2. Cảm Nghiệm Sống Lời Chúa

Các Đẳng Linh Hồn trong Luyện Ngục

Vào năm 1827, tại thủ đô Paris nước Pháp có một thiếu nữ giúp việc nghèo thật nghèo nhưng vô cùng quảng đại. Cô tên Têrêsa. Têrêsa có thói quen lành thánh: mỗi tháng xin một thánh lễ cầu cho các đẳng Linh Hồn trong Luyện Ngục. Nhưng rồi Thiên Chúa thử thách cô bằng một chứng bệnh hiểm nghèo, khiến cô vô cùng đau đớn. Têrêsa bị mất việc làm và tiêu tán tiền của. Ngày cảm thấy kha khá, Têrêsa ra khỏi nhà với vỏn vẹn 20 xu trong túi. Cô rảo qua các khu phố để tìm việc làm. Khi đi ngang nhà thờ thánh Eustache, Têrêsa ghé vào cầu nguyện. Bỗng cô sực nhớ ra là tháng ấy, cô chưa xin lễ cho các đẳng Linh Hồn. Nhưng Têrêsa thoáng chút do dự. Số tiền 20 xu cũng là lương thực cho cô trong ngày hôm ấy. Nhưng Têrêsa không do dự lâu. Cô biết mình phải làm gì. Bất ngờ một linh mục bước vào nhà thờ, chuẩn bị dâng thánh lễ. Têrêsa hỏi cha có bằng lòng dành thánh lễ hôm ấy để cầu cho các đẳng Linh Hồn không. Cha vui vẻ nhận lời với số tiền dâng cúng 20 xu của Têrêsa .. Thánh lễ cầu cho các đẳng Linh Hồn chỉ có vị linh mục chủ tế và một giáo dân tham dự.

Lễ xong, Têrêsa ra khỏi nhà thờ tiếp tục đi lang thang tìm việc làm. Têrêsa thật sự lo lắng vì đi mãi mà không có hy vọng gì hết. Bỗng một chàng trai dáng vẽ quí tộc tiến đến gần và hỏi: “Cô tìm việc làm phải không?”. Têrêsa nhanh nhẹn trả lời: “Thưa ông phải”. Người thanh niên nói tiếp: “Cô hãy đến đường X nơi nhà số Y, chắc chắn cô sẽ có việc làm và sẽ được hạnh phúc”. Nói xong, chàng trai bỏ đi ngay không đợi nghe lời Têrêsa rối rít cám ơn.

Khi tìm được căn nhà đúng số đã chỉ, Têrêsa thấy một cô giúp việc từ trong nhà đi ra, nét mặt cau có khó chịu. Têrêsa rụt rè hỏi thăm bà chủ có nhà hay không? Cô kia đáp lửng lơ: “Có lẽ có .. có lẽ không .. nhưng có hệ gì! vì đâu có dính dáng gì đến tôi”. Nói xong, cô gái ngoay ngoảy bỏ đi.

Têrêsa run rẩy bấm chuông. Một tiếng nói dịu dàng bảo vào. Têrêsa bỗng đối diện với một phụ nữ cao niên quí phái. Bà nhẹ nhàng bảo Têrêsa hãy trình bày cho bà biết cô muốn gì. Têrêsa nói nhanh:
– “Thưa bà, sáng nay cháu hay tin bà cần một người giúp việc. Cháu xin đến nhận chỗ làm này. Người ta bảo đảm với cháu là bà sẽ tiếp nhận cháu với lòng nhân hậu”.
Bà chủ ngạc nhiên nói với Têrêsa:
– “Điều cháu vừa nói thật là lạ. Sáng nay bà chả cần ai hết. Nhưng cách đây nửa giờ bà vừa đuổi một cô giúp việc vì nó chễnh mãng trong việc làm. Chuyện này chưa hề có người nào biết, ngoại trừ bà và cô giúp việc. Vậy thì ai đã chỉ cho cháu đến đây?”.
Têrêsa đơn sơ trả lời:
– “Một thanh niên dáng điệu sang trọng, cháu gặp ngoài đường, đã bảo cháu đến đây”.

Bà chủ nhà thử tìm cho biết người thanh niên ấy là ai, nhưng vô hiệu.
Bỗng Têrêsa nhìn lên và trông thấy tấm hình một chàng trai treo trên tường. Têrêsa mừng rỡ kêu lên:
– “Thưa bà, bà không cần phải tìm đâu cho xa. Đây chính là gương mặt người thanh niên đã nói chuyện với cháu. Chính anh ta đã chỉ đường cho cháu đến đây”.

Vừa nghe xong, bà chủ nhà kêu lên một tiếng thất thanh, như muốn ngã xuống bất tỉnh. Xong, bà bảo Têrêsa tỉ mỉ kể lại cho bà nghe, bắt đầu từ chuyện cô có lòng thương mến các đẳng Linh Hồn, đến Thánh Lễ sáng hôm ấy, rồi chuyện gặp gỡ chàng thanh niên.
Khi Têrêsa chấm dứt, bà chủ âu yếm ôm hôn cô và nói:
– “Cháu không phải là đầy tớ giúp việc cho bà, nhưng từ giờ phút này, cháu là con gái bà. Chàng thanh niên mà con trông thấy chính là đứa con trai độc nhất của bà. Con bà chết cách đây hai năm và ngày hôm nay chính con đã giải thoát nó ra khỏi Lửa Luyện Hình. Bà chắc chắn như thế. Bà hết lòng ghi ơn con. Giờ đây chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện cho tất cả những Linh Hồn còn chịu thanh tẩy trong Lửa Luyện Ngục trước khi được vào hưởng hạnh phúc vĩnh cửu muôn đời.

(Jacques Lefèvre, “Les Âmes du Purgatoire dans la vie des Saints”, Editions Résiac, 1995, trang 35-37)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

 

Ngày 01/11: Lễ Các Thánh Nam Nữ

Kính thưa anh chị em,

Có lẽ trong suốt cả năm Phụng vụ không có thời điểm nào mà mầu nhiệm hiệp thông được Giáo Hội đề cao một cách sống động khác thường như là thời gian đầu tháng 11 này. Hôm nay Giáo hội cho chúng ta hướng nhìn về các thánh – tức là nhìn vào Giáo Hội chiến thắng. Ngày mai Giáo Hội hướng chúng ta về các đẳng linh hồn – hay là Giáo Hội đang đau khổ. Nhìn vào như thế để cho chúng ta đang sống trong Giáo hội tại thế, tức là đang sống trong Giáo Hội chiến đấu biết tìm ra cho mình một hướng đi. Đi thế nào để cho mai sau chúng ta cũng đạt được vinh quang như các thánh mà chúng ta mừng kính hôm nay.

A. Các thánh là những người đã sống cuộc sống như thế nào?

Nhìn vào cuộc sống của các ngài, những con người – nói theo kiểu của Chúa Giêsu – đã cướp được Nước trời chúng ta thấy có các Ngài là những người có những nét đặc trưng sau đây:

1. Trước hết: Các Ngài là những người đã biết đáp lại lời mời gọi của Chúa.

Lời mời gọi này được nói lên một cách đơn sơ qua tiếng nói của lương tâm ngay lành – được biểu lộ một cách cụ thể qua 10 giới luật của Chúa trong Cựu Ước và nhất là được thúc bách cách triệt để hơn qua con đường Tám mối Phúc thật của Tin Mừng.

Một thí dụ trong muôn ngàn thí dụ.

Vào khoảng năm 271 một thanh niên giàu có, tới nhà thờ vào một buổi sáng Chúa nhật. Hôm đó, người thanh niên giàu có được nghe bài Phúc Âm được trích trong Matthêu 19,16-22: “Xảy ra là có một người thanh niên đến thưa với Chúa rằng: Lạy Thầy, tôi phải làm gì tốt để được sống đời đời? – Chúa đáp: Nếu ngươi muốn vào cõi hằng sống, hãy giữ các giới răn. – Người đó thưa: Những điều đó tôi đã giữ từ thuở nhỏ, tôi còn thiếu xót gì nữa chăng? – Chúa nói tiếp: Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi.”

Đó là một trong những lời mời gọi của Chúa. Người thanh niên đó bắt đầu suy nghĩ nhưng anh chưa thấy được con đường mà Chúa muốn cho anh đi là con đường nào.

Chúa nhật sau cũng trong khung cảnh của ngôi thánh đường quen thuộc đó, Lời Chúa lại vang lên: “Các người đừng lo cho ngày mai. Việc ngày mai để cho ngày mai lo. Khó khăn ngày nào có đủ cho ngày đó.” (Mt 6,34)

Thế là con đường đã rõ, anh về bán tất cả tài sản do bố mẹ để lại, chia phần của cô em nhờ ông bác quản lý để lo cho em, còn của anh, anh bán tất cả và làm như lời Chúa dạy rồi anh vào trong rừng vắng sống cuộc đời tu trì ở trong đó. Đó là Thánh Antôn tu rừng, ông tổ của dòng tu chiêm niệm.

2. Đặc trưng thứ hai: Đó là những người đã cố gắng đem Lời Chúa áp dụng vào đời sống của mình.

– Đáp lại Lời Chúa mới chỉ là bước đầu. Việc quan trọng là phải sống Lời của Chúa một một cách đơn sơ, chân thành, không cầu kỳ, không gò bó.

Đức Cha Arthur Tone kể lại một câu truyện rất cụ thể như sau. Một gia đình ngài quen biết có hai vợ chồng và một đứa con. Một ngày kia không hiểu vì chuyện gì mà hai vợ chồng to tiếng với nhau. Hai người tìm đủ mọi lý lẽ để biện minh cho sự phải lý của mình. Vì quá hung hăng trong việc lời qua tiếng lại mà hai vợ chồng không để ý đến cậu con trai tên là Bobbie con của hai người mới đi học về.

Bobbie thấy vậy liền nhảy lên bàn giơ hai tay lên và nói thật lớn: “Bình an – Hãy im lặng.”

Cả hai vợ chồng nhìn con rồi phá lên cười. Sau đó người mẹ ôm con vào lòng vào âu yếm hỏi: “Con học được cái đó ở đâu thế?”

Cậu thưa: “Thưa con học ở trong sách Giáo lý – Chúng con đã học câu truyện Chúa Giêsu dẹp yên bão tố – Chúa đã đưa tay ra và truyền cho sóng gió phải yên lặng.”

Câu truyện nhỏ nhưng nó cũng cho chúng ta thấy một trong những cách vận dụng đem lời Chúa vào cuộc sống.

3. Cuối cùng đó là những người biết kiên trì, trung thành với sự chọn lựa của mình một cách đáng khâm phục.

Chúa đã từng khẳng định: Con đường của Chúa là con đường hẹp, nhiều khi hẹp kinh khủng. Nó đòi hỏi những ai đi trên con đường đó một sự cố gắng hầu như là liên lỉ và nhiều khi rất anh hùng. Chỉ có những ai kiên trì và can đảm mới có thể đi trên con đường đó.

Một Antôn tu rừng mà tôi vừa mới nói ở trên chẳng hạn. Đọc tiểu sử của Ngài chúng ta mới thấy. Bán hết mọi sự để theo tiếng Chúa gọi đó đã là khó. Nhưng sống theo Chúa còn khó hơn. Sau khi đã bán mọi sự, Antôn đi vào trong rừng vắng. Ma quỉ đã không để anh được yên. Chúng thi nhau tấn công anh, tấn công bằng mọi thủ đoạn kể cả những thủ đoạn tầm thường nhất. Chúng dùng đến cả những hình ảnh bẩn thỉu nhất để cám dỗ anh. Suốt cả cuộc đời là một cuộc chiến đấu. Nhờ kiên trì mà Antôn đã đã chiến thắng.

Một trong những bà thánh mà chúng ta hay nhắc tới như bà thánh Monica chẳng hạn. Chúng ta tưởng là bà đã nên thánh một cách đễ dàng sao? Không, hoàn toàn không! Không dễ dàng chút nào cả mà là đầy những cố gắng. Hơn 30 năm trời cầu nguyện hãm mình hi sinh mà mới thành công đem được người con của bà về với Chúa. Hơn 30 năm trời kiên trì trong âm thầm lặng lẽ mới đạt tới vinh quang. Đó không phải là một cái giá đã cao. Còn nhiều sự trả giá còn cao hơn nữa. Chỉ có những ai biết nhẫn nại kiên trì, những người ấy mới xứng đáng với vinh quang Nước Trời. Chúa Giêsu đã nói: Nước trời phải dùng sức mạnh mà cướp lấy.” (Mt 11,12).

B. Bây giờ về phần chúng ta.

Đứng trước những tấm gương của các Ngài chúng ta phải có thái độ như thế nào?

Có lẽ chẳng ai trong chúng ta mà lại không muốn làm thánh. Nên thánh là mục đích mà mọi người chúng ta nhắm tới. Thế nhưng con người của chúng ta thường yếu đuối. Nói như lời thánh Phaolô: Điều tôi muốn tôi lại không làm, còn điều tôi không muốn tôi lại cứ làm” (Rm 7,19). Thân phận con người của chúng ta là thế. Chính vì vậy mà chúng ta phải xin với Chúa ơn can đảm.

* Một chàng thanh niên thuở xưa có tên là Salésio. Anh có tên thánh là Phanxicô. Một lần kia anh đọc lịch sử Giáo Hội, anh thấy trong Giáo Hội đã có 3 người mang tên Phanxicô đã làm thánh: Đó là thánh Phanxicô khó khăn, thánh Phanxicô đệ Phaolô, thánh Phanxicô Xaviê, tự nhiên anh cảm thấy mình cũng phải làm gì để được nên thánh. Thế là anh đi tới một quyết định: Tôi sẽ là Phanxicô thứ 4. Anh đã giữ được quyết định đó và anh đã làm thánh. Đó là thánh Phanxicô Salésio.

* Gần đây chúng ta hay nhắc đến Mẹ Têrêsa Calcutta. Tôi chắc chắn Mẹ đã biết trong lịch sử của Giáo Hội đã có hai vị thánh mang tên Têrêsa: Đó là thánh Têrêsa Avila, Têrêsa Hài đồng Giêsu. Tuy không nói ra nhưng tôi tin Mẹ cũng đã nguyện ước Mẹ cũng là một thánh Têrêsa khác. Và hôm nay, mẹ đã thành công. Giáo Hội đã tôn phong mẹ lên hàng chân phước. Chẳng bao lâu nữa mẹ sẽ lên đến đỉnh vinh quang!

Xin Chúa giúp cho chúng ta biết can đảm. Trên con đường nên thánh, Thánh Augustinô đã gặp rất nhiều thử thách. Ngài đã dùng câu nói này như câu châm ngôn để vươn lên: Ông kia bà nọ làm được tại sao tôi lại không? Chúa sẽ ban cho chúng ta mọi ơn chúng ta cần. Người nọ kia nên thánh được tại sao tôi lại không? Hãy cố gắng. Chúa sẽ phù trợ cho chúng ta. Amen.

Lm. Giuse Đinh Tất Quý

Nguồn: Tổng giáo phận Sài gòn

TẠI SAO TA CỨ LAO ĐẦU VÀO CÔNG VIỆC?

Do tội nguyên tổ, đôi bàn tay của chúng ta đã bị vấy bẩn, lem luốc, vì thế, bất cứ công việc gì ta động tay vào, kể cả những việc đạo đức, thánh thiêng, đều bị lấm lem, nhơ nhớp, chỉ có những công việc nào Chúa thực hiện nơi chúng ta, thì, những công việc đó mới trở nên tốt đẹp. Ấy thế mà, chúng ta cứ lao đầu vào các công việc, mà bỏ quên Chúa: mỗi sáng, ta thức dậy với một danh sách dài các công việc trong đầu, hôm nay, phải hoàn thành điều này, phải đạt được mục tiêu kia, phải chứng tỏ cho người khác thấy mình có giá trị, và khi kết thúc một ngày, nếu chưa đạt được, ta sẽ chìm vào bất an, tự trách, và gấp rút lập thêm kế hoạch mới, cứ thế, ta bị cuốn vào trong một vòng xoáy liên hồi giữa các công việc.

Chúng ta lao đầu vào công việc vì muốn xây dựng một hình ảnh đẹp về mình: ta sợ bị đem ra so sánh, sợ bị xem thường; ta thường đánh giá người khác qua các công việc của họ: một người làm được nhiều việc, ta cho là tài giỏi, nhiệt tình, hữu dụng; còn những ai chậm chạp, làm được ít việc, thì, ta cho là yếu kém, ăn bám, vô dụng. Ta bị kiệt sức, vì chạy theo năng suất, hiệu quả, thành tựu; ta lập kế hoạch theo từng năm, từng tháng, từng ngày, từng giờ, tất cả đều phải tối ưu, nhưng, càng tối ưu, ta càng kiệt sức, rơi vào lo âu, thậm chí, trầm cảm.

Nếu ta làm việc theo sự thúc đẩy của Thánh Thần, thì, ta sẽ còn không chạy theo tham vọng để chứng tỏ mình, việc làm của ta sẽ tự nhiên: như hạt nảy mầm, như hoa chớm nở, không phải vì được ai đó ghi nhận, cũng không phải vì mong chờ một kết quả đặc biệt nào; khi ta không đặt điều kiện, mọi công việc sẽ tuôn chảy nhẹ nhàng: Một bông hoa nở, đâu vì, muốn ai đó ngắm, mà vì, nở là bản tính của nó; Một người mẹ yêu con, đâu phải vì, mong con sau này báo đáp, mà vì, tình mẫu tử khiến bà hành động; Một người làm việc bác ái thật sự, đâu phải, để ai đó nhìn thấy, mà vì, bác ái là căn tính và sứ mạng của người Kitô hữu. Khi công việc không bị tham vọng chi phối, ta nhận ra những điều rất kỳ lạ: công việc vẫn được làm, trách nhiệm vẫn được gánh vác, nhưng, tâm hồn không còn nặng nề, thay vì, làm để đạt được gì, ta chỉ làm vì sự sống đang mời gọi, vì tình yêu Chúa đang thúc bách, và chính sự tự nhiên này đã mở ra một sự “tự do”, không ai có thể lấy mất được.

“Tự do”: “tự” là từ, “do” là nguyên do, khi nào ta ý thức rằng: ta từ “NGUYÊN DO” viết hoa, là chính CHÚA mà đến, thì, khi đó, ta được “tự do”; khi nào ta ý thức rằng: ta không thể tự mình mà có, không thể tự mình làm được bất cứ điều gì tốt đẹp cả, nếu như, những điều đó không đến từ Chúa, thì, khi đó, ta được “tự do”. “Tự do” không còn là khái niệm để bàn luận, không phải một trạng thái để miêu tả, cũng không phải một thành tựu để khoe khoang, “tự do” ấy như làn gió nhẹ thoảng qua, có thể cảm nhận, nhưng, không nắm giữ, nó là một kinh nghiệm sống động vượt ngoài ngôn ngữ. 

Khi ta ý thức rằng: mọi công việc tốt đẹp đều đến từ Chúa, chứ, không phải đến từ chúng ta, thì, chúng ta sẽ được “tự do”, khi đó, ta sẽ sống thật, chứ, không còn phải cố dùng công việc để xây dựng một hình ảnh đẹp đẽ về mình; ta sẽ làm việc cách thảnh thơi, chứ, không bị kiệt sức vì áp lực; ta sẽ chỉ làm một việc duy nhất là trú ẩn ở nơi Chúa, chứ, không còn chạy đi tìm những ảo ảnh xa vời.

Khi đi vào sự “tự do” ấy, ta sẽ thấy rõ một điều: ta không còn gì để làm, chỉ là sống trong sự hiện diện đầy tràn của Thiên Chúa, không có gì cần đạt đến, không có gì cần nắm giữ, tâm hồn của ta như mặt hồ phẳng lặng, không chút gợn sóng, trong veo phản chiếu bầu trời, trong sự trong trẻo đó, không cần ai nói ta siêng năng hay lười biếng, hữu dụng hay vô dụng, tâm hồn ta hoàn toàn rỗng không, hoàn toàn tự do, để Chúa muốn làm gì thì làm, và rồi, tất cả những gì Chúa làm nơi ta, thì, đều là tốt đẹp và cao quý. Ước gì được như thế!

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB.

TỪ BỎ “CHÍNH MÌNH” LÀ GÌ?

Đức Giêsu nói: Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo (x. Mt 16,24). Thật ra, chỉ một mình Chúa mới là Đấng Hằng Sống, Hằng Hữu, Hằng Có, chỉ có một Chúa là “Có”, chứ, ta đâu có gì đâu, ta chỉ là hư vô, ta “có” là nhờ thông dự vào cái “Có” của Chúa. Muốn sống, cành nho phải tháp nhập vào cây nho; muốn tồn tại, hạt nước bé nhỏ phải hòa nhập vào đại dương; tách khỏi cây nho, cành nho sẽ khô héo liền; tách khỏi đại dương giọt nước sẽ tan biến ngay. Chỉ có một thân thể duy nhất: Đức Kitô là Đầu, còn, tất cả chúng ta đều là chi thể, không một ai có thể tồn tại độc lập, một mình. Chúng ta không có cái “chính mình” riêng lẻ, vậy, từ bỏ “chính mình” là từ bỏ cái gì?

Thật vậy, ta không hề có cái “chính mình”, nói như vậy, không có nghĩa là, ta phủ nhận sự sống, hay phủ nhận sự hiện diện của ta trong đời này, ngược lại, chính vì hiểu được: ta chỉ là một chi thể trong thân thể của Đức Kitô, ta mới có thể sống sáng suốt hơn, có trách nhiệm hơn, ta không còn bị thôi thúc bởi ảo tưởng: bảo vệ và củng cố một cái “chính mình” vốn không thật, thay vào đó, ta bắt đầu thấy rõ rằng: mỗi ý nghĩ, lời nói, hành vi đều có thể làm cho ta đau khổ, nếu ta quy về hết cho “chính mình”, mà không, quy hướng về Đức Kitô. Nếu quy về Đức Kitô, thì, ách ta êm ái, gánh ta nhẹ nhàng, ta chỉ việc nghỉ ngơi, bồi dưỡng.

Khi ta thật sự nhìn thẳng vào mình, ta sẽ thấy cái “chính mình” len lõi khắp nơi: nó có mặt trong từng so sánh nhỏ nhặt: ta hơn người này, thua người nọ; nó có mặt trong từng mong cầu: mong được khen, sợ bị chê, mong được lợi, sợ bị mất; thậm chí, nó có mặt ngay trong những ý hướng tốt lành: khi ta bố thí, ta âm thầm mong phước lộc cho chính mình; khi ta nhẫn nhục, ta lại muốn chứng tỏ sự cao thượng của bản thân. Mọi đau khổ đều có thể được nhìn thấy tận gốc, nếu, ta dám nhìn thẳng vào cái “chính mình”: hãy quan sát một cơn giận, khi cơn giận nổi lên, luôn có cái “chính mình” bị xúc phạm, bị tổn thương; hãy nhìn vào ham muốn, luôn có cái “chính mình” ham muốn chiếm hữu, muốn giữ lấy; hãy nhìn vào sự sợ hãi, luôn có cái “chính mình” lo mất mát, lo tan biến. Nếu không có cái “chính mình”, thì, tất cả những đau khổ ấy còn chỗ nào để bám víu. Điều này không có nghĩa là ta phải diệt bỏ sự sống, ngược lại, nó chỉ ra rằng: khi ta từ bỏ “chính mình”, sự sống sẽ trở nên sáng tỏ và tự do: ta không phải lo nghĩ chi cả, Đức Kitô đã gánh chịu hết thay cho ta, phần của ta là: tin tưởng, cậy trông, phó thác cho Người.

Hạnh phúc thật sự không nằm trong sự thỏa mãn của cái “chính mình”, mà, nằm trong khả năng sống với một tâm hồn trong sáng: từ bỏ “chính mình”. Nếu ta vẫn nuôi dưỡng cái “chính mình”, dù là “cái mình thánh thiện”, thì ta vẫn còn là nô lệ, trong thực tế, nhiều người sống đạo đức, nhưng, vẫn chưa hạnh phúc, vì trong các việc đạo đức ấy, cái “chính mình” vẫn tồn tại: một lời khen khiến ta vui, một lời chê khiến ta buồn, một sự thừa nhận làm ta hân hoan, một sự lãng quên làm ta bị tổn thương.

Khi ý thức: ta chỉ là một chi thể trong cùng một thân thể, ta bắt đầu thấy sự thật: mọi cảm xúc, tư tưởng, hành vi, đều chỉ là dòng trạng thái nối tiếp, chúng khởi lên rồi diệt đi, giống như mây bay qua bầu trời, ta không cần đồng nhất chúng là của ta, và khi không còn đồng nhất, ta không còn bị chúng điều khiển, từ đây, một nghịch lý hé lộ: chỉ khi không còn bám vào cái “chính mình”, mà, bám chặt vào Chúa, thì, ta mới thật sự làm chủ đời mình; khi không còn bị cuốn theo thói quen ngu muội chấp vào cái “chính mình”, ta mới có thể lựa chọn sáng suốt: quy hướng về Chúa, thay vì, quy hướng về “chính mình”. Tóm lại, từ bỏ “chính mình” là thôi không còn ảo tưởng: tự mình tồn tại độc lập, mà không cần Chúa, để rồi, ta biết tháp nhập vào Chúa như cành nho gắn liền với cây nho, như giọt nước hòa nhập làm một với đại dương, để ta biết tìm về, nép mình bên Chúa như con thơ trong lòng Mẹ hiền.

 Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền,OSB.

TÌM CHÚA HAY TÌM MÌNH

Cuộc đời của ta chỉ thật sự bình an hạnh phúc, khi ta luôn biết quy hướng về Chúa, và chỉ tìm kiếm một mình Chúa mà thôi. Nếu ta tìm Chúa, thì, mọi hoàn cảnh xảy đến, đều là cơ hội, để ta gặp thấy Người. Nếu ta tìm mình, thì, bất cứ điều gì xảy đến, cũng đều là cản trở, khiến ta không thể gặp được Chúa, kể cả, đó là những việc thiêng liêng, đạo đức.

Thói quen “tìm mình” đẩy ta đi bằng nỗi sợ: Khi ta đang vội vã trong công việc, ta có thật sự đang làm việc vì Chúa, vì tha nhân, hay ta đang chạy đi tìm chính mình: ta sợ không được công nhận, sợ không bằng ai, sợ bị bỏ rơi, và khi sợ hãi lớn hơn sức chịu đựng, ta hành động để né tránh nó, cách vô thức, ta cố làm nhiều hơn, nói nhiều hơn, giỏi hơn, và thậm chí, cố gắng đạo đức hơn, thánh thiện hơn. Nếu truy về gốc, thì mỗi hành vi là mỗi lần thói quen “tìm mình” lên tiếng, và điều nguy hiểm là, ta không hề nhận ra, bởi vì, nó thường xuất hiện với những “mỹ từ” như: tôi đang cố gắng sống tốt, nghe rất cao đẹp, nhưng, nếu ta đủ lặng, ta sẽ nghe thấy trong đó: tiếng vọng của một cái tôi luôn muốn khẳng định mình, luôn muốn tìm mình, vì thế, chúng ta phải nhìn lại từng hành vi với sự tỉnh táo: tôi đang làm điều này để làm gì, có phải tôi đang giúp người, hay đang làm điều đó để người khác thấy tôi là người biết giúp đỡ; tôi đang thương xót người hay đang cố gắng cho thấy tôi là người biết xót thương.

Thói quen “tìm mình” không chỉ thỏa mãn với vật chất, hay địa vị thế gian, mà còn, bắt đầu thu gom những tài sản thiêng liêng như: chiêm niệm sâu hơn, trải nghiệm thiêng liêng vi tế hơn, trạng thái an bình hoan lạc dài hơn: ta bắt đầu sống như thể đang “casting” trong vai nhà thuần thiêng, bậc chiêm niệm: đi đứng nhẹ nhàng, nói năng chậm rãi, miệng hay mỉm cười, nhưng, bên trong vẫn còn một tiếng vọng mơ hồ: tôi “đang đi tìm” hình ảnh một người đặc biệt; khi bản ngã khoác áo thiêng liêng, ta rất khó nhận ra, vì mọi thứ ta làm, đều giống như trên đường hoàn thiện vậy, nhưng, thật ra, ta chỉ đang diễn, một vai diễn thiêng liêng cao quý.

Chỉ khi nào, ta dám nhìn thẳng vào cái bản ngã đang khoác áo thiêng liêng, dám bóc từng lớp mặt nạ cách không khoan nhượng, ta mới thấy được điều sâu nhất: lề luật không cứu ta, các việc thiêng liêng bên ngoài không giải thoát ta, chỉ có, sự thật mới giải phóng ta: mọi nỗi khổ đều có một điểm chung, đều là hệ quả của động cơ “tìm mình”, cái thấy đó, nếu đủ sắc bén sẽ cho ta nhận ra rằng: mọi vấn đề ta tưởng là đến từ hoàn cảnh, hay từ người khác, thật ra, đều bắt nguồn từ một nơi duy nhất: Thói quen “tìm mình”, nơi mà, ta là trung tâm của vũ trụ. Thói quen “tìm mình” không chỉ sống trong nội tâm, mà, nó còn tồn tại và sinh sôi nảy nở trong môi trường ta tương tác mỗi ngày, và chưa bao giờ, thói quen “tìm mình” lại có đất sống như hiện nay, thời đại của mạng xã hội: chúng ta tìm mình trong từng lượt thích, trong mỗi bình luận khen ngợi, và qua từng lượt chia sẻ… tất cả, như những viên gạch, dựng nên ngôi đền bản ngã, nơi mà, ta vừa được tôn thờ, vừa bị giam giữ.

Sau cùng, càng muốn diệt trừ thói quen “tìm mình”, ta lại vô tình tiếp sức cho nó tồn tại dưới hình thức khác, thật mỉa mai, ngay cả việc muốn thoát khỏi thói quen “tìm mình”, thì, cũng là một chuyển động của thói quen ấy, vì đó vẫn là ham muốn của “cái tôi vi tế” đang cố gắng trở thành một phiên bản tốt hơn, vậy thì, điểm bắt đầu của sự tự do, không phải là hành động, không phải là một nỗ lực tích cực để thay đổi, mà là, cái thấy, cái nhìn chiêm niệm đơn sơ và trần trụi, chỉ là thấy: “Tôi có sao Chúa yêu tôi vậy”, không phải tôi tốt, tôi giỏi, Chúa mới yêu; không phải tôi là nhà chiêm niệm, thần bí, Chúa mới mến. Chính trong cái khoảnh khắc của cái thấy rõ ràng ấy, ta được trả về với sự đơn sơ rỗng rang, không còn “tìm mình”, không còn vai diễn, không còn bám víu, chỉ còn sự sống đang là, tin tưởng, phó thác; khi ta không còn “tìm mình”, thì Chúa sẽ xuất hiện, và từ đó, từng hơi thở, từng bước chân, từng khoảnh khắc, đều là chiêm niệm, đều là thiêng liêng, đều là tự do. Ước gì được như thế!

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền,OSB.