3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

Yêu như Thầy đã yêu

Cv 14, 20b-26; Kh 21, 1-5a; Ga 13, 31-33a. 34-35

Trang Tin Mừng hôm nay thuật lại những tâm tư của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ trước khi Ngài bước vào cuộc thương khó. Giờ đây, sau khi Ngài trỗi dậy từ cõi chết và trước khi rời xa các môn đệ để về cùng Chúa Cha, Chúa Giêsu một lần nữa nhắn nhủ các môn đệ những lời từ sâu thẳm cõi lòng: anh em hãy thương mến nhau.

Chúa Giêsu không nhắc nhở các môn đệ ghi nhớ điều gì khác, không phải là những điều Ngài đã giảng dạy, không phải là các phép lạ lớn lao, nhưng là điều liên quan đến chính nội tâm của từng người, đó là khả năng để yêu mến.

Với điều răn “Anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (13,34), Chúa Giêsu để lại cho các môn đệ ý muốn cuối cùng và di chúc của Người: Người sẽ nhắc lại thêm hai lần nữa (x. Ga 15,12.17).

Chúa Giêsu cho các môn đệ thấy mộtcách thức theo đó Ngài sẽ tiếp tục hiện diện giữa các ông và Ngài quy định cách sống của các ông. Các môn đệ phải quy hướng bản thân về tình yêu của Ngài, là tình yêu mà mỗi ông đã trải nghiệm.

Trong tình yêu này, mỗi ông phải là Giêsu cho người khác, phải chấp nhận người khác, giúp đỡ người ấy, quan tâm đến điều thiện hảo của người ấy, như chính Chúa Giêsu đã làm. Như thế, các ông sẽ làm cho Chúa Giêsu hiện diện cho nhau trong cái đặc điểm tiêu biểu của Người: tình yêu. Các môn đệ được ngỏ lời với như là mộtcộng đoàn, các ông phải định hướng đời mình theo sự hiệp thông đời sống mà các ông đã có thể có với Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu không nghi ngờ lòng nhiệt thành của Phêrô, Ngài cũng không cần lo lắng về lòng trung thành của Giacôbê hay của Gioan, Chúa Giêsu đã từng khen ông Nathanaen là nơi ông “không có gì gian dối”, v.v. Chúa Giêsu hài lòng về nhiều đặc nét cá tính của môn đệ. Duy chỉ có một điều khiến Chúa Giêsu ưu tư là tương quan giữa các ông với nhau.

Chắc chắn Chúa Giêsu nhớ khi Ngài loan báo cho các ông về cuộc thương khó Ngài sắp trải qua, các ông lại lo tranh luận xem ai là người lớn nhất. Trong bối cảnh ấy, cũng dễ hiểu tại sao Chúa Giêsu chỉ căn dặn các môn đệ điều mà Ngài gọi là “điều răn mới”: “như Thầy đã yêu mến anh em, anh em hãy yêu mến nhau. Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy: là anh em có lòng yêu mến nhau.” (Ga 13, 34-35)

"Mọi gười cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ Thầy, là chúng con yêu thương nhau". Xin ban thêm đức tin và lòng yêu mến cho chúng con, để chúng con có thể thờ phượng Chúa với tâm tình biết ơn, chúc tụng Chúa hết con người chúng con. Để khi cảm nhận được những tình yêu Chúa, chúng con biết cho đi, biết chia sẻ những gì chúng con nhận được cho anh chị em chung quanh của chúng con, và như thế chúng con trở nên nhân chứng tình yêu Chúa cho mọi người.

Chúa Giêsu để lại cho các ông một mẫu gương của lòng yêu mến, đó là hãy yêu thương như Ngài, yêu thương hết lòng và yêu đến cùng. Khía cạnh thứ hai là chính ở dấu chỉ các môn đệ yêu mến nhau làm chứng cho người ta các ông là người của Chúa, là môn đệ của Thầy Giêsu.

Như vậy, tất cả những điều khác, dù quan trọng và hữu ích, nhưng nếu chưa có lòng yêu thương thực sự đối với nhau, hình ảnh người môn đệ có nguy cơ bị phai mờ, vai trò chứng nhân của Thầy Giêsu có thể không đủ thuyết phục. Yêu mến như Thầy trở thành khuôn mẫu và dấu chỉ cụ thể không những cho các môn đệ mà còn cho tất cả những ai bước theo Chúa.

Kinh nghiệm thực tế chỉ cho chúng ta rằng liên đới và yêu mến tha nhân là một thách đố lớn lao. Không dễ để đồng cảm với người bên cạnh và càng khó hơn để yêu thương những ai khác biệt hay thậm chí thù nghịch. Để yêu thương cần một con tim trong suốt và cõi lòng rộng mở. Con tim trong suốt để không lưu giữ những dấu vết ích kỷ và cõi lòng rộng mở để tha thứ không ngừng. Được như thế, ta mới có thể yêu mà không tính toán, thương mà không quản ngại khó khăn.

Vào năm 1995, một trận động đất với cường độ mạnh đã xảy ra tại Thành phố Kô-bê Nhật Bản. khiến cho nhiều nhà cửa trong thành phố sụp đổ trở thành những đống gạch khổng lồ, gây thiệt hại rất lớn cho thành phố về người và của. Các đội cứu hộ ngày đêm làm việc khẩn trương để lôi ra từ những đống gạch đổ nát nhiều xác chết và người bị thương. Nhưng cũng chính từ tai họa này, người ta đã khám phá ra một câu chuyện cảm động về một tình yêu hy sinh quên mình như sau:
Đến ngày thứ hai của cuộc đào bới, thì từ dưới một ngôi nhà đổ nát, người ta đã đào lên được hai mẹ con vẫn còn sống thoi thóp. Đứa con nhỏ mới được vài tháng tuổi đang nằm ngủ yên trong lòng mẹ, đang khi mẹ của em lại bị hôn mê bất tỉnh.

Sau khi được cứu sống, một nhà báo đã phỏng vấn bà mẹ trẻ ấy như sau: “Làm thế nào mà hai mẹ con chị có thể sống được đến hai ngày dưới đống gạch đổ nát kia?”. Chị đáp: “Tuy bị vùi dưới tòa nhà, nhưng rất may chúng tôi đã không bị đè chết. Mấy tiếng đồng hồ sau thì con tôi khóc đòi ăn đang khi tôi chẳng còn giọt sữa nào. Tôi quờ quạng tìm xem có cái gì ăn cho đỡ đói không. Bất ngờ bàn tay tôi chạn vào một con dao sắc trong cái giỏ bên mình. Tôi cầm dao rạch một đường ở ngón cái cho chảy máu, rồi ấn ngón tay bị cắt vào miệng con để bú máu thay vì sữa mẹ. Sau khi bú ngón tay của tôi được mươi phút thì cháu nằm im ngủ. Nhưng rồi lại tiếp tục khóc vì đói. Tôi liền rạch thêm một đường nữa nơi ngón tay khác và cho cháu bú. Sau đó tôi ngất đi lúc nào không biết cho tới khi cả hai mẹ con được cứu sống”. Nhà báo tiếp tục hỏi: “Thế chị không nghĩ rằng làm như thế thì chị sẽ bị mất máu chết sao?” Chị ta trả lời: “Lúc ấy, tôi không nghĩ đến mình, mà chỉ lo kiếm cái gì cho con bú để nó được sống!”.

Để yêu thương cần một con tim trong suốt và cõi lòng rộng mở. Con tim trong suốt để không lưu giữ những dấu vết ích kỷ và cõi lòng rộng mở để tha thứ không ngừng. Được như thế, ta mới có thể yêu mà không tính toán, thương mà không quản ngại khó khăn.

Ước gì lời nhắn nhủ yêu thương của Chúa cho các môn đệ được chúng ta thuộc lòng, khi chứng kiến chúng ta bày tỏ lòng thương mến anh chị em đồng loại, nhìn ra tình yêu của Chúa tiếp tục hiện hữu và người môn đệ của Chúa không ngừng bày tỏ Ngài cho thế giới. Xin Chúa Giêsu phục sinh thánh hoá chúng ta trong lửa mến để tình yêu thương không bao giờ vơi cạn nơi con tim nhỏ bé của chúng ta nhờ biết mở ra với tình yêu vô hạn của Chúa.

THỰC THI VÀ LOAN BÁO GIỚI RĂN YÊU THƯƠNG

  1. YêuThương Nhau: Điều Răn Mới và Dấu Chỉ Của Người Môn Đệ

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu để lại điều răn mới: “Anh em hãy yêu thương nhau.” Tình yêu này không chỉ là cảm xúc mà là sự hy sinh, phục vụ, và sẵn sàng hiến mạng sống vì người khác, như chính Chúa Giêsu đã làm: “Như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34).

Trong một trại tập trung thời chiến, một người lính canh phát hiện ra một nhóm tù nhân đang âm thầm chia sẻ cho nhau những mẩu bánh mì ít ỏi mà họ có. Người lính canh ngạc nhiên hỏi: “Các người là ai mà lại làm như vậy?” Một người tù nhân yếu ớt trả lời: “Chúng tôi là những người tin vào Chúa Giêsu. Ngài đã dạy chúng tôi yêu thương nhau.” Người lính canh lặng lẽ bước ra xa.

Yêu thương nhau như Chúa Giêsu đã yêu thương là dấu chỉ của người môn đệ của Ngài: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13: 35) Thánh Gioan Kim Khẩu, một Giáo phụ thế kỷ thứ tư, đã nhấn mạnh rằng tình yêu là dấu chỉ rõ ràng nhất của đời sống Kitô hữu: “Không có gì làm cho chúng ta giống Chúa hơn là tình yêu dành cho tha nhân, kể cả kẻ thù” (Bài giảng số 71 về Tin Mừng Gioan). Tình yêu này trở thành chứng tá mạnh mẽ, lôi kéo người khác tin vào Chúa Kitô và sống yêu thương như Ngài.

Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, trong thông điệp Deus Caritas Est – Thiên Chúa là Tình yêu (2005), khẳng định: “Tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân là bất khả phân ly, chúng làm nên một giới răn duy nhất. Cả hai đều xuất phát từ tình yêu của Thiên Chúa, Đấng thương yêu ta trước. Lúc đó sẽ không còn vấn đề của một giới răn áp đặt từ bên ngoài, bất khả thi, nhưng đúng hơn, từ một cảm nghiệm bên trong về một tình yêu được ban tặng, một tình yêu mà tự bản chất, phải được sẻ chia sau đó cho người khác” (số 18). Điều này nhắc nhở rằng tình yêu là trung tâm của sứ mạng Kitô hữu.

Trong những năm 1970, Mẹ Têrêsa Calcutta đã chăm sóc những người nghèo khổ nhất tại Kolkata, Ấn Độ, bất kể tôn giáo hay xuất thân của họ. Mẹ chỉ ăn bánh mì chấm với nước lã, nên chưa bao giờ Mẹ cân nặng hơn 45-46 kg. Một phóng viên đã hỏi Mẹ: “Thưa Mẹ, làm thế nào mà Mẹ có sức mạnh để tiếp tục sống như vậy?” Mẹ đã trả lời: “Tôi nhìn vào khuôn mặt của người nghèo, mà thấy mặt Chúa Giêsu”. Một lần, mẹ tìm thấy một người đàn ông Hindu đang hấp hối trên đường phố. Mẹ đã ôm ông vào lòng, rửa sạch vết thương, và ở bên ông cho đến khi ông qua đời, cảm nhận được tình yêu và phẩm giá con người. Hành động này đã khiến nhiều người tại Kolkata nhận ra sức mạnh của tình yêu Kitô giáo. Vào ngày Mẹ qua đời, mùng 5 tháng 9, 1997, toàn thể thế giới vỗ tay reo mừng. Trong Chúa Giêsu, Mẹ Têrêsa đã tìm thấy sức mạnh, để tiếp tục cuộc đua đường trường của Mẹ. Tình yêu mến Chúa Giêsu là động lực để phục vụ tha nhân và sống bác ái.

  1. Loan Báo Tin Mừng Tình yêu Thiên Chúa Giữa Thử Thách

Về bản chất, truyền giáo là sự biểu lộ tình yêu biến đổi của Chúa thông qua cả lời nói và hành động. Nền tảng của việc truyền giáo đích thực nằm ở tình yêu thương của chúng ta với người khác – không phải là một khái niệm trừu tượng. Khi Chúa Giêsu phán “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13:35), Ngài đã thiết lập tình yêu thương như là dấu hiệu đích thực của những người theo Ngài.

Thật vậy, chỉ riêng các thực hành tôn giáo không làm nên công cuộc truyền giáo đích thực. Như Thánh Phaolô đã diễn tả một cách mạnh mẽ: “Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (1 Cr 13:3).

Công cuộc truyền giáo đòi hỏi một cuộc sống hướng về Thiên Chúa và tha nhân, nơi các hoạt động tôn giáo không phải là mục đích mà là kênh dẫn tình yêu Thiên Chúa chảy vào một thế giới bị tổn thương. Sứ mệnh này đòi hỏi sự khiêm nhường chân thành, sự hoán cải cá nhân và phục vụ người khác, giúp mọi người có thể gặp gỡ tình yêu của Chúa qua lời nói và hành động. Việc truyền giáo thực sự diễn ra khi cuộc sống của chúng ta trở thành minh chứng sống động cho tình yêu của Thiên Chúa – không chỉ qua những cử chỉ lớn lao hay những bài phát biểu hùng hồn, nhưng qua cam kết hàng ngày để yêu thương cụ thể, phục vụ khiêm nhường và làm chứng một cách chân thực về sức mạnh biến đổi của sự hiện diện của Chúa Kitô trong cuộc sống mỗi ngày. Đây là một công việc gian khổ, đòi buộc nhiều hy sinh, ngay cả đổ máu và hiến dâng mạng sống.

Hai tông đồ Phaolô và Barnaba nhiệt thành loan báo Tin Mừng tại các thành phố Lycaonia, Lystra, Iconium và Antiochia. Dù đối mặt với sự chống đối và bách hại, các ngài vẫn kiên trì củng cố đức tin của các môn đệ, khuyến khích họ “Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa” (Cv 14:22). Sau khi hoàn thành sứ mạng, các ngài trở về Antiochia, thuật lại “tất cả những gì Thiên Chúa đã cùng làm với hai ông, và việc Ngài đã mở cửa cho các dân ngoại đón nhận đức tin” (Cv 14:27).

Một Kitô hữu đến thăm một vị thiền sư và nói: “Xin thầy cho phép tôi đọc cho thầy nghe Bài Giảng Trên Núi”. Thiền sư đáp: “Tôi rất thích nghe”. Người Kitô hữu đọc một câu rồi ngước mắt lên nhìn. Thiền sư mỉm cười nói: “Đấng đã phán những lời đó chắc chắn phải là một vị đã Giác Ngộ”. Người Kitô hữu cảm thấy khoái trá. Ông tiếp tục đọc. Thiền sư ngưng lại rồi nói: “Những lời đó phải phát xuất từ Đấng Cứu Thế của nhân loại”. Người Kitô hữu cảm thấy thích thú. Ông tiếp tục đọc cho đến hết. Lúc bấy giờ thiền sư tuyên bố: “Người đã rao giảng như thế phải là Thiên Chúa”. Nỗi vui mừng của người Kitô hữu thật vô bờ bến. Ông ra về, cương quyết sẽ trở lại một ngày khác, để thuyết phục thiền sư trở thành Kitô hữu. Trên đường về nhà, ông gặp Chúa Giêsu đứng bên vệ đường. Ông đã thưa với Chúa một cách khoái trá: “Lạy Chúa, con đã làm cho người đó xưng ra Chúa là Thiên Chúa!” Chúa Giêsu mỉm cười và nói: “Con đã làm gì hay đâu, ngoại trừ việc con thổi phồng cái tôi Kitô hữu của con mà thôi?” (Như Tiếng Chim Ca, LM Anthony de Mello, SJ).

Đời sống đức tin của người Kitô hữu không chỉ là lời rao giảng về Chúa Giêsu, mà còn phải nên giống như Ngài: “Ngài yêu thương họ đến cùng” (Ga 13: 1).

  1. Trời Mới Đất Mới

Hình ảnh tuyệt đẹp về một “trời mới đất mới” nơi “Thiên Chúa ở cùng nhân loại... Ngài sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn than khóc, kêu la hay đau khổ nữa” (Kh 21:3-4) là lời hứa về nguồn hy vọng lớn lao, khẳng định rằng mọi đau khổ sẽ được thay thế bằng sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa, Đấng “làm cho mọi sự trở nên mới” (Kh 21:5).

Thánh Augustinô, trong tác phẩm Thành Đô Thiên Chúa, đã diễn giải viễn cảnh này như một lời mời gọi hướng lòng về quê hương vĩnh cửu: “Ở đó, chúng ta sẽ được nghỉ ngơi và nhìn thấy, yêu mến và ngợi khen” (Thành Đô Thiên Chúa, XXII, 30). Viễn cảnh này không chỉ là niềm an ủi mà còn là động lực để các Kitô hữu sống đời sống thánh thiện giữa trần gian.

Đức Giáo hoàng Phanxicô, trong tông huấn Gaudete et Exsultate – Vui mừng và Hân hoan (2018), nhấn mạnh rằng niềm hy vọng vào trời mới đất mới thúc đẩy chúng ta dấn thân xây dựng một thế giới công bằng và yêu thương ngay hôm nay: “Chúng ta được mời gọi sống thánh thiện trong những hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống, để góp phần vào kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa” (số 26).

Nạn diệt chủng Rwanda năm 1994 còn được gọi là Diệt chủng người Tutsi, là vụ giết người hàng loạt do chính quyền Rwanda do đa số người Hutu lãnh đạo nhắm tới sắc tộc Tutsi ở nước này. Ước chừng 500.000 tới 1.000.000 người Rwanda, tức 70% dân số người Tutsi, và 30% người Pygmy bị sát hại trong khoảng 100 ngày, từ tháng 4 đến giữa tháng 07 năm 1994. Tuy thế, sau cuộc diệt chủng kinh hoàng đó, tại một ngôi làng nhỏ, nhờ gợi ý của một nhóm Kitô hữu từ cả hai bộ tộc, các bộ tộc đối địch đã cùng nhau xây dựng một trung tâm hòa giải. Họ tổ chức các buổi cầu nguyện chung, lấy cảm hứng từ sách Khải Huyền: “Đấng ngự trên ngai phán: Này đây Ta đổi mới mọi sự” (Kh 21: 5), để chữa lành vết thương, tha thứ, hòa giải và xây dựng một cộng đồng mới.

Nỗ lực hòa giải và tha thứ này là dấu chỉ cho thấy trời mới đất mới có thể bắt đầu ngay giữa lòng thế giới đau khổ: “Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Ngài sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Ngài, còn chính Ngài sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21: 3-4).

Tình yêu là cốt lõi của mọi sứ mạng, là dấu chỉ nhận biết người môn đệ, là sức mạnh của Tin Mừng biến đổi thế giới, như Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nói: “Thiên Chúa sẽ phán xét chúng ta về tình yêu của chúng ta, về cách chúng ta yêu thương anh chị em mình, đặc biệt là những người yếu đuối và thiếu thốn nhất…Thiên Chúa ban cho chúng ta thời gian này với lòng thương xót và sự kiên nhẫn để chúng ta có thể học cách nhận ra Ngài mỗi ngày nơi những người nghèo và những người thấp hèn. Chúng ta hãy ra sức vì điều tốt lành và tỉnh thức trong lời cầu nguyện và tình yêu” (buổi tiếp kiến chung, thứ Tư, 24 tháng 4 năm 2013).

Phêrô Phạm Văn Trung

Chúa Chiên Lành

Hình ảnh chiên cừu dễ gây ngộ nhận vì người ta cho rằng chiên cừu chẳng biết làm gì hơn là ngoan ngoãn vâng lời. Nhưng con chiên trong bài Tin Mừng ta vừa nghe hoàn toàn không có tính cách thụ động như thế. Trái lại phải tích cực, chủ động. Sự tích cực chủ động của đoàn chiên được Chúa Giêsu diễn tả bằng những từ “nghe” và “theo”: “Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta”.

Nghe. Chúa Giêsu chính là Lời của Thiên Chúa, nên ta phải nghe Người. Nhưng nghe được Lời của Thiên Chúa không phải dễ.

Không dễ, vì Lời Thiên Chúa nhẹ nhàng như lời thì thầm của mây gió, sâu thẳm như tiếng nói của đáy đại dương, im lặng và bí hiểm như tiếng vỗ của một bàn tay. Trong khi đó lời của trần gian, của ma quỷ lại ồn ào như một ngày hội, gào thét như cuồng phong và điên loạn như chiến tranh.

Không dễ, vì Lời Thiên Chúa mời gọi người ta vào con đường chật hẹp của từ bỏ mình, dẫn ta lên một ngọn đồi gai góc của thập giá hy sinh và thách thức ta phục vụ đến hy sinh cả mạng sống. Trong khi đó lời của trần gian, của ma quỷ mở ra đại lộ thênh thang của danh vọng, dẫn ta đến dìm mình trong đại dương hưởng thụ và hứa ban tặng cho ta tất cả vinh hoa phú quý trên đời.

Vì thế, để nghe được Lời Chúa, ta phải có một đôi tai thật bén nhạy, được hướng dẫn bởi trí phán đoán sáng suốt và một trái tim yêu mến nồng nàn. Nghe Lời Chúa với một thái độ như thế sẽ dẫn ta đến chỗ theo Chúa.

Theo. Theo ai là quyến luyến, gắn bó và ràng buộc đời mình vào đời người đó. Như thế theo ai là từ bỏ chính mình, cuộc đời mình để chia sẻ cuộc sống với người khác.

Theo tâm lý học, trong tình yêu có ba mức độ. Mức độ thứ nhất: Thích nhìn, nghe người mình yêu. Mức độ thứ hai: Trong mọi chương trình, tính toán của đời mình đều có bóng dáng của người yêu. Mức độ cuối cùng: Chia sẻ tất cả những gì mình có, kể cả cuộc sống vì người yêu.

Như thế, theo tức là yêu thương ở cao độ. Con chiên đi theo Chúa như thế phải hoàn toàn chủ động và nhất là thiết lập một quan hệ mật thiết với Chúa là Chủ đoàn chiên. Hành động của Chúa chiên tốt lành được Chúa Giêsu tóm gọn trong hai động từ: “biết” và “cho”.

Biết. Người chăn chiên tốt lành biết rõ từng con chiên. Ông biết tên từng con. Ông biết tình trạng sức khoẻ cũng như nhu cầu của từng con chiên. Tương tự như thế, Chúa Giêsu biết rõ mỗi người chúng ta. Người không chỉ biết mà còn thông cảm với mọi hoàn cảnh của ta. Ta buồn vì bị người yêu phụ bạc ư? Người cũng đã biết thế nào là nỗi đau của người bị phản bội. Ta cay đắng với kiếp nghèo đeo đẳng ư? Chúa Giêsu cũng đã sinh ra không nhà, sống ngoài đường và chết trần truồng trên thập giá. Ta tuyệt vọng vì cuộc đời không lối thoát ư? Chúa Giêsu đã trải qua những giờ phút đen tối trong vườn Giếtsimani và trên thập giá. Ta cô đơn vì bị mọi người xa lánh ư? Chúa Giêsu cũng đã bị mọi người chối bỏ, và Người cảm thấy như Đức Chúa Cha cũng từ bỏ Người. Ta bị sỉ nhục mất hết uy tín ư? Chúa Giêsu đã bị nhục nhã và mất hết uy tín khi phải chết như kẻ tội đồ nô lệ.

Chúa Giêsu là người chăn chiên tốt lành, hiểu biết mọi ngõ ngách u ẩn trong đáy lòng người, nên có thể chăm sóc an ủi từng người chúng ta.

Cho. Chúa Giêsu là mục tử tốt lành vì đã tặng ban cho tất cả đoàn chiên món quà quý giá nhất là sự sống đời đời, sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, sự sống của chính bản thân Ngài. Sống sự sống của Thiên Chúa rồi, đoàn chiên sẽ kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Không ai cướp được đoàn chiên khỏi tay Người, vì Người dùng chính mạng sống mình mà bảo vệ. Người ràng buộc đời mình vào sinh mạng của đoàn chiên. Từ nay đoàn chiên và chủ chiên trở thành một cộng đồng sinh mệnh, sống chết có nhau, kết hợp với nhau trong một tình yêu thương không có gì có thể tách lìa được.

Chúng ta đang sống trong một thời đại đầy thay đổi. Cuộc sống đang mở ra những chân trời mới đầy quyến rũ nhưng cũng đầy nguy hiểm cho đời sống tâm linh chúng ta. Những giá trị bị đảo lộn. Những con chiên đang bị lôi kéo rời xa đoàn chiên. Nhu cầu cuộc sống xô đẩy chúng ta ra khỏi cộng đoàn khiến nhiều người trở thành những con chiên bơ vơ không người chăn dắt. Trong một hoàn cảnh mới mẻ như thế, chúng ta rất cần có những vị mục tử thực sự hiểu rõ nhu cầu của đoàn chiên và thực sự hiến mình phục vụ đoàn chiên. Chúng ta hãy cầu nguyện cho có nhiều người trẻ biết đáp lời Chúa mời gọi, hiến mình cho Chúa để phục vụ anh chị em trong nhiệm vụ mục tử. Chúng ta cầu nguyện cho các linh mục của chúng ta trở thành những mục tử tốt lành noi guơn Vị Mục Tử duy nhất là Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Lạy Chúa là là Mục Tử chăn giữ đời con, xin cho con biết lắng nghe tiếng Chúa và bước theo Chúa. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1. Đã bao giờ bạn nghe được tiếng Chúa nói trong sâu thẳm tâm hồn bạn chưa?

2. Có lần nào bạn cảm nghiệm được sự ngọt ngào được sống thân mật với Chúa chưa?

3. Bạn cũng là Mục Tử của gia đình bạn, xóm bạn ở, sở nơi bạn làm việc. Bạn có là Mục Tử tốt lành không?

ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

VIỆC LỚN HƠN

Thứ Bảy Tuần 4 Phục Sinh C

“Ai tin vào Thầy, người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa!”.

“Những bước đi của niềm tin dường như rơi vào ‘khoảng không’ vô định, nhưng tìm thấy ‘đá tảng’ bên dưới!” - Whittiers.

Kính thưa Anh Chị em,

Những lời của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay có thể gây ngạc nhiên. Làm sao môn đệ có thể làm những ‘việc lớn hơn’ Thầy? Nhưng đó là sự thật! Bởi lẽ, họ đã chẳng bước vào những khoảng không vô định; nhưng trong đức tin, bước trên đá tảng, chính Ngài!

Trong bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu muốn tiết lộ cho các môn đệ hiểu rằng, việc Ngài ra đi chiều hôm sau - đi chịu nạn - không phải là một thảm hoạ; và việc Ngài “về cùng Cha” không chỉ bao hàm tử nạn mà còn cả sự phục sinh vinh hiển; đồng thời, dẫn đến việc Ngài sẽ gửi Thánh Thần xuống. Việc Thánh Thần được ban sẽ giúp Chúa Phục Sinh tiếp tục công việc của Ngài trong các môn đệ và qua các môn đệ. Với tư cách phục sinh, Ngài sẽ thực hiện qua họ những việc vĩ đại hơn trong quyền năng Thánh Thần.

Ba mươi ba năm thi hành sứ vụ, Chúa Giêsu gặp phải giới hạn không gian và thời gian; nhưng với tư cách phục sinh, Ngài sẽ tiếp tục công việc của Ngài trên toàn thế giới. Tuy nhiên, Ngài chỉ có thể làm những ‘việc lớn hơn’ đó qua những kẻ tin. Công Vụ Tông Đồ cho biết, “Người ta khiêng những kẻ đau ốm ra tận đường phố đặt trên giường trên chõng, để khi ông Phêrô đi qua, ít nữa cái bóng của ông cũng phủ lên được một bệnh nhân nào đó… và tất cả đều được chữa lành”; sau một bài giảng của Phêrô, “có đến 3.000 người trở lại!”; “Lời Chúa lan tràn”; “Dân ngoại vui mừng”. “Toàn cõi đất này đã xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta!” - Thánh Vịnh đáp ca. Tất cả những điều này chỉ có thể xảy ra dưới sự dẫn dắt của Thánh Thần.

Như các tông đồ, nhiều Kitô hữu ngày nay với các phương tiện trong tay, có thể mang thông điệp của Chúa Giêsu đến với một lượng người lớn hơn và hiệu quả hơn. Ở bất cứ nơi đâu, trong một đại lễ, Đức Giáo Hoàng có thể tiếp cận hàng tỷ người qua truyền thông. Chúa Giêsu không làm được những điều này! Rõ ràng, với Thánh Thần và sức mạnh phục sinh của Ngài, Giáo Hội - trong đó - có chúng ta, có thể làm những ‘việc lớn hơn’ Thầy. Bạn có tin điều đó không? Bạn có muốn tạo nên một sự khác biệt cho thế giới không?

Anh Chị em,

“Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa!”. Đây là một ơn gọi; đúng hơn, một sứ vụ! Một trong những việc lớn, trước hết và quan trọng hơn hết, là chúng ta ‘sống’ và ‘loan báo’ Tin Mừng. Phải, chúng ta bắt đầu ‘sống và loan báo’ từ trong gia đình, trong cộng đoàn, môi trường của mình. Sự thật này khiến chúng ta đầy lòng biết ơn vì đã được mời gọi dự phần vào công việc rao truyền Phúc Âm. Tuy nhiên, chúng ta có thể bị cám dỗ dễ nản lòng vào những lúc không thuận lợi khi thấy mình bất xứng, hoặc tưởng rằng, tôi đang bước vào những khoảng không vô định. Lời Chúa bảo đảm rằng, với niềm tin, các công việc tốt lành của chúng ta vẫn tiến triển, nếu bạn và tôi tiếp tục hoán cải và bước đi trên đá tảng Kitô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con thoả mãn với những con cá còi của ao đầm; tệ hơn, chỉ tìm những ‘việc nhỏ’. Cho con dám lao ra biển lớn, hầu có thể đánh bắt những mẻ lớn!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

 

Mục Tử 3 D

Chúa Giêsu khẳng định: “Tôi là Mục Tử Tốt Lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên của Tôi biết Tôi. Mục Tử Tốt Lành hy sinh mạng sống cho đàn chiên”. Chúa Giêsu là vị Mục Tử Tốt Lành, là Đấng bảo vệ đoàn chiên, yêu thương săn sóc và hy sinh mạng sống cho đàn chiên, là nền tảng, là mẫu mực cho mọi vị chủ chăn tương lai được Ngài trao quyền chăn dắt đoàn chiên, tiếp nối sứ mạng Mục Tử của Ngài.

Chúa Giêsu là vị Mục Tử Tốt Lành với những nét đặc trưng sau đây:

- Vị Mục Tử Tốt Lành hết lòng yêu thương những người thuộc về mình. Vì yêu thương nên Ngài quan tâm đến mọi người và đến từng người. Càng quan tâm thì càng biết tường tận: biết họ muốn gì, họ cần gì, họ có thể gặp phải những nguy cơ cạm bẫy hay thử thách nào.

- Vị Mục Tử Tốt Lành luôn đi đầu, đi trước, hướng dẫn, lãnh đạo đoàn chiên, đứng mũi chịu sào, gánh chịu mọi khổ cực cho người thuộc về mình. Mục Tử Tốt Lành đem chiên đến những miền an toàn, có suối mát có cỏ xanh, cho chiên được ăn uống no nê, được nghỉ ngơi thoải mái. Chiên sẽ tăng trưởng cả về chất lượng lẫn số lượng. Mục Tử Tốt Lành dám hy sinh mạng sống vì chiên.

- Chúa Giêsu được Chúa Cha sai đến để yêu thương, chăm sóc, quy tụ mọi con chiên. Ngài biết tên từng con chiên như Cha Ngài biết Ngài (Ga 10,14-15). Ngài gọi tên từng con chiên và dẫn đi (Ga 10,3). Mục Tử sẵn sàng hy sinh mạng sống vì chiên: “Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15, 13). Chúa Giêsu đã chứng tỏ Ngài là vị Mục Tử Tốt Lành, vị chủ chăn không bao giờ hèn nhát thấy sói tấn công chiên mà bỏ trốn, nhưng Ngài luôn cứu vớt, tập họp, chăn dắt (Ga 10,9.16).

Chúa Giêsu còn cho thấy tính tương phản của hai loại mục tử. Mục tử thật và mục tử giả. Mục tử thật luôn hết mình vì đàn chiên. Mục tử giả chỉ lo vun quén cho bản thân. Mục tử thật thì hy sinh cho đàn chiên. Mục tử giả chỉ đến để xén lông chiên. Mục tử thật luôn tìm kiếm nguồn nước và đồng cỏ xanh tươi cho đàn chiên no đầy. Mục tử giả chỉ tìm kiếm hạnh phúc cho chính bản thân mình, sống hưởng thụ, lười biếng và thiếu trách nhiệm đến sự sống còn của đàn chiên.

Sứ Điệp Ngày Thế Giới Cầu Nguyện cho Ơn Gọi lần thứ 50 viết: “Các ơn gọi linh mục và tu sĩ được phát sinh từ kinh nghiệm gặp gỡ cá vị với Đức Kitô, và nhờ vào cuộc trao đổi chân thành riêng tư với Ngài, người ta đi đến chỗ đón nhận ý muốn của Ngài. Do đó, cần phải lớn lên trong kinh nghiệm đức tin, nghĩa là tăng trưởng sâu xa mối liên hệ mật thiết với Chúa Giêsu, bằng cách lắng nghe tiếng nói của Ngài được vọng lên trong nơi sâu thẳm của lòng mình. Tiến trình này giúp chúng ta đón nhận lời mời gọi của Chúa, có thể phát sinh nơi cộng đoàn Kitô hữu biết sống đức tin cách mãnh liệt, quảng đại làm chứng cho Tin Mừng, nhiệt thành truyền giáo đến độ quên mình vì Nước Thiên Chúa, siêng năng nhận lãnh các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể và chuyên chăm cầu nguyện”.

Đức Hồng Y Yvan Dias, Tổng trưởng Thánh bộ Phúc âm hóa các Dân tộc, đại diện Đức Thánh Cha đã chủ toạ bế mạc Năm Thánh 2010 tại Thánh địa Lavang.

Sau đại lễ, ĐHY Ivan Dias đã gặp gỡ các Giám Mục Việt Nam trong một tiếng đồng hồ để chia sẻ về tình hình cũng như gởi gắm sứ điệp. Về sứ điệp, ngài mời gọi tất cả Giám mục chia sẻ lại cho các linh mục, chủng sinh của mình về 3 chữ D rất cần thiết trong đời sống của người thuộc về Giáo Hội. 3 Chữ D là: Doctrine, Discipline, Dévotion.

1. Doctrine, về giáo thuyết. Mỗi Linh mục hôm nay được mời gọi nắm vững giáo lý Giáo hội Công giáo, giáo huấn Giáo hội, học thuyết xã hội của GHCG, bởi vì nếu không nắm vững những hướng đi trong đó, thì trong cách ứng xử một Linh mục ở tại giáo xứ nhiều khi có những cái chưa chuẩn mực và nếu như cả một Giáo hội mà lại không nắm vững về Doctrine này thì rất nguy hiểm, sẽ đưa Giáo hội đến chỗ không cứu vãn được. Tại sao Tòa Thánh phải lên tiếng về Giáo hội Trung Quốc? Câu trả lời cho biết vì yếu về giáo thuyết. Nếu hiểu Giáo hội không thể tự lực tự cường được thì người ta sẽ có chọn lựa khác. Chẳng phải nói đâu xa, trường hợp của GHVN ngày nay cũng cho thấy thấp thoáng nguy cơ. Hết rồi thời đối đầu, đã bước sang thời đối thoại. Nhưng đối thoại như thế nào để mình vẫn là GHCG, đó lại là cả một tuyến mở ra cho suy nghĩ và vì vậy quan trọng là nắm vững giáo thuyết để có những quyết định phù hợp.

2. Discipline, về kỷ luật. Đây là một vấn đề thường gây khủng khoảng cho các Giáo hội phương Tây. Vấn đề Linh mục lạm dụng tình dục là do việc không tuân thủ kỷ luật của Giáo hội, để đến khi bùng nổ ra thì không vớt vát được. Hiện nay ở nhiều địa phận của Hoa Kỳ đã phải bán hết cơ sở của mình đi để trang trải cho việc xao lãng kỷ luật của một thời. Đây là một vấn đề đau lòng. Do đó, tuân thủ kỷ luật đời sống Linh mục là một cách để giúp Linh mục một đàng thánh hóa bản thân và đàng khác tránh tất cả những hậu quả tai hại. Thời mới bước chân vào Chủng viện, chắc chắn các chủng sinh đều thuộc lòng câu: Ai sống theo kỷ luật là sống theo ý Chúa, và sau này trên bước đường lớn hơn, Linh mục vẫn thường được nghe nhắc nhở: hãy giữ luật thì luật sẽ giữ cho mình, sẽ bảo vệ mình. Cho nên chữ Discipline mời gọi mỗi người trong hướng đi đời Linh mục cũng gắn bó với luật lệ của Giáo hội cách khít khao.

3. Dévotion, lòng đạo đức sốt sắng. Ở đây theo như lời chú giải của ĐHY Dias, thì nó gắn liền với những phong trào đạo đức, có một thời tưởng như bị bỏ rơi vì đi liền với lòng đạo đức bình dân của đại chúng. Thí dụ: tràng hạt Mân Côi, có một thời người ta rẻ rúng cho là loại kinh dành cho phụ nữ, người nhàn rỗi, người già… nhưng sau này người ta cảm nghiệm được sức mạnh của kinh Mân Côi, nhất là sức mạnh hoán cải, sức mạnh thánh thiêng giúp người ta tiến xa trên đường nên thánh. Những cái thuộc loại Dévotion thì thường gắn liền với những hình thức văn hóa. Ví dụ: hành hương coi như chuyện đi chơi, nhưng ở đó cũng là một thứ Dévotion mời gọi Linh mục không nên xem thường. Tất nhiên không thể loại trừ những hình thức Dévotion truyền thống tôn sùng Thánh Tâm, Chầu Thánh Thể, hay là những hình thức khác nhau dành cho các Thánh. Một Linh mục mà rẻ rúng những hình thức đạo đức bình dân thì coi chừng, tưởng là mình ở trên đỉnh cao trí thức, biết đâu lúc nào đó mình rớt xuống vực mà không hay. Lần hạt Mân Côi, đó là một lời kinh tháp tùng Linh mục trên mọi bước đường, trong mọi hoàn cảnh, đó là lời kinh còn lại duy nhất sau khi đã quên đi tất cả. Gắn bó với một sự đạo đức như thế cũng là một cách giúp cho đời Linh mục được vươn lên, được thăng tiến. (x. Huấn từ khai mạc Tình tâm Linh Mục Giáo Phận Phan Thiết, ngày 10.1.2011, ĐGM Giuse Vũ Duy Thống).

Chúa nhật IV Phục sinh, ngày cầu nguyện cho ơn thiên triệu Linh mục và ơn gọi Tu sĩ nam nữ. Giáo Hội luôn cần đến những mục tử tốt lành. Hãy cầu nguyện cho Giáo Hội có nhiều mục tử đạo đức, thánh thiện như lòng Chúa mong ước.

Trở nên mục tử tốt lành nhờ biết trau dồi giáo thuyết Kinh Thánh (Doctrine), sốt sắng trong lời cầu nguyện gắn bó với Chúa Giêsu (Dévotion) và có tinh thần kỷ luật trong đời sống tu trì (Discipline).

Mục tử tốt lành là phải luôn sống kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu, luôn khát khao và cầu xin ơn Chúa Thánh Thần. Nhờ đó, vị mục tử tốt lành biết rõ đàn chiên,yêu thương đàn chiên và sẵn sàng hiến mạng vì đàn chiên. Từ đó, vị mục tử tốt lành biết nuôi dưỡng đoàn chiên bằng những lương thực có chất lượng cao đặc biệt là cử hành Thánh Thể sốt sắng và nhiệt thành trong bí tích Hòa Giải.

Ơn gọi Linh mục Tu sĩ chính yếu là để “sống với Chúa, và để Ngài sai đi” (Mc 3, 14). Sống với Chúa, là lắng nghe tiếng Ngài trong từng giây phút sống, để nên một với Chúa trong gian nan và hạnh phúc. Để Ngài sai đi, là sẵn sàng đi theo con đường Ngài đã đi, thực thi sứ mạng Ngài trao bất chấp những gì xảy ra.

Giáo dân cần Linh mục như bệnh nhân cần bác sĩ, như học sinh cần thầy cô giáo, như một người bạn sẵn sàng cảm thông chia sẻ vui buồn trong đời sống và như người bạn đồng hành giúp đỡ trong cuộc hành trình tiến về đời sau.

Hãy cầu nguyện cho các Linh mục được trở nên những mục tử như Chúa Giêsu, vị Mục Tử Tốt Lành, biết yêu thương phục vụ đoàn chiên, hiểu biết tâm tư tình cảm của từng người, quan tâm chăm sóc từng con chiên và sẵn sàng hy sinh bản thân vì lợi ích của đàn chiên.

Hãy cầu nguyện cho các Linh mục có những đức tính tốt của những Mục Tử tốt Lành mà Thánh Kinh đã mô tả :

- Yêu thương, trìu mến chiên với tất cả tâm hồn: “Chúa tập trung cả đàn chiên dưới cánh tay: lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt” (Is 40, 11).

- Yêu quý từng con chiên, một con cũng như cả trăm con: “Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao ? Và nếu may mà tìm được, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc” (Mt 18, 12-13).

- Lo cho chiên, tạo những điều kiện tốt đẹp cho chiên: “Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi và chuồng của chúng sẽ ở trên các núi cao. Tại đó chúng sẽ nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trong những đồng cỏ mầu mỡ” (Ed 34, 14).

- Làm cho chiên được sống no ấm, hạnh phúc: “Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” (Tv 23, 1); làm chiên luôn vững dạ vì được bảo vệ: “Dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm” (23, 4).

- Tinh thần trách nhiệm đối với đàn chiên rất cao: “Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng” (Ed 34, 16).

- Cứu thoát, giải phóng đàn chiên: “Thiên Chúa sẽ cứu thoát dân Người, như mục tử cứu thoát đàn chiên” (Dc 9, 16).

Lạy Chúa Giêsu, Mục Tử Tốt Lành, xin ban cho chúng con nhiều mục tử tốt lành theo gương Chúa để góp phần vào công cuộc Tân Phúc Âm hoá và thông truyền đức tin Kitô giáo trong thời đại hôm nay Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Subcategories