông Phao-lô nói tới đó thì hét lên: "Hãy bứng khỏi mặt đất loại người như thế! Nó không đáng sống! "Họ hò la, phất áo và tung bụi lên trời. Vị chỉ huy cơ đội ra lệnh đem ông Phao-lô vào đồn và truyền đánh đòn tra tấn, để biết lý do tại sao người ta hò hét phản đối ông ấy như vậy. Họ vừa nọc ông Phao-lô ra để đánh đòn, thì ông nói với viên đại đội trưởng đứng gần đó: "Một công dân Rô-ma chưa được xét xử, các ông có được phép đánh đòn không? " Nghe vậy, viên đại đội trưởng đi báo cáo cho vị chỉ huy rằng: "Ông định làm gì bây giờ? Đương sự là công dân Rô-ma! "Vị chỉ huy liền đến gặp ông Phao-lô và hỏi: "Ông nói cho tôi biết: ông là công dân Rô-ma sao? " Ông Phao-lô trả lời: "Phải." Vị chỉ huy nói tiếp: "Tôi đây, tôi phải tốn bao nhiêu tiền của mới mua được quyền công dân ấy." Ông Phao-lô đáp: "Còn tôi, sinh ra đã có quyền ấy rồi." Lập tức những người sắp tra tấn ông rút lui, còn vị chỉ huy thì phát sợ, vì biết rằng ông Phao-lô là công dân Rô-ma mà mình lại đã còng ông ấy.

    ** Hôm sau, vì muốn biết chắc chắn người Do-thái tố cáo ông Phao-lô về điều gì, vị chỉ huy tháo xiềng cho ông và ra lệnh cho các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Đồng họp lại, rồi ông đưa ông Phao-lô từ đồn xuống, để ra trước mặt họ.

     Ông Phao-lô biết rằng một phần Thượng Hội Đồng thuộc phái Xa-đốc, còn phần kia thuộc phái Pha-ri-sêu, nên ông nói lớn tiếng giữa hội nghị: "Thưa anh em, tôi là người Pha-ri-sêu, thuộc dòng dõi Pha-ri-sêu; chính vì hy vọng rằng kẻ chết sẽ sống lại mà tôi bị đưa ra xét xử." Ông vừa nói thế, thì người Pha-ri-sêu và người Xa-đốc chống đối nhau, khiến hội nghị chia rẽ. Thật vậy, người Xa-đốc chủ trương rằng chẳng có sự sống lại, chẳng có thiên sứ hay quỷ thần; còn người Pha-ri-sêu thì lại tin là có. Người ta la lối om sòm. Có mấy kinh sư thuộc phái Pha-ri-sêu đứng lên phản đối mạnh mẽ: "Chúng tôi không thấy người này có gì là xấu. Biết đâu một vị thần hay một thiên sứ đã nói với ông ấy? " Hai bên chống đối gay gắt đến nỗi vị chỉ huy sợ người ta xé xác ông Phao-lô, nên mới ra lệnh cho lính xuống lôi ông ra khỏi đám người đó mà đưa về đồn.

    Đêm ấy Chúa đến bên ông Phao-lô và nói: "Hãy vững lòng! Con đã long trọng làm chứng cho Thầy ở Giê-ru-sa-lem thế nào, thì con cũng phải làm chứng như vậy tại Rô-ma nữa."

    Sáng ngày ra, người Do-thái âm mưu với nhau. Họ thề độc là sẽ không ăn không uống, bao lâu chưa giết được ông Phao-lô. Có trên bốn mươi người đã cùng thề với nhau như vậy. Họ đến gặp các thượng tế và kỳ mục mà nói: "Chúng tôi đã thề độc là sẽ không ăn uống gì, bao lâu chưa giết được tên Phao-lô. Vậy bây giờ xin quý vị, cùng với Thượng Hội Đồng, đề nghị vị chỉ huy cho dẫn nó xuống với quý vị, lấy cớ là để điều tra về nó cho cặn kẽ hơn. Phần chúng tôi, chúng tôi sẵn sàng giết nó trước khi nó tới."

    Nhưng người con trai của bà chị ông Phao-lô nghe biết âm mưu đó, liền đến đồn và vào báo tin cho ông Phao-lô. Ông Phao-lô mời viên đại đội trưởng đến và nói: "Xin ông dẫn cháu này đến gặp vị chỉ huy, vì cháu có điều phải báo cáo cho ông ấy."

    ** Vậy viên đại đội trưởng đem cậu bé đi theo, dẫn đến gặp vị chỉ huy mà trình rằng: "Tù nhân Phao-lô đã mời tôi đến và xin tôi dẫn cậu này đến gặp ông; cậu ấy có điều phải nói với ông." Vị chỉ huy nắm tay cậu bé, đưa riêng ra một nơi mà hỏi: "Em có điều gì phải báo cáo cho ta biết? " Cậu bé trả lời: "Người Do-thái đã đồng ý với nhau là sẽ xin ông ngày mai cho điệu ông Phao-lô xuống Thượng Hội Đồng, lấy cớ là để tra hỏi cho cặn kẽ hơn. Vậy xin ông đừng tin họ, vì có trên bốn mươi người trong bọn họ đang phục sẵn để hại ông ấy; họ đã thề độc là sẽ không ăn không uống, bao lâu chưa giết được ông ấy. Hiện giờ họ sẵn sàng, chỉ còn chờ ông chấp thuận." Vị chỉ huy cho cậu bé về và căn dặn: "Đừng nói với ai là em đã tiết lộ những chuyện đó cho ta."

    Ông gọi hai viên đại đội trưởng đến và bảo: "Các anh hãy chuẩn bị hai trăm bộ binh, bảy mươi kỵ binh và hai trăm khinh binh, để ngay giờ thứ ba đêm nay đi Xê-da-rê. Cũng phải có sẵn ngựa cho ông Phao-lô, để đưa ông ấy an toàn đến với tổng trấn Phê-lích."

    Ông viết một bức thư nội dung như sau: "Cơ-lau-đi-ô Ly-xi-a trân trọng chào ngài tổng trấn Phê-lích đáng kính. Người này đã bị người Do-thái bắt và sắp bị họ giết, thì tôi đem lính đến giải thoát, vì được biết rằng đương sự là công dân Rô-ma. Vì muốn biết rõ họ tố cáo đương sự về tội gì, tôi đã đưa đương sự ra trước Thượng Hội Đồng của họ. Tôi thấy rằng đương sự bị tố cáo về những vấn đề liên quan đến Lề Luật của họ, nhưng không có tội gì đáng chết hay đáng bị tù. Được báo là người ta âm mưu hại đương sự, tôi đã cho giải đương sự lên ngài ngay lập tức, một trật bảo nguyên cáo muốn kiện đương sự thì cứ lên ngài mà kiện."

    Tuân lệnh trên, binh lính đã nhận ông Phao-lô, và ban đêm đưa ông đi An-ti-pát-ri. Hôm sau, họ để kỵ binh tiếp tục đi với ông, còn họ thì trở về đồn. Đến Xê-da-rê, kỵ binh trình thư và giao ông Phao-lô cho tổng trấn. Tổng trấn đọc thư và hỏi ông là người tỉnh nào. Biết ông là người miền Ki-li-ki-a, ông nói: "Tôi sẽ xét vụ của anh, khi nào cả nguyên cáo nữa cũng đến." Rồi ông ra lệnh giam ông Phao-lô ở dinh Hê-rô-đê.

    TMH 515

    Linh Tiến Khải

    ------------------------------------

     

     
     

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - HỒNG Y NEWMAN

Đức Hồng Y John Newman sẽ được tuyên thánh vào ngày 13 tháng Mười tới đây
 
Đặng Tự Do
01/Jul/2019
Thông cáo của Phòng Báo Chí Tòa Thánh ngày 1 tháng Bẩy cho biết như sau:

Lúc 10 giờ sáng thứ Hai 01 tháng Bẩy, trong buổi đọc kinh giờ Ba, Đức Thánh Cha đã chủ sự Công nghị Hồng Y tại sảnh đường Clementine trong dinh Tông Tòa về việc tuyên thánh cho cá Chân Phước sau.

Chân Phước John Henry Newman, Hồng Y của Giáo Hội Công Giáo, đấng sáng lập dòng thuyết giảng thánh Philiphê Neri tại Anh.

Chân phước Giuseppina Vannini, (nhủ danh Giuditta Adelaide Agata), đấng sáng lập dòng Nữ tử thánh Camillo.

Chân phước Maria Teresa Chiramel Mankidiyan, đấng sáng lập dòng nữ tu Thánh Gia.

Chân phước Dulce Lopes Pontes (nhũ danh Maria Rita), thuộc dòng Nữ Thừa Sai Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội Mẹ Thiên Chúa.

Chân phước Marguerite Bays, trinh nữ, dòng Ba thánh Phanxicô Assisi.

Trong Công Nghị này, Đức Thánh Cha đã truyền ghi tên các Chân Phước nêu trên vào sổ bộ các Thánh vào ngày 13 tháng Mười tới đây.

Trước đó, hôm thứ Tư 13 tháng Hai, Đức Thánh Cha Phanxicô đã phê chuẩn sắc lệnh công nhận phép lạ do lời cầu bầu của Đức Hồng Y John Henry Newman. Biến cố này dọn đường cho việc nâng vị Chân Phước Hồng Y lên hàng Hiển thánh.

Nói cách khác, Đức Hồng Y John Henry Newman sẽ là một vị thánh mới cho nước Anh kể từ khi Thánh John Ogilvie được Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục tuyên thánh vào năm 1976.

Đức Hồng Y Newman, sinh vào năm 1801, đã được Đức Giáo Hoàng Benedictô XVI tuyên Chân Phước vào năm 2010. Ngài vốn là một linh mục Anh giáo, đã thành lập Hiệp hội sống tinh thần Chúa Kitô tại Đại học Oxford, và sau này Ngài đã tuyên xưng Đức tin Công Giáo và hiệp thông hoàn toàn với Giáo Hội Công Giáo vào năm 1845.

Chân Phước John Henry Newman là một trong những người cải đạo từ Anh Giáo sang Công Giáo rất nổi bật vào thế kỷ 19.

Ngài đã là một nhà thần học Anh giáo nổi tiếng và có thế giá trước khi quyết định thành lập Phong trào Oxford để đưa Anh Giáo về với nguồn gốc Công Giáo của mình. Chính ngài cũng đã cải đạo sang Công Giáo vào năm 1845 ở tuổi 44. Việc cải đạo từ Anh Giáo sang Công Giáo của ngài làm nhiều người bàng hoàng. Ngài mất đi rất nhiều bạn và người chị gái của ngài từ đó cho đến chết đã không nhìn mặt ngài nữa.

Đức Giáo Hoàng Lêô thứ 13 đã tấn phong Hồng Y cho linh mục Newman vào ngày 12/5/1879, mặc dù ngài không phải là một giám mục và không bao giờ trở thành giám mục. Theo như thông lệ, một vị không phải là giám mục sẽ được tấn phong giám mục trước khi được phong Hồng Y. Nhưng theo thỉnh cầu của ngài, ngài không muốn được tấn phong giám mục.

Ngài qua đời ở tuổi 89. Trong lễ an táng của ngài, hơn 15,000 người đã xếp hàng dài trên đường phố để tiễn đưa ngài đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Các tác phẩm phong phú của ngài đã khiến nhiều người kêu gọi các vị Giáo Hoàng tuyên bố ngài là một Tiến sĩ Hội Thánh.

Hồ sơ phong thánh cho ngài được bắt đầu vào năm 1958 và ngài được Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô tuyên dương là vị Tôi tớ Chúa vào năm 1991 sau khi nhìn nhận các nhân đức anh hùng của ngài.

Hai phép lạ của Đức Hồng Y John Henry Newman

Tháng 12 năm ngoái 2108, Tổng Giáo Phận Chicago và Bộ Tuyên Thánh đã công nhận định một phép lạ do lời cầu bầu của Chân Phước Hồng Y John Henry Newman. Biến cố này dọn đường cho việc tuyên thánh dành cho ngài như vừa xảy ra trong Công Nghị ngày 1 tháng Bẩy.

Phép lạ được công nhận liên quan đến một phụ nữ trẻ vừa tốt nghiệp Đại Học Luật Khoa tại Chicago và vừa kết hôn trong một cuộc hôn nhân thật mỹ mãn với người mà cô rất thương mến. Trước viễn ảnh của một sự nghiệp tươi sáng, và một mái gia đình hạnh phúc, năm 2015, cô rơi vào một tình cảnh đáng âu lo khi bác sĩ báo cho cô biết cái thai của cô có vấn đề rất nghiêm trọng đến tính mạng.

Cô và gia đình chạy đến kêu cầu cùng Chân Phước Hồng Y Newman. Sau những lời cầu xin thật sốt sắng của cô và gia đình, các bác sĩ đang điều trị cho cô nhận thấy cô hoàn toàn hồi phục và báo cáo rằng họ không có lời giải thích nào về mặt y khoa trước sự phục hồi đột ngột và kỳ diệu của cô.

Đức Cha Philip Egan, Giám Mục Portsmouth hân hoan loan báo tin này và bày tỏ niềm tin của ngài rằng “Chân Phước Newman sẽ được tuyên thánh chậm lắm là vào cuối năm tới vì tất cả mọi chuyện đều diễn ra tốt đẹp.”

Năm 2010, sau khi Bộ Tuyên Thánh công nhận phép lạ thứ nhất của ngài chữa lành cho phó tế Jack Sullivan, một người Mỹ, bị liệt cột sống, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16 đã tuyên phong Chân Phước cho Đức Hồng Y Newman ở Birmingham.


Source:Holy See Press Office

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG

ĐTC Phanxicô

 

 Giáo Lý về Sách Tông Vụ - Bài 3

 

Thánh Thần Hiện Xuống

 

Thứ Tư ngày 19/6/2019

 

Pope greets pilgrims in sunny St. Peter's Square

"Thánh Linh không chỉ biểu lộ Chính Mình bằng một hòa tấu các thứ âm thanh tạo nên mối hiệp nhất và làm nên tính cách đạ dạng một cách hòa hợp, Ngài còn tỏ Chính Mình như là một vị nhạc trưởng của một cuộc hòa nhạc tấu lên những lời chúc tụng 'các công việc vĩ đại' của Thiên Chúa".

Pope Francis greets pilgrims in St. Peter's Square June 19, 2019. Credit: Daniel Ibañez/CNA.

"Thánh Linh là vị sáng tạo nên mối hiệp thông, là nghệ gia của việc hòa giải,

Đấng biết cách loại bỏ những cản trở giữa người Do Thái và người Hy Lạp, thành phần nô lệ và thành phần tự do, để làm nên một thân thể duy nhất"

"Vị Thần Linh này hoạt động bằng việc thu hút thần linh, ở chỗ, Thiên Chúa lôi kéo chúng ta bằng tình yêu của Ngài,

nhờ đó, cho chúng ta tham phần vào việc chuyển vận lịch sử và những tiến trình khởi động giúp cho sự sống mới được ngấm qua"

 

Xin chào anh chị em thân mến!

50 ngày sau Lễ Phục Sinh, ở căn phòng tiệc ly bấy giờ là nhà của mình, và là nơi có cả sự hiện diện của Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, một yếu tố liên kết, các vị Tông Đồ đã trải qua một biến cố vượt quá niềm mong đợi của các vị. Các vị đã qui tụ lại để nguyện cầu - cầu nguyện là "buồng phổi" cung cấp hơi thở cho thành phần môn đệ ở mọi thời đại, không cầu nguyện không thể nào là môn đệ của Chúa Giêsu, không cầu nguyện chúng ta không thể nào là người Kitô hữu! Cầu nguyện là khí thở, là buồng phổi của đời sống Kitô hữu - các vị bàng hoàng bỡ ngỡ trước việc xâm nhập của Thiên Chúa. Nó là một thứ xâm nhập không chấp nhận tình trạng khép kín: nó mở toang cửa ra bằng quyền lực của một thứ luồng gió gợi nhớ đến ruah, tức đến hơi thở từ khởi nguyên, và làm trọn lời Chúa Kitô Phục Sinh hứa về "quyền năng" trước khi Người rời họ mà lên trời (xem Tông Vụ 1:8).

Đột nhiên "có một tiếng vang như luồng gió mạnh từ trời tràn vào đầy cả ngôi nhà là nơi các vị đang ở" (Tông Vụ 2:2). Luồng gió này bấy giờ lại được liên kết với ngọn lửa gợi lại hình ảnh bụi gai bốc cháy và Núi Sinai, liên quan đến tặng ân 10 điều răn (xem Xuất Hành 19:16-19). Theo truyền thống Thánh Kinh thì lửa là những gì đi kèm với việc tỏ hiện của Thiên Chúa. Thiên Chúa ban truyền lời hằng sống và nung nấu của Ngài bằng lửa (xem Do Thái 4:12), lời hướng tới tương lai; lửa diễn tả một cách biểu hiệu công việc Ngài làm cho các tấm lòng được nồng ấm, rạng ngời và thấm nhập khôn ngoan, diễn tả việc chăm sóc của Ngài để lộ ra tính cách kháng cự nơi hoạt động của con người, để thanh tẩy chúng và để tái hồi sinh chúng.

Nếu ở Núi Sinai tiếng của Thiên Chúa đã vang ra, thì ở Giêrusalem, vào ngày Lễ Ngũ Tuần, Thánh Phêrô đã lên tiếng nói, tảng đá được Chúa Kitô chọn để xây dựng Hội Thánh của Người. Cho dù lời của ngài thì yếu, và thậm chí còn có khả năng chối bỏ Chúa, nhưng khi được lửa Thần Linh thấm vào thì nó có được một quyền lực, có thể xuyên thấu tâm can và gây tác động hoán cải. Thật vậy, Thiên Chúa chọn những gì là yếu kém trên thế gian này để làm cho những kẻ hùng mạnh phải hổ thẹn (xem 1Corinto 1:27).

Giáo Hội như thế là được hạ sinh bởi lửa tình yêu, và bởi một thứ "lửa" phát ra vào ngày lễ Ngũ Tuần, và bộc lộ quyền năng của Lời Đấng Phục Sinh thấm đẫm Thánh Linh. Giao Ước mới và tối hậu này được đặt nền tảng không còn trên một thứ luật thành văn trên các bia đá, mà là trên tác động của Thần Linh Thiên Chúa, Đấng canh tân lại tất cả mọi sự, và được ghi khắc vào những con tim bằng thịt.

Lời của các vị Tông Đồ được thấm đậm vị Thần Linh của Chúa Kitô Phục Sinh và trở thành một thứ ngôn từ mới, một thứ ngôn từ dầu sao vẫn có thể hiểu được, như thể nó được chuyển dịch cùng một lúc thành tất cả các ngôn ngữ. Thật thế: "mỗi người đều nghe thấy ngôn ngữ của mình vang lên" (Tông Vụ 2:6). Đó là thứ ngôn từ của chân lý và yêu thươngmột thứ ngôn từ phổ cập: thậm chí ngay cả kẻ mù chữ cũng có thể hiểu được. Hết mọi người đều hiểu được thứ ngôn từ chân lý và yêu thương này. Nếu các bạn theo chân lý của lòng mình một cách chân thành, thì các bạn sẽ thể hiện yêu thương, và hết mọi người sẽ hiểu được các bạn. Ngay cả khi các bạn không thể nói, nhưng bằng việc quan tâm chăm sóc thì đó là những gì chân thật và yêu thương vậy.

Thánh Linh không chỉ biểu lộ Chính Mình bằng một hòa tấu các thứ âm thanh tạo nên mối hiệp nhất và làm nên tính cách đạ dạng một cách hòa hợp, Ngài còn tỏ Chính Mình như là một vị nhạc trưởng của một cuộc hòa nhạc tấu lên những lời chúc tụng "các công việc vĩ đại" của Thiên Chúa. Thánh Linh là vị sáng tạo nên mối hiệp thông, là nghệ gia của việc hòa giải, Đấng biết cách loại bỏ những cản trở giữa người Do Thái và người Hy Lạp, thành phần nô lệ và thành phần tự do, để làm nên một thân thể duy nhất. Ngài xây dựng cộng đồng các tín hữu, làm cho thân thể cùng với đa chi thể được hòa hợp nên một. Ngài làm cho Giáo Hội tăng trưởng bằng việc giúp Giáo Hội vượt lên trên những gì con người hạn hữu, tội lỗi cũng như bất cứ gương mù gương xấu tệ hại nào. 

Sự lạ lùng diệu kỳ này cao cả lớn lao đến độ người ta cho rằng những con người ấy đầy rượu rồi. Bấy giờ Thánh Phêrô đại diện cho tất cả các Tông Đồ lên tiếng và lập lại biến cố ấy theo ý nghĩa của Tiên Tri Joel 3, vị đã loan báo về một thứ tuôn đổ mới Thánh Linh. Thành phần môn đồ của Chúa Giêsu không bị say xỉn đâu, mà các vị đang sống những gì được Thánh Ambrosio cho như là "thứ chất ngất say sưa Thần Linh", một thứ say sưa làm bừng lên việc ngôn sứ ở giữa dân Chúa bằng các giấc mộng và những thị kiến. Tặng ân ngôn sứ này không chỉ được giành riêng cho một số ít, mà là cho tất cả những ai kêu cầu danh Chúa.

Từ bấy giờ trở đi, từ giấy phút ấy, Vị Thần Linh của Thiên Chúa tác động các tâm hồn đón nhận ơn cứu chuộc nhờ một Con Người là Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã bị con người đóng đanh vào cây gỗ thập tự giá, và là Đấng Thiên Chúa đã cho sống lại từ trong kẻ chết, "giải phóng Người khỏi tình trạng thống khổ của sự chết" (Tông Vụ 2:24). Và Ngài đã phát tỏa Vị Thần Linh làm hòa tấu lời chục tụng đa âm tất cả mọi người đều có thể nghe thấu này. Như Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã nói: "Lễ Hiện Xuống là như thế này, đó là Chúa Giêsu, và qua Người, chính Thiên Chúa, thực sự đến với chúng ta và lôi kéo chúng ta về với Ngài" (Bài Giảng ngày 3/6/2006). Vị Thần Linh này hoạt động bằng việc thu hút thần linh, ở chỗ, Thiên Chúa lôi kéo chúng ta bằng tình yêu của Ngài, nhờ đó, cho chúng ta tham phần vào việc chuyển vận lịch sử và những tiến trình khởi động giúp cho sự sống mới được ngấm qua. Thật vậy, chỉ có Vị Thần Linh của Thiên Chúa này mới có quyền năng nhân bản hóa và huynh đệ hóa hết mọi môi trường, khởi đi từ những ai đón nhận Ngài.

Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta cảm nghiệm được một Lễ Hiện Xuống mới, một lễ mở lòng của chúng ta ra và hòa hợp các cảm thức của chúng ta với những cảm thức của Chúa Kitô, nhờ đó chúng ta mới có thể không e ngại trong việc loan báo lời biến đổi của Người, và làm chứng cho một thứ quyền năng yêu thương, để sống với tất cả những gì được quyền năng yêu thương này gặp gỡ.

 

https://zenit.org/articles/holy-father-continues-catechesis-on-acts-of-the-apostles-at-general-audience/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu