6. Văn Hóa & Gia Đình

VĂN HÓA VÀ GIA ĐÌNH -THIÊN NHÂN HỢP NHẤT

  •  
    Hung Dao
     
    Mon, Sep 7 at 9:09 AM
     
     
     

    Bàn về ý nghĩa của “Thiên nhân hợp nhất” trong văn hóa truyền thống

    Minh Huệ Net
     
     

    Văn hóa Hoa Hạ là văn hóa Thần truyền, tư tưởng Thiên – Nhân hợp nhất là cốt lõi của tinh thần nhân văn truyền thống Trung Quốc, luôn chiếm vị trí chủ đạo trong văn hóa truyền thống, đối với các lĩnh vực như luân lý đạo đức, quan niệm giá trị, ý thức thẩm mỹ… đều có ảnh hưởng rất sâu xa.

    “Thiên – Nhân hợp nhất” là lấy “quan hệ giữa Trời và Người” làm trung tâm để xem xét vấn đề nhân sinh và vũ trụ, đó là một loại thế giới quan và vũ trụ quan, là cảnh giới cao cả mà con người theo đuổi, là nơi trở về và cội nguồn tư tưởng của quan niệm truyền thống. Nội hàm của “Thiên – Nhân hợp nhất” rộng lớn tinh thâm, những ghi chép trong sử sách có bao hàm những nội dung sau:

    Quan sát Đạo Trời, thực hành ý Trời

    Trong con mắt của người xưa, vũ trụ là một vũ trụ của sinh mệnh, “Đạo” là cội nguồn của vạn vật, là nguồn gốc của sinh mệnh. Thế gian vạn vật biến đổi muôn ngàn chỉ trong nháy mắt, duy chỉ có Đạo Trời là vĩnh hằng bất biến. Lão Tử nói: “Người thuận theo Đất, Đất thuận theo Trời, Trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên”, đã nói rõ quan hệ giữa con người và tự nhiên, đã cho thấy vạn sự vạn vật trong vũ trụ đều phải tuân theo đặc tính vũ trụ và quy luật vận hành sống động không ngừng nghỉ của nó. “Quan sát Đạo của Trời, thực hiện theo ý chỉ của Trời”, đã nói rõ nguyên tắc làm người và xử sự, tức là hành vi con người cần phải thuận theo Đạo Trời, khiến toàn bộ thân và tâm của bản thân thống nhất với Đạo Trời, tự nhiên, thì mới có thể bao dung được hết thảy, thiên hạ sẽ quy về, thì mới có thể lâu bền được.

    Sách Trung Dung viết: “Thế nên Trời sinh ra con người, ban cho khí để thành hình, lại ban cho lý để thành tính. Thế nên phép Trời là to lớn khởi đầu, hanh thông, lợi ích và chân chính (nguyên, hanh, lợi, trinh), mà tứ thời ngũ hành thiên biến vạn hóa, không điều gì là không từ phép Trời mà sinh ra. Phép tắc ở con người chính là Nhân Nghĩa Lễ Trí, mà lý của tứ đoan ngũ điển, vạn sự vạn vật, không điều gì mà không được bao hàm ở trong đó”. Đây chính là Đạo vô xứ bất tại (Đạo không nơi nào mà không có), ở trên trời thì là Đạo Trời, ở dưới đất thì là Đạo Đất, ở con người là Đạo con người. Đem nguyên hanh lợi trinh của Đạo Trời, tức sinh trưởng toại thành và ngũ thường của Đạo con người là Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín thống nhất lại. Đồng thời còn cho rằng trong hành vi hậu thiên của mình, con người chỉ có chuyên tâm nắm chắc cái thiện của bản tính tiên thiên của con người thì mới có thể thuận theo Đạo Trời mà hưng thịnh, chỉ có thể thuận ứng theo phép tắc tự nhiên, yêu người yêu vật thì mới có thể đạt được Thiên – Địa – Nhân hòa thành nhất thể, mới có thể sinh trưởng không ngừng nghỉ.

    Trong Lễ Ký có viết: “Chân thành là Đạo của Trời, truy cầu chân thành là Đạo của con người”. Đổng Trọng Thư đời Hán nói: “Giữa con người và Trời, hợp lại thành một thể”. Đó đều là những chuẩn mực của những người khéo tu Đạo thời cổ đại.

    Trước tiên đề ra là con người hợp với Trời chứ không phải Trời hợp với con người; là Trời và con người hài hòa chứ không phải là ‘nhân định thắng Thiên’. Nghiêm khắc tuân theo Đạo Trời, nguyên tắc “trợ giúp sự tự nhiên của vạn vật” một cách lý tính, tự giác cao độ, đạt được “Hợp đức cùng Trời Đất, hòa quang cùng Nhật Nguyệt, hợp trật tự cùng tứ thời”. “Dĩ đức phối Thiên”, hợp đức cùng Trời Đất chính là sự biểu đạt rõ ràng của tư tưởng Thiên – Nhân hợp nhất. Từ đó cũng có thể nhìn ra tư tưởng Thiên – Nhân hợp nhất truyền thống ngay từ khởi đầu đã gắn liền với vấn đề đạo đức, vì vậy duy hộ chân lý và đạo đức chính là sứ mệnh và trách nhiệm của con người.

    Trời là sự tồn tại có thể phát sinh quan hệ cảm ứng với con người

    Thiên – nhân tương ứng, Thiên – nhân tương thông. Có câu cổ ngữ rằng: “Người giỏi giảng Đạo Trời sẽ biết lấy Đạo Trời ứng nghiệm vào con người. Người giỏi giảng chuyện xưa sẽ biết lấy chuyện xưa ứng nghiệm vào chuyện ngày nay. Người giỏi giảng khí lý sẽ biết đem khí lý ứng nghiệm vào vạn vật. Người giỏi giảng cảm ứng sẽ biết thống nhất với tạo hóa của Trời Đất. Người giỏi giảng sinh hóa, biến thông sẽ thông hiểu lý của Thần linh”. Văn hóa truyền thống xuất phát từ ý niệm này biểu hiện là trọng Đạo, trọng Thần, trọng Đức, trọng hài hòa.

    “Trang Tử – Đạt sinh” viết: “Trời Đất là cha mẹ của vạn vật”. Trương Tái đời Tống viết trong “Tây minh” rằng: “Càn (Trời) gọi là cha, khôn (Đất) gọi là mẹ, còn ta nhỏ bé như thế này, nhưng hòa đồng Đạo của Trời Đất trong thân. Do đó chứa đầy khí ở giữa Trời Đất là thân thể ta, dẫn dắt vạn vật trong Trời Đất là bản tính tiên Thiên của ta. Nhân dân là đồng bào của ta, vạn vật là cùng tính với ta”. Đây chính là nói đến cảnh giới con người và Trời Đất vạn vật hợp thành nhất thể. Trình Hạo đời Tống đã chỉ rõ rằng: “Nhân đức coi Trời Đất vạn vật là nhất thể”, tức là nói Trời Đất vạn vật vốn là nhất thể, mà đặc tính Nhân quán thông xuyên suốt tất cả.

    Người xưa nhận thức được Thiên – Nhân là một chỉnh thể, giữa chúng có tồn tại mối liên hệ và quan hệ đối ứng. Sự biến hóa của thiên tượng sẽ dẫn động những biến hóa xảy ra trong xã hội nhân loại. “Sử ký – Nhạc thư” viết: “Trời và con người tương thông, giống như quan hệ giữa hình với ảnh và khí. Người làm việc tốt, Trời báo bằng phúc. Người làm việc xấu, Trời báo bằng họa. Giống như trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, là đạo lý rất tự nhiên. Do đó người xưa giảng, suy Đạo Trời để hiểu rõ chuyện con người. Bậc quân vương cần hành động giống như Trời, tâm thái chí thành của quân vương có thể cảm động đến Trời, khiến âm dương biến đổi. Nếu quân vương trái với âm dương, trái với ý Trời, thì sẽ có tai họa, dị tượng xảy ra. Đó là Trời cảnh cáo quân vương”. Vì vậy các triều các đời đều vô cùng coi trọng quan sát thiên văn, thiên tượng, không chỉ dùng để tính toán lịch pháp, mà còn dùng để quan sát sự biến hóa ở nhân gian. Trong lịch sử, có rất nhà tiên tri, cao nhân đều có thể thông qua quan sát thiên tượng mà biết trước được đại sử xảy ra và sự thay triều đổi đại, như “Mã tiền khóa” của Gia Cát Lượng thời Tam Quốc, “Hoa mai thi” của Thiệu Ung đời Tống, “Thiêu bính ca” của Lưu Bá Ôn đời Minh. Còn một số trước tác tiên văn tinh tượng như “Ngũ tinh chiêm”, “Sử ký – Thiên quan thư”, “Thiên văn chí”, “Ngũ hành chí”… Thiên – nhân cảm ứng, quan hệ đối ứng, quan hệ nhân quả, như bóng theo hình, kẻ sĩ minh trí nên lựa chọn để đón cát tránh hung.

    Trời là đối tượng mà con người kính sợ và thờ phụng

    Trời đất cực kỳ rộng lớn, che chở vạn vật, con người có lòng cảm ân. Khổng Tử nói: “Trời Đất là cha mẹ của vạn vật, con người là anh linh của vạn vật”; “Trời vô tư che phủ, Đất vô tư mang chở, nhật nguyệt vô tư chiếu sáng”, ông ca ngợi ân hóa dục của Trời Đất. Trời đất mãi mãi bất biến, ban cho vạn vật, tự thân lại không tiếp nhận bất cứ sự vật nào, chất phác, khiêm tốn, rộng lớn vô tư.

    “Thượng thư” viết: “Thánh nhân cổ đại biết cái lý Thiên – nhân hợp nhất. Do đó đối với việc con người thì không dám không tận tâm, mà đối với Đạo thì không dám không cẩn trọng. 4 người họ Hy, họ Hòa của vua Nghiêu, Thất Chính của vua Thuấn, Ngũ Kỷ của Hồng Phạm, họ Bảo Chương của Chu Quan, đều cẩn trọng với những điều này. Thế nên luôn dùng kính đối đãi với người, luôn kính Trời mà không dám lơ là”. Thiên tử cổ đại coi trọng nhất là tế tự. Tế tự là để kính Thần, ca tụng sự vĩ đại của Thiên Đế, coi sự thành công của bản thân trị sửa thiên hạ là do Thượng Thiên chỉ đạo, giúp đỡ và bảo hộ, thế thì khi tế tự thì ngoài sự thành kính ra, ngoài sự long trọng của lễ nghi ra, còn cần phải chế tác ra âm nhạc để ca tụng Thần, để bày tỏ sự kính ngưỡng đối với Thần.

    Vua Nghiêu quan sát thiên văn, định ra lịch pháp, thuận theo Đạo Trời mà trị vì, dạy dỗ thần dân Ngũ Điển – tức 5 loại mỹ đức: phụ nghĩa, mẫu từ, huynh hữu, đệ cung, tử hiếu để chỉ đạo hành vi bản thân. Vua giáo dục bách tính chung sống hòa thuận, đã thực hiện được “9 dòng tộc đã hòa mục”, khiến phong tục người dân thuần hậu. Vua Nghiêu chế tác nhạc vũ Đại Chương để ca tụng thịnh đức của Thiên Đế, đồng thời ngụ ý lấy đức để kính Trời. Vua Thuấn dùng Hiếu trị vì thiên hạ, dùng đức cảm hóa người, vô tư vì dân, khiến bách tính trong thiên hạ nâng cao đạo đức, ai nấy đều trọn đạo hiếu, tín Thần kính Trời. Vua Thuấn thực hành văn hóa lễ nhạc, coi trọng tế tự, đồng thời phối hợp với văn học, thi ca, đã chế tác ra Thiều Nhạc để tế tự Thượng Thiên, đức âm bình hòa của nó khiến “phượng hoàng đến múa theo lễ nghi, cầm thú cảm hóa bởi đức”. Chu Công thuận theo Thiên Đạo chế tác lễ nhạc, thông qua lễ nhạc, đạo đức giáo hóa quy phạm tư tưởng và hành vi con người, “đại nhạc hòa đồng cùng Trời Đất, đại lễ cùng khánh tiết với Trời Đất”, khiến cho quốc gia được thịnh trị. Các triều đình các thời đại hàng năm đều định kỳ cử hành lễ nghi đại điển “tế Trời” long trọng, mọi người cũng tế lễ “Thần Xã Tắc” cai quản thổ địa, ngũ cốc. Thánh nhân minh quân dẫn dắt người dân kính Trời, mọi người kính Trời tín Thần, phong tục thế gian tường hòa, đối với tất cả mọi thứ đề biểu hiện ra không tranh giành, khiến thiên hạ xuất hiện cảnh tượng trong sáng, thái bình.

    Trời làm chủ sự tồn tại của vận mệnh con người, xã hội và sự tồn tại của cát hung họa phúc cấp cho con người

    Thiên mệnh quan cổ đại đã rõ ràng ban cho con người thuộc tính đạo đức “kính đức bảo dân”, “thiên mệnh” và “nhân sự” là tương thông với nhau, “Ông Trời không thân với ai, chỉ trợ giúp người có đức” (Tả Truyện – Hy Công ngũ niên). Quy phạm đạo đức là cái mà Trời vì để bảo vệ người dân mà ban cho nhân gian, con người phục tùng Thiên mệnh là một loại hành vi đạo đức, Trời sẽ ban thưởng cho con người, nếu không thì Trời sẽ trừng phạt con người. Hành vi thiện ác của con người có thể được Trời cảm ứng, tức “Trời soi xét con người, không khác gì tấm gương”; “làm điều thiện thì Trời Đất đều biết, làm điều ác thì Trời Đất cũng đều biết”.


    Xem lại lịch sử nhân loại, thiên tai dường như chưa bao giờ dứt. Sử sách đồng thời cũng ghi chép rất nhiều câu chuyện người hành thiện thì dịch bệnh không xâm phạm đến họ được, không bị tai ương của thủy hỏa phong lôi (lũ lụt, hỏa hoạn, bão gió, sấm sét), tâm thiện có thể cảm động Trời Đất. Những sự tích chân thực này đã chứng thực đầy đủ trọng đức hướng thiện là cách tốt nhất để được Thượng Thiên để ý và bảo hộ, cho dù là ở hoàn cảnh hiểm nguy thì cũng có thể hóa hiểm thành an, bởi vì “Tự có Trời bảo hộ thì cát tường, không điều gì là không thuận lợi”. Nếu con người làm những việc trái với lẽ Trời, Trời sẽ giáng tai họa cảnh cáo, để con người phản tỉnh, nếu có thể kịp thời sửa chữa lỗi lầm, bù đắp những tổn thất, thế thì sự trừng phạt của Trời sẽ tự giảm thiểu hoặc chấm dứt. Thay đổi cái tâm chính là biện pháp căn bản nhất giải quyết vấn đề, có thể thông qua giáo hóa mà hành thiện.

    Như “Hán thư” ghi chép: Thời Hán Nguyên Đế, vùng kinh thành Trường An có những thiên tai như nhật thực, địa chấn… Nguyên Đế cảm thấy kinh sợ và lo lắng, thế là hỏi quần thần về những điều làm được và không được về mặt chính trị. Khuông Hoàng – người đảm nhiệm chức Cấp sự trung, đã chiểu theo kinh điển Nho gia trả lời rằng: “Từ quân vương đến thứ dân, tất cả đều kính Trời sùng thiện. Quân vương cần phải tiếp nhận Thiên ý để thực hành nền nhân chính, làm việc thiện, cầu phúc cho bách tính. Nên giảm quy mô cung thất, tu nội và ngoại, gần gũi những người trung chính, tránh xa gian nịnh. Công khanh đại phu cần tuân theo lễ, cung kính khiêm nhường, thích nhân nghĩa, thí xả, trọng nghĩa khinh lợi, làm tấm dương cho dân chúng. Sau đó thúc đẩy đạo đức giáo hóa trong bách tính, hoằng dương phong khí nhân – hòa. Trên thực hành, dưới làm theo, như thế thì quốc gia có thể hưng vượng, bách tính có thể an cư lạc nghiệp”. Khuông Hoành nhằm vào tệ nạn đương thời mà đề ra biện pháp tốt, được Nguyên Đế, các đại thần và bách tính ủng hộ và tán thành. Sau khi thực thi, quả nhiên phong khí xã hội trở nên tốt đẹp, các dị tượng không xảy ra nữa, quốc thái dân an.

    Trời là sự tồn tại ban cho con người đức tính, thiện tính và bản tính nhân, nghĩa, lễ, trí

    Khổng Tử nói: “Trời sinh đức cho ta, Hoàn Đồi làm gì ta được”; “Trời chưa diệt văn hóa đó, người Khuông làm gì được ta”. Đó là nói: Đức là do Trời ban cho ta, ta thụ mệnh từ Trời, bất kể sự tình gì đều không thể làm gì ta được. Mạnh Tử nói: “Người tận tâm theo thiện thì biết bản tính của mình. Người biết bản tính của mình thì có thể thờ Trời được” (Mạnh Tử – Tận tâm thượng). Tức là cần phải kiên trì giữ vững lương tri, cái tâm của bản thân, tu thân dưỡng đức thì mới có thể đạt đến cảnh giới biết được Trời, thờ Trời và chí thiện. Nho gia cho rằng “Lòng Trời có nhân đức”, đã nói rõ cái lý của Trời Đất: “lòng người bất nhân thì lòng Trời không bảo hộ”, nhấn mạnh sùng nhân chuộng lễ, khiêm hòa cung kính, quang minh lỗi lạc, thuận ứng với trật tự âm dương của Trời Đất, từ sự lựa chọn trên các phương diện thời gian, không gian, hoàn cảnh và đạo đức, hành vi, truy cầu lý tưởng của bản thân, đồng nhất với Đạo của Trời Đất.

    Lý niệm Thiên – nhân hợp nhất hàm chứa ở trong hệ tư tưởng Nho gia, Đạo gia và Phật gia, thể hiện ra tinh thần nội tại của văn hóa truyền thống Trung Quốc. Nhìn từ Nho gia, có thể thấy Trời là bản nguyên của nguyên tắc và quan niệm đạo đức, bản tính nhân nghĩa lễ trí là Trời ban cho, là thứ cố hữu trong tâm con người. Nhưng do hậu thiên của con người bị mê hoặc bởi các loại danh lợi và dục vọng, muốn thông qua tu thân để trừ bỏ các loại tư tâm và tạp niệm, từ đó đạt đến một cảnh giới tự giác thực hành các nguyên tắc đạo đức. Đó chính là điều Khổng Tử nói: “70 tuổi làm theo những gì lòng mong muốn mà không vượt ra ngoài phép tắc”. Nhìn từ Phật gia, có thể thấy Phật tính là thứ con người ai ai cũng có, nhưng do con người mê lạc trên thế gian nên bản tính mất đi mà không tự biết, thông qua tu luyện, không ngừng thăng hoa có thể tu thành giác giả – cảnh giới của Phật. Nhìn từ Đạo gia, có thể thấy ngộ Đạo tu Chân, phản bổn quy chân, cuối cùng tu thành Chân nhân. Do đó có thể thấy, muốn đạt được cảnh giới con người thông với Trời thì con người ắt phải thăng hoa đạo đức, đạt được tiêu chuẩn cao hơn, cho đến tiêu chuẩn của Phật Đạo Thần.

    Người Trung Quốc từ xưa đến nay tin và tuân theo chân lý Thiên – nhân hợp nhất, kính Trời kính đức, tin vào sự đối ứng trực tiếp của thiên tượng biến hóa với sự việc nhân gian, tin thiện ác hữu báo, coi trọng nâng cao đạo đức. Nhưng ngày nay, Trung Cộng nghịch Trời phản Đạo, phản Thiên phản Địa, phản đạo đức, phản quy luật vũ trụ, đã tạo ra vô số các bi kịch nhân gian, khiến đạo đức xã hội suy bại, thì lẽ Trời ắt không dung thứ. Ngày nay, ở Bình Đường, Quý Châu đã phát hiện ra tảng đá lớn, ở mặt cắt sau khi vỡ ra, người ta tháy có 6 chữ lớn “Trung Quốc Cộng Sản Đảng Vong” (Đảng CSTQ diệt vong). Có thể thấy tà đảng Trung Cộng tội ác tày Trời, con người và Thần đều phẫn nộ, Trời sẽ tiêu diệt nó. Phong trào “thoái đảng” ở Trung Quốc hiện nay chính là một loại thể hiện của thiên tượng ở nhân gian. Càng ngày càng nhiều người có hiểu biết đã thoái xuất khỏi Trung Cộng và tất cả các tổ chức phụ thuộc của nó, kình thuận Thiên ý, kiên trì giữ vững đạo đức, lựa chọn chính nghĩa và tiền đồ tươi sáng.

    HOA TỰ DO
    Văn diù cánh Phượng yên trăm họ
    Võ thét oai Hùm dẹp bốn phương
                    

     

    --
     

VĂN HÓA VÀ GIA ĐÌNH - VĨ ĐẠI CỦA NGƯỜI MẸ

 

  •  
    nguyenthi leyen
     
    Sun, Aug 16 at 3:50 AM
     
     
     
     
     
     
    Ảnh cùng dòng


    SỰ VĨ ĐẠI CỦA NHỮNG NGƯỜI MẸ

     

    Những người mẹ trần gian, dù vẫn còn những giới hạn của kiếp người yếu đuối, vẫn chiếu tỏa rạng ngời hình ảnh của người Mẹ vĩ đại là Đức Maria.

     

     

     

    Thằng “Chiền” có tên giấy tờ rất đẹp là Tú Anh. Nội nó nói tên này nghe sang trọng quá, không hợp với đứa trẻ nhà quê nên gọi nó là “Chiền”, theo tên bố nó là Chiên.

     

    Mẹ Chiền bị lây bệnh phong hủi, xóm làng kỳ thị xa lánh. Nhưng đau nhất là ông chồng bỏ mẹ con chị mà theo người khác. Trong nỗi đau đớn thể xác và sự tủi nhục tinh thần, mẹ Chiền có ý định sẽ tự vẫn. Dẫu vậy, trước khi tìm đến cái chết chị quyết tâm sẽ xây cho con mình một ngôi nhà để nó có chỗ nương tựa.

     

    Đêm đêm trong thời tiết giá lạnh, bằng hai bàn tay cùi co quắp thiếu ngón đốt, người phụ nữ đau khổ và bất hạnh cắn răng nuốt lệ để đóng 18 ngàn viên gạch xây cho con ngôi nhà. Căn nhà hình thành song song với những dòng nhật ký không bao giờ thẳng hàng:

     

    “Túp lều nát rùng mình trong gió rét

    Chiếc nôi nghèo run rẩy giữa đêm đông

    Bố bỏ đi biệt xứ chẳng một lời

    Con mồ côi ôm một đời cơ cực

    Mẹ còn sợ gì cái giá lạnh đêm đông

    Dựng cho con một nếp nhà hy vọng…”.

     

    Ông trời có mắt. Lúc chị làm xong ngôi nhà thì cũng là thời điểm bệnh cùi có thuốc trị. Các bác sĩ nghe biết đã tận tình cứu chữa. Chị được tiếp tục sống hạnh phúc với con của mình trong chính ngôi nhà đó (Trích trong phim tài liệu Chuyện Người Tử Tế của Trần Văn Thủy).

     

    Người đàn bà xứ Canaan (Mt 15, 21-28): Trong sự bất hạnh của mẹ góa con côi, trong thân phận dân ngoại bị xa lánh và kỳ thị trên đất Israel,  cùng trong sự khốn khổ khi đứa con yêu đang điên dại vì quỷ ám. Bà tìm đến Thầy Giê-su mà đâu đó bà đã nghe thiên hạ kháo nhau về Ngài.

     

    Qua bóng dáng gầy gò nhỏ bé, sự đau khổ dường như đã khắc lên tường chi tiết trên người bà. Thất thểu lẽo đẽo theo sau đoàn Thầy trò Giê-su, bà nhận được những cái nhìn ái ngại, một vài câu ủi an cho xong chuyện từ các Tông đồ. Đau hơn nữa là sự thử thách đức tin của Thầy Giê-su có phần quá khắc nghiệt với bà. Nhưng rồi tình thương và sự hy sinh vĩ đại của người mẹ đã chiến thắng tất cả: “Bà muốn sao thì sẽ được vậy”, ngay lập tức con bà đã khỏe mạnh bình an với quyền năng Chúa.

     

    Cặp Song sinh: Trúc Nhi và Diệu Nhi được tồn tại trong kiếp người hoàn toàn nhờ sự dũng cảm của người mẹ. Trong xã hội vô thần, phá một đứa con trong bụng cũng tương đương với giết con gà con vịt. Vợ chồng anh Hoàng Anh và chị Hồng Thúy nhận kết quả siêu âm hoa trái đầu đời của tình yêu trong sự đau khổ vô hạn. Con mình dị tật, không phải một mà là hai đứa. Là người Công Giáo, anh chị phản đối ngay lập tức lời đề nghị của bác sĩ là phá bỏ nó. Chị khẳng định sẽ cho con mình được sống dù các cháu có thế nào đi nữa.

     

    Chúa không bỏ rơi mẹ con chị, dù Ngài có chút “nghiệt ngã” như đã đối xử với người phụ nữ Canaan. Những đường dao phẫu thuật trên thân thể hai con cũng là những nhát dao đâm thấu tâm hồn anh chị, để rồi trong thâm tâm của những con người tràn đầy niềm tin và dạt dào tình yêu đó, mở ra cơ hội được sống và sống dồi dào cho hai thiên thần bé nhỏ.

     

    Những người mẹ trần gian, dù vẫn còn những giới hạn của kiếp người yếu đuối, vẫn chiếu tỏa rạng ngời hình ảnh của người Mẹ vĩ đại là Đức Maria. Xin Mẹ là Mẹ đầy yêu dấu của chúng con, cứ yêu mãi chúng con như tình yêu Mẹ đã dành cho Thầy Giê-su Chí Thánh.

     

    Lm Giuse Nguyễn Đức Thịnh

     



     

 

VĂN HÓA VÀ GIA ĐÌNH -

 

  •  
    nguyenthi leyen
     
    Wed, Jul 29 at 1:59 AM
     
     
     
     
     
     
    Ảnh cùng dòng


     
    ĐỪNG ĐỢI ĐẾN KHI CHA MẸ RA ĐI MÃI MÃI, CHÚNG TA MỚI QUAN TÂM THÌ QUÁ MUỘN
    “Mẹ giờ đã già rồi nên hay lẫn lộn, mỗi lần tôi gọi điện đến, luôn sốt sốt sắng sắng hỏi một câu: Khi nào con về?”

    hông chỉ cách xa hàng ngàn cây số, phải bắt tận 3 tuyến xe, mà công việc của tôi bận rộn đến nỗi có phân thân ra cũng không làm hết việc, còn lấy đâu ra thời gian mà về quê thăm mẹ. Tai của mẹ cũng lơ đễnh lắm rồi, tôi giải thích đi giải thích lại mà mẹ vẫn như không nghe được gì, vẫn hăm hở hỏi đi hỏi lại: “Khi nào con về?”. Quá tam ba bận, cuối cùng tôi đã không giữ được kiên nhẫn nên phải nói như hét vào điện thoại, giờ thì mẹ chắc nghe rõ rồi, nên lặng lẽ không nói thêm gì mà cúp điện thoại. Vài ngày sau mẹ lại gọi điện hỏi tôi câu hỏi đó, chỉ là lần này giọng bà có vẻ ngượng ngùng, không còn tự tin nữa. Giống như một đứa trẻ không được giải hòa nên vẫn chưa cam tâm.

    Biết là hỏi xong thì cũng vô ích, nhưng không nhịn được nên bà vẫn hỏi. Tôi có chút mủi lòng, nên im lặng suy tư một lát. Mẹ nghe thấy giọng tôi thì lập tức vui vẻ hẳn lên, luôn miệng kể lể với tôi rằng: “Cây lựu sau nhà vừa mới nở hoa, dưa hấu ngoài vườn cũng đã sắp chín, con nhanh nhanh về đi”. Tôi khó xử: “Con bận thế này làm sao nỡ xin nghỉ ạ”. Mẹ vội vàng nói: “Sao không được, con cứ nói là mẹ bị ung thư chỉ còn sống được nửa năm nữa thôi nên phải về chăm sóc, có gì đâu mà khó nói”, rồi mẹ lại cười lạc quan.

    Ngày nhỏ, cứ mỗi lần mưa to gió rét, tôi không muốn đi học nên thường giả vờ đau bụng, mẹ phát hiện đã cho tôi một trận. Giờ mẹ già rồi lại đi dạy tôi nói dối, tôi vừa giận lại vừa tức cười. Những cuộc nói chuyện thế này cứ lặp đi lặp lại nhiều lần, tôi không cầm lòng được mà trả lời mẹ rằng tháng sau tôi nhất định về. Mẹ vui quá nghẹn ngào không nói thêm gì nữa.

     

    Chẳng hiểu vì sao công việc tôi lúc nào cũng bận ngập đầu, cảm thấy việc nào cũng quan trọng hơn việc về nhà thăm mẹ, cuối cùng hết tháng tôi vẫn không về được. Mẹ ở đầu dây bên kia như phảng phất một nỗi buồn sâu thẳm, trong lòng tôi vô cùng áy náy: “Mẹ giận con rồi à?” – Lần này tôi mới nói vậy mà mẹ nghe thấy luôn, mẹ trả lời không cần suy nghĩ: “Con à, mẹ biết con rất bận, nhưng chỉ mất có vài ngày thôi mà”.

    Mẹ gọi điện thúc giục liên tục: “Nho chín rồi, lê cũng chín rồi nhanh về ăn đi con”. Tôi nói: “Có phải cái gì hiếm đâu mẹ, ở đây thiếu gì à! Bỏ ra mấy chục nghìn thì có mà ăn ốm”. Mẹ nghe vậy chắc buồn lắm nên tôi lại vội vàng dỗ mẹ: “Nhưng toàn là hoa quả bón phân hóa học và thuốc trừ sâu thôi, làm sao ngon như quả mẹ trồng được”. Mẹ nghe xong thì bật cười đắc ý.

     

    Hôm đó là thứ 7, thời tiết vô cùng nóng bức, tôi không dám đi đâu ra khỏi nhà, chỉ bật điều hòa ngồi yên trong phòng, con gái tôi lẽo nhẽo đòi ăn kem mút nên tôi đành phải ra ngoài mua. Ngoài trời hơi nóng bốc lên nghi ngút, tôi đột nhiên nhìn thấy bóng mẹ ở xa xa, nhìn bộ dạng của mẹ tôi biết mẹ vừa từ trên xe xuống, trên tay là một chiếc làn, sau lưng khoác một bịch nặng. Mẹ khom người tránh bên trái lại né bên phải, sợ người khác đụng phải đồ đạc của bà.

    Trong dòng người đông đúc, mẹ lách đi từng bước rất khó khăn. Tôi chua xót vẫy tay gọi mẹ, mẹ ngẩng gương mặt đầy mồ hôi lên nhìn tôi, khi thấy tôi đang chạy đến gần, mẹ mừng quá không nói nên lời, nước mắt chan hòa cùng những giọt mồ hôi. Vừa về đến nhà, mẹ hồ hởi bỏ đồ trong làn ra. Tay mẹ gầy gò, gân xanh chằng chịt, cả mười đầu ngón tay đều có băng dính, ngón nào cũng có vài vết đứt đang rỉ máu, trái tim tôi đang thắt lại đau đớn, còn mẹ vẫn cười nói vô tư: “Ăn đi con, nhanh ăn đi, những quả này mẹ đã chọn kỹ càng rồi”.

    Tôi không thể nào tưởng tượng được mẹ chưa hề đi đâu ra khỏi lũy tre làng, mà chỉ vì câu nói của tôi nên vượt qua hơn nghìn cây số chỉ để đến tìm con. Mẹ ngồi xe giá vé rẻ nhất, chiếc xe khách không có điều hòa, trên xe nóng bức, nhưng những quả nho và lê chín mọng kia lại nguyên vẹn, không hề bị dập nát.

    Tôi vẫn không tin được vào mắt mình, sao mẹ lại đến được đây? Tôi chỉ đoán rằng trên thế giới này, chắc người mẹ nào cũng có một phép màu. Mẹ chỉ ở lại ba ngày, mẹ nói công việc tôi quá vất vả, bận rộn từ sáng đến tối, lại còn chăm sóc con cái, bà chỉ lo lắng vậy thôi chứ chẳng giúp đỡ được gì. Đến cả đồ đạc trong bếp, bà cũng không dám chạm vào vì sợ sẽ vỡ hỏng đi. Mẹ âm thầm mua vé rồi lặng lẽ xách đồ ra về.

    Mới về được một tuần mẹ đã nói nhớ tôi, rồi không ngừng thúc giục tôi về nhà. Tôi mỉm cười: Mẹ ơi, mẹ kiên nhẫn một chút đi.

    Ngày hôm sau tôi nhận được điện thoại của dì út, dì nói: “Mẹ con ốm nặng rồi, con về nhà ngay đi!”. Tôi sốc quá tối sầm mặt mũi, nước mắt lưng tròng chạy ngay ra bến xe, tôi vội vàng lên chuyến xe cuối cùng. Trên xe tôi âm thầm cầu nguyện, tôi hy vọng mẹ chỉ là đang dối tôi. Tôi mong rằng mẹ sẽ không sao, tôi sẵn sàng nghe những lời cằn nhằn của mẹ, và sẵn sàng ăn hết những gì mà mẹ nấu, sẵn sàng sắp xếp thời gian để thường xuyên về thăm mẹ.

    Giờ đây tôi mới nhận ra một điều, bất kỳ ai có sống đến 80 tuổi cũng cần có mẹ bên cạnh. Cuối cùng tôi cũng về đến cổng làng, mẹ chầm chậm chạy ra đón tôi, bà tươi cười hạnh phúc, tôi ôm chầm lấy mẹ, vừa khóc vừa cười nói: “Mẹ nói bệnh cái gì, thế mà mẹ cũng nghĩ ra được à?”. Bị trách như vậy nhưng mẹ vẫn vui, mẹ chỉ cần được nhìn thấy tôi thì tôi có trách sao cũng được.

    Mẹ vui quá cười nói liến thoắng, tíu tít ra ra vào vào như con nít. Mẹ bày một bàn toàn đồ ăn ngon, đang đợi tôi khen ngợi thì bị tôi phê bình không thương tiếc: “Cháo đậu đỏ quá nhừ, vỏ bánh sủi cảo nặn quá dày, thịt kho quá mặn…” Nụ cười của mẹ đột nhiên trở nên ngượng ngùng, mẹ miễn cưỡng gãi đầu rồi quay đi. Trong lòng tôi đang cười thầm vì đắc ý. Tôi biết rằng hễ tôi mở mồm khen ngon là y như rằng mẹ ép tôi ăn bằng hết, thậm chí còn làm thêm để lúc về bắt tôi xách theo. Vì thế nên tôi mới bị mẹ nuôi thành béo tròn như thế này, có làm cách nào cũng không giảm được cân. Còn nữa, nếu không chê bai như vậy thì tôi làm gì có cơ hội được tranh vào bếp.

    Tôi nấu cơm cho mẹ ăn, nói chuyện cùng mẹ, mẹ nhìn tôi chằm chằm một lúc lâu. Đôi mắt hiện rõ tình yêu thương vô bờ bến, không cần biết tôi nói gì mẹ cũng đều gật đầu tán thành, lắng nghe một cách chăm chú, thậm chí cả lúc tôi ngủ trưa mẹ cũng ngồi cạnh giường mỉm cười lặng lẽ nhìn tôi. Tôi nói: “Mẹ thương con như vậy, sao không về ở cùng con?”. Mẹ nói không quen ở thành phố. Chả được mấy hôm tôi lại sốt ruột đòi về, mẹ năn nỉ tôi ở lại với mẹ thêm một hôm thôi cũng được. Mẹ đã nhờ dì lên huyện mua thức ăn, chắc chỉ một lát nữa là về đến nhà, mẹ nói hôm nay mẹ nhất định nấu cho tôi những món thật ngon.

    Phố huyện cách nhà 9 km, mẹ nhờ mua tất cả những gì mẹ cho là ngon nhất về nấu cho tôi ăn, như vậy mẹ mới cảm thấy thoải mái.

    Từ lúc ở nhà dì út về, mẹ hăng hái chuẩn bị đồ ăn, cuối cùng mọi thứ đã sẵn sàng trên bàn, tôi không thể không ngạc nhiên – Cá kho không cạo vảy, lông tơ của gà nhổ chưa sạch, đậu cô ve xào thậm chí còn có một sợi tóc… Dù là món thịt hay là món chay, đều khiến người khác không dám động đũa. Mẹ hồi còn trẻ rất sạch sẽ, thế mà bây giờ già rồi lại lôi thôi bẩn thỉu thế này.

    Mẹ nhìn thấy tôi chỉ lật đi lật lại không ăn, lại tưởng rằng tôi buồn vì muốn về nên bà đành buồn bã nói đưa tôi đi bắt chuyến xe đêm. Trời tối đen như mực, mẹ nắm lấy cổ tay tôi nói rằng tôi không quen đi đường đất trong thôn. Mẹ đưa tôi ra đến cổng làng, đưa tôi lên xe mẹ không ngừng dặn nọ dặn kia, xe chuyển bánh rồi mẹ mới chịu xuống xe. Cửa xe kẹp vào áo của mẹ khiến bà suýt nữa thì té ngã, tôi thò đầu ra ngoài thấy bóng mẹ gầy gò ống thấp ống cao, tôi nghẹn ngào nói với ra: “Mẹ, mẹ cẩn thận nhé!”. Tai mẹ nào có nghe rõ, vừa lò dò chạy vừa vẫy tay theo rồi gào lớn: “Con à… mẹ không giận con đâu, mẹ biết con rất bận mà!”.

    Tôi thật không nỡ xa mẹ, còn mẹ thì lại không quen cuộc sống nơi thành thị, cả chặng đường tôi buồn bã không biết nên phải làm sao. Sau lần đó, mẹ không bao giờ giục tôi về nhà nữa, mỗi lần gọi điện chỉ toàn kể rất nhiều chuyện vui: Con bò cái vừa sinh một con bò con, đầu xuân sang năm mẹ sẽ trồng thật nhiều hoa quanh sân… Tôi cứ thế yên lặng lắng nghe, lòng tràn đầy ấm áp và hạnh phúc.

    Vào một ngày cuối năm, tôi lại nhận được điện thoại của dì út, dì nói: “Mẹ con ốm nặng rồi, con mau về đi”. Tôi làm sao tin được, hôm kia tôi còn vừa nói chuyện với mẹ kia mà, bà còn nói bà rất khỏe, rồi dặn tôi đừng quá suy nghĩ. Dì út chắc chỉ dối tôi như lần trước vậy thôi, tôi nửa ngờ nửa tin nhưng vẫn lập tức bắt xe về quê.

    Trên đường, tôi còn mua một hộp to loại bánh kem mà mẹ thích ăn. Xe về đến đầu làng, không thấy mẹ ra đón, toàn thân tôi toát lạnh run rẩy, tôi dự cảm thấy có điều gì đó chẳng lành. Dì út nói với tôi: “Khi dì gọi điện cho con thì mẹ con đã không còn nữa, bà ấy ra đi rất thanh thản”. Tôi đau đớn gục xuống…

    Thì ra, 6 tháng trước mẹ đã được chẩn đoán mắc bệnh ung thư, nhưng bà không nói với ai, vẫn vui vẻ lạc quan đến tận khi nhắm mắt xuôi tay. Thậm chí còn tự chuẩn bị chu đáo cho tang lễ của chính mình. Dì còn nói với tôi rằng mắt mẹ bị đục thủy tinh thể, nhìn gì cũng rất khó khăn. Tôi ôm chặt hộp bánh trước ngực, như thể trái tim vừa bị ai giật mất, nước mắt nhạt nhòa không ngừng rơi xuống.

    Trời ơi! Sao mọi chuyện lại phũ phàng như vậy? Tôi nên trách ông Trời hay phải trách bản thân vô tâm, từ nay tôi không còn mẹ nữa ư? Không còn ai gọi điện giục tôi về, không còn ai ngày ngày chờ đợi tôi… Thì ra, mẹ biết chẳng sống được bao nhiêu ngày nữa nên mới liên tục gọi điện gọi tôi về, chỉ để muốn được nhìn thấy tôi thêm vài lần, nói với tôi thêm vài câu…

    Thì ra, ngày cuối cùng làm cơm cho tôi, đôi mắt mẹ đã không còn nhìn rõ, tôi quả thật quá vô tâm! Đêm đó khi tôi lên xe rồi, một mình mẹ đã làm thế nào để lần mò về nhà? Mẹ có bị ngã không? Tôi vĩnh viễn sẽ không bao giờ biết được. Mẹ, những giây phút cuối đời mẹ vẫn vui vẻ nói với con, hoa bìm bịp nở tím hàng rào, hoa đậu tím như màu áo con mặc khi xưa. Mẹ để lại tất cả sự ấm áp và tình yêu, rồi sau đó lại lặng lẽ ra đi.

    Con biết, mẹ là người duy nhất trên đời không bao giờ giận con, là người sẵn sàng chờ đợi con mãi mãi. Vì biết thế nên con mới dám để mẹ đợi lâu như vậy. Nhưng mà mẹ ơi, con thực sự có bận thật không? Hàng ngày con vẫn nghe đâu đó phảng phất câu thơ: “Ai có mẹ xin đừng làm mẹ khóc, đừng làm buồn lên mắt mẹ nghe không!”. Nay con hối hận lắm mẹ ạ, những ngày tháng để mẹ cô đơn, để mẹ sống thấp thỏm trong chờ đợi!

    Nếu một ngày bạn thấy trong bếp mẹ dọn không còn sạch như trước;

    Nếu một ngày bạn nhìn thấy những món ăn mẹ nấu không còn sạch sẽ cầu kỳ nữa;

    Nếu một ngày bạn thấy nồi niêu xoong chảo không còn sáng bóng nữa;

    Nếu một ngày bạn thấy hoa và cây cảnh của cha đang dần bị bỏ rơi;

    Nếu một ngày bạn thấy tủ quần áo bị bao phủ đầy bụi;

    Nếu một ngày bạn thấy rằng mẹ nấu ăn quả thực quá mặn;

    Nếu một ngày bạn thấy rằng cha mẹ thường quên tắt đèn;

    Nếu một ngày bạn tìm thấy những thói quen của cha mẹ không còn nữa, hay là khi họ không còn muốn đi tắm mỗi ngày;

    Nếu một ngày bạn thấy rằng cha mẹ không ăn được trái cây giòn và rau xanh nữa;

    Nếu một ngày bạn thấy rằng cha mẹ thích ăn rau nấu nhừ một chút;

    Nếu một ngày bạn thấy rằng cha mẹ thích ăn cháo;

    Nếu một ngày bạn thấy rằng những hành động và phản ứng của họ chậm hơn rồi;

    Nếu một ngày bạn nhìn thấy khi ăn cơm cha mẹ ho không ngừng, đừng lầm tưởng rằng họ đang bị cảm mạo hay bị ho thông thường…

    Nếu một ngày bạn thấy họ không còn thích ra ngoài…

    Nếu có một ngày như vậy, tôi muốn nói với bạn rằng, bạn phải chấp nhận rằng cha mẹ bạn đã già, đã thực sự cần đến sự quan tâm chăm sóc của con cái rồi. Nếu bạn không thể chăm sóc, bạn nên tìm một người nào đó để chăm sóc cho họ, và hãy thường xuyên quan tâm đến họ, không để họ cảm thấy bị bỏ rơi.

    Ai trong chúng ta rồi cũng đến lúc phải già đi. Cha mẹ sẽ già trước chúng ta, chúng ta nên đặt mình vào vị trí của cha mẹ mà suy ngẫm và chăm sóc cho họ, như vậy mới có thể kiên trì và không cảm thấy phiền phức.

    Khi cha mẹ không thể tự chăm sóc cho bản thân, phận làm con phải nên chú ý, việc đại tiểu tiện của họ sẽ không tự kiểm soát được hoặc còn nhiều việc họ đều không tự làm được nữa. Khi trong phòng có mùi hôi tanh, bản thân họ có thể không ngửi thấy, xin đừng bao giờ phàn nàn sao họ bẩn sao họ hôi, phận làm con là giúp cha mẹ dọn dẹp, và đừng làm tổn thương lòng tự trọng của cha mẹ.

    Khi cha mẹ không còn muốn tắm, hãy dành thời gian để tắm cho họ, bởi vì bản thân họ tự tắm cũng không sạch được. Khi chúng ta dùng bữa, xin vui lòng chuẩn bị cho cha mẹ một phần ăn thật nhừ, bởi vì răng họ có lẽ không còn nhai được nữa

    Khi chúng ta mới sinh ra, ai bón cho chúng ta ăn, ai thay tã cho chúng ta? Khi ốm đau bệnh tật ai chăm sóc, ăn uống học hành sách vở ai lo cho? Ai là chỗ dựa của bạn trong cuộc sống? Nếu một ngày, cha mẹ thực sự không thể đi được nữa, khi vai diễn đều đảo ngược trở lại, bạn có thể diễn vai diễn đó được không?

    Phận làm con là chăm sóc cha mẹ, như tương lai muốn con cái chăm chúng ta. Lòng hiếu thảo là phải kịp thời và đúng lúc.

    Biên dịch: Thiếu Kỳ
     

 

VĂN HÓA VÀ GIA ĐÌNH - ĐỜI NGƯỜI CÓ 3 VIỆC

  •  
    Hung Dao
     
    Sat, Aug 8 at 4:07 PM
     
     
     
     
     
    Subject: VAN HOA :Đời người có 3 việc càng lười biếng càng có phúc khí
     

    Đời người có 3 việc càng lười biếng càng có phúc khí

    Ngọc Linh

     
    Đời người có 3 việc càng lười biếng càng có phúc khí
     

    Mặc dù lười biếng là một điểm yếu của con người nhưng nếu lười một cách đúng lúc, đúng chỗ thì lại là phúc ấm. Cái lười biếng ấy không phải là siêng ăn nhác làm mà là một thái độ sống nhàn nhã và giản dị.

    Não lười biếng: Bớt so đo, tính toán

    Trong cuộc sống, nhiều rắc rối là do bản thân tự mình quàng vào, là do suy nghĩ quá nhiều mà nên. Bộ não con người vốn nhỏ, những phiền não quá nhiều cũng khiến nó không có đủ sức chứa.

    Lười động não một chút không phải là không để tâm đến những chuyện khác mà chỉ là để tâm đến những chuyện lớn, chuyện cần thiết.

    Lười động não thì sẽ bớt lo lắng, bớt so đo, tất cả đều thuận theo tự nhiên để tâm mình được nhẹ nhàng.

    Cung tên lên dây quá lâu, căng rồi sẽ đứt. Con người cũng vậy, bỏ qua được thì hãy bỏ qua, nâng lên được đặt xuống được, đừng ép bản thân phải quá ôm đồm. 

    Nhà văn nổi tiếng thời Bắc Tống, Tô Đông Pha là người có thái độ sống rất tích cực. Dù gặp phải chuyện không như ý cỡ nào, ông cũng luôn vui vẻ. Những đau khổ không thể quật ngã ông, mà chỉ làm Tô Đông Pha trở nên mạnh mẽ hơn. 

    Lười mở miệng: Ít tranh luận

    Có câu: “Trước khi nói người khác, hãy ngồi tĩnh lại suy nghĩ về bản thân mình”. Trước khi chỉ trích bất kỳ ai, hãy xem lại bản thân mình. “Tiên trách kỷ hậu trách nhân” chính là như vậy. Mọi xung đột đều từ ngữ khí và lời nói bất hảo, từ cái tâm chỉ trích và thái độ không nghĩ cho người khác mà ra. 

    Nếu lười mở miệng một chút thì sẽ ít lời đi, quan sát và lắng nghe nhiều hơn, tự rút ra cho bản thân mình thế nào là đúng là sai. Đôi khi không nhất thiết phải nói ra hết những lời trong lòng. 

    Nói chuyện cũng phải có nghệ thuật, có ý thức và chừng mực, cái gì nên nói, cái gì không nên nói cũng cần cân nhắc, suy nghĩ một cách cẩn thận. Đừng nói xấu sau lưng người khác, điều này chỉ dẫn đến những rắc rối và mâu thuẫn.

    Ít nói chuyện của người khác có thể giúp bản thân mình tránh xa muộn phiền, giảm bớt kẻ thù. Trong cuộc sống, hãy biến bạn thành thù. Người không có kẻ thù mới là người mạnh mẽ và hạnh phúc nhất. 

    Lười động tay: Bớt chỉ đạo

    Hãy tự quản tốt việc của bạn, đừng ôm đồm lo cho chuyện của người khác. Nếu lúc nào cũng chỉ đạo người khác phải làm cái này cái kia, bạn sẽ khiến họ cảm thấy rất khó chịu. Bạn có thể giúp đỡ người khác hoàn thành công việc tốt hơn chứ đừng bao giờ áp đặt ý chí của mình. 

    Bạn không thể thay người khác quyết định cuộc đời của họ, dù đó có là người thân, gia đình của mình đi chăng nữa. Trong gia đình, đừng can thiệp quá sâu vào cuộc sống riêng của vợ, chồng, con cái. Để cho mỗi người có một khoảng không riêng, gia đình mới có thể hòa thuận. Ép người khác phải theo ý mình chính là khởi nguồn của nhiều bi kịch đau lòng. 

    Hãy lười động tay động chân một chút, hãy ngừng can thiệp vào chuyện của người khác, bạn sẽ thấy cuộc đời mình nhẹ nhàng, thoải mái hơn. Mỗi người là một cá thể độc lập và chính vì chúng ta biết giữ khoảng cách với nhau mà mối quan hệ lại càng trở nên đẹp hơn, cao quý hơn. 

    Làm người đôi khi đừng quá ôm đồm. 

    Làm người đôi khi đừng quá so đo, tính toán. 

    Làm người đôi khi hãy cứ lười biếng một chút đi! 

    HOA TỰ DO
    Văn diù cánh Phượng yên trăm họ
    Võ thét oai Hùm dẹp bốn phương

     
     

VĂN HÓA VÀ GIA ĐÌNH - CHUYỆN 3 LOÀI CÁ

  •  
    Tracy NGuyen
    Mon, Jun 29 at 7:18 AM
     
     
    ---------- Forwarded message ---------
    From: Madeleine Hoang <This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.>
    Date: Sun, Jun 28, 2020, 6:01 PM
    Subject: FW: CHUYEN VE 3 LOÀI CÁ

    CHUYỆN VỀ 3 LOÀI CÁ

     

    Con cá thứ nhất là cá hồi chó

    https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1_h%E1%BB%93i_ch%C3%B3

    Cá hồi chó sống ở vùng nước sâu trong đại dương bao la.

    Cá hồi chó mẹ sau khi đẻ trứng sẽ đợi ở một bên, trứng sau khi nở thành cá con vẫn chưa thể tự kiếm ăn, chỉ có thể dựa vào thịt của mẹ để lớn.

    Cá mẹ nhịn đau đớn không hề kêu ca. Khi cá con lớn lên, cá mẹ chỉ còn lại một đống xương, đó là minh chứng đắt giá nhất cho tình mẹ vĩ đại trên thế giới này.

    Cá hồi chó là con cá tượng trưng cho tình mẹ

     

    Con cá thứ hai là cá lóc Tàu

    https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1_l%C3%B3c_Trung_Qu%E1%BB%91c

    Loài cá này sau khi sinh con sẽ bị mất đi khả năng nhìn, không thể kiếm mồi mà chỉ có thể nhịn đói.

    Khi trứng nở thành hàng ngàn con cá con, đàn cá con không nỡ nhìn mẹ chết nên từng con, từng con một chút động bơi vào miệng mẹ để giúp mẹ đỡ đói.

    Cá mẹ sống lại, lượng cá con còn tồn tại chẳng đáng là bao, chỉ còn chưa đến 1/10, số còn lại vì mẹ mà hy sinh tấm thân non nớt của mình.

    Cá lóc tàu là con cá tượng trưng cho sự hiếu thảo của người làm con.  Nhiều người trong chúng ta sẽ thấy ngậm ngùi

     

    Con cá thứ ba là cá hồi

    https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1_h%E1%BB%93i

    Mỗi năm cứ đến mùa sinh sản, cá hồi lại tính trăm phương ngàn kế để từ đại dương rộng lớn trở về dòng sông trong đất liền.

    Bởi lẽ loài cá này không sinh nở ở các vùng biển nước mặn mà di cư bơi về dòng suối ngọt, nơi chúng được sinh ra để tiếp tục đẻ trứng.

    Cuộc hành trình di cư thật sự vất vả và gian lao khi chúng phải bơi ngược dòng chảy của tự nhiên để trở về quê hương, trên đường trở về phải đối mặt với bao hiểm nguy thách thức, nào là vượt thác, nào là lo bị gấu xám ăn thịt…

    Những con cá không vượt được thác phần lớn sẽ rơi vào bụng gấu. Những con vượt thác thành công cũng sức cùng lực kiệt, vừa phải tiếp tục bơi vừa phải đề phòng loài ó cá kiếm mồi.

    Chỉ có một số ít những con cá may mắn vượt qua mọi khó khăn và sự bủa vây để trở về quê hương, hoàn thành việc quan trọng nhất đời mình, đó là tìm con đực, giao hợp, đẻ trứng và cuối cùng là chết một cách yên bình ở chính nơi mình sinh ra.

    Và khi mùa xuân đến, đàn cá con lại trôi theo dòng nước ra biển, bắt đầu hành trình cuộc đời mình.

    Cá hồi là loài cá tượng trưng cho tình yêu quê hương xứ sở

     

    Lời bình

    Chúng ta hãy thường xuyên nghĩ rằng, trên đời này có ít nhất 3 con cá khiến chúng ta phải cảm động.

    ** Con cá thứ nhất là cha mẹ, người đã cho chúng ta sinh mệnh, luôn dõi theo mọi bước chân ta đi, không trách cứ oán giận, sẵn sàng hy sinh tất cả cho con cái mà không hề đòi hỏi bất cứ điều gì.

    ** Con cá thứ hai là con cái, từ khi oa oa cất tiếng khóc chào đời, con cái đã hoàn toàn tin cậy và ở bên cha mẹ cho đến già.

    ------------------------------------------