- Details
-
Category: 2. Cảm Nghiệm Sống Lời Chúa
Một khoảnh khắc rơi nước mắt khi cầu nguyện, hay khi đọc Lời Chúa, đôi khi, khiến ta tưởng mình đã xuất thần, vì có một cảm giác bừng sáng, ta nghĩ ta đã thấy Chúa, thấy mình như tan hòa làm một với Chúa, rồi từ đó, ta cố gắng giữ lấy cảm giác ấy, dựng thành một ký ức, rồi từ ký ức ấy, dựng nên một bản ngã mới: tôi đã xuất thần, đã thần bí, nhưng, mọi trạng thái, dù thần bí đến đâu, cũng đều đến rồi đi, trạng thái có thể rất mạnh, rất sâu, rất thật, nhưng, vẫn là trạng thái, mà đã là trạng thái thì sẽ qua đi, không có gì sai khi trải nghiệm một trạng thái đặc biệt, cái sai là: tưởng rằng đó là “kinh nghiệm thần bí”, thần bí không đến như một sự kiện, giây phút xuất thần, để ta kể lại cho người khác, thần bí không vướng vào bất kỳ trạng thái nào, bởi vì, niềm vui đến rồi đi, hạnh phúc chớm nở rồi lụi tàn; an lạc khởi lên rồi vụt tắt.
Chúng ta phải đề phòng “cái tôi thần bí”, bởi vì, nó không cần địa vị, mà, cần người khác ngưỡng mộ sự hiểu biết sâu sắc của mình; không khoác áo quyền lực, mà, khoác áo khiêm nhường có chủ ý, cái khiêm nhường, mà, càng khiêm nhường, ta càng thấy mình đứng cao: ta không còn sống để học, mà, để dạy; không còn nghe để hiểu, mà, để chỉ lỗi người khác; không còn lắng, mà, chỉ có nói: nói với cung giọng hiền lành, nhưng, sâu bên trong, vẫn là khinh ngầm những người còn đang mê muội.
Chúng ta phải đề phòng “cái tôi thần bí”, bởi vì, nó có thể ngồi cầu nguyện hàng giờ, nhưng, mục đích là để đạt được trạng thái đặc biệt; ăn chay, giữ luật nghiêm ngặt, nhưng, trịch thượng tách mình ra khỏi đám đông yếu kém; có thể sống giản dị, nhưng, mang trong mình khao khát được công nhận là đã thôi dính bén; Tất cả những điều ấy dù có vẻ “thánh thiện”, nhưng, cũng chỉ là sự diễn tập của cái tôi trần tục, bởi vì, thánh thiện thật, không bao giờ đi kèm nhu cầu chứng minh, cảm thức vượt trội, và động cơ muốn trở thành ai đó, nhưng, chỉ quy hướng về một mình Chúa mà thôi.
Chúng ta phải đề phòng “cái tôi thần bí”, bởi vì, thần bí thật, không khiến ta nổi bật hơn giữa đám đông, nhưng, khiến ta tan rã khỏi mọi địa vị: không danh, không cấp bậc, không làm ta đứng trên sân khấu thuần thiêng, mà, khiến ta bước xuống không còn diễn nữa, để chỉ sống thật: càng sống thật, ta càng không cố tỏ ra đang sống thật; càng buông bỏ, ta càng không cần ai biết mình đã buông gì; càng chiếu sáng, ta càng không làm chói mắt người khác: ta có thể ngồi trong đám đông, mà, không cần ai nhìn thấy; có thể bị hiểu lầm, mà, không cần thanh minh; có thể bị công kích, mà, không cần lên tiếng, không phải vì ta vô cảm, mà vì, ta không còn cần phải bảo vệ ai, bởi vì, ta đã thuộc trọn về Chúa; ai chưa thật sự thần bí mới cần bảo vệ “cái tôi thần bí” mới hình thành; ai đã thấy Chúa, thì, không cần thấy mình là ai, để được nhìn nhận nữa.
Tóm lại, “thần bí” không khiến ta siêu nhiên, nó chỉ khiến ta thành thật, thành thật với một cơn giận khởi lên trong lòng, mà không chối bỏ; thành thật với một nỗi buồn còn vương, mà không tô hồng; thành thật với những bất toàn, những mâu thuẫn, những thói quen cũ vẫn chưa tan, mà không tự ghét bỏ chính mình; Người càng “thần bí” càng người: không phải ít cảm xúc, mà là, thấy rõ mọi cảm xúc; không phải ít nói, mà là, không còn nói dối chính mình; không phải ít hành động, mà là, hành động nào cũng xuất phát từ một tâm hồn trong sáng. “Người thần bí” không lấp lánh, nhưng, bình thường đến lạ, không phải là ẩn sĩ trên núi cao, mà là, người vẫn đang sống giữa thế gian, nhưng, không thuộc về thế gian: vẫn yêu, nhưng không bị trói buộc; vẫn buồn, nhưng không tuyệt vọng; vẫn tổn thương, nhưng không quỵ ngã; vẫn thất bại, nhưng không đánh mất chính mình, bởi vì, “người thần bí” đã thuộc trọn về Chúa, đồng hình đồng dạng với Chúa trong từng suy nghĩ, lời nói, và hành động; “người thần bí” như chiếc lá khô luôn buông mình, tung bay theo làn gió Thánh Thần.
Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền,OSB.
- Details
-
Category: 2. Cảm Nghiệm Sống Lời Chúa
Trên hành trình thiêng liêng, có một khoảnh khắc, mà, tất cả ánh sáng bên ngoài vụt tắt, ta đứng một mình trong bóng tối, giữa khoảng lặng không người, không tiếng, không lời an ủi, ta đang chạm vào phần sâu nhất của chính mình, không ai biết, chỉ một mình ta biết, do đó, càng tiến sâu trên đường thiêng liêng, ta càng cô đơn: những câu chuyện trước đây từng khiến ta hào hứng, giờ trở nên vô vị; những mối quan hệ từng thân thiết, giờ như lạc lõng, ta không còn nói nhiều, không còn muốn thể hiện gì với ai nữa.
Một mình với Chúa, như Đức Giêsu một mình trong sa mạc, chỉ có thử thách và cám dỗ: các ẩn sĩ từ bỏ đời sống thế tục, ẩn mình trong rừng sâu núi thẳm: họ dám đứng lại, mà, không sợ bị bỏ lại; dám một mình, mà, không hề thấy đơn độc; họ rơi khỏi mọi bám víu, rơi khỏi mọi nơi trú ẩn, và rồi, khi rơi đến tận đáy, họ phát hiện ra: đó không phải là hố sâu, mà là, nền đất thật sự, họ bắt đầu đứng lên không vì ai cổ vũ, họ bắt đầu sống không vì ai chứng nhận, mà chỉ, sống đơn sơ trong sự hiện diện, dưới ánh nhìn của Chúa mà thôi.
Một mình với Chúa, khi tất cả đã rời đi, ta ở lại một mình, ở lại với chính mình, ở lại với sự “cô đơn” đến rợn người, ở lại với cơn đau vứt bỏ bản ngã từng mảnh, từng lớp một, như lột da sống, không ai giúp được ta, không ai hiểu điều ta thấy, và trong sự tận cùng của sự một mình đó, cái gì đó mở ra, không phải một đỉnh cao thiêng liêng, mà là, một sự buông tự nhiên, từ đó, ta sống không cao siêu, không cố tình giản dị, không còn gì để sợ, không ai hiểu, không có bạn đồng hành, không có dấu hiệu rõ ràng rằng ta đang đi đúng hay sai đường, và đó chính là dấu chỉ, ta đang bắt đầu thoát khỏi vùng an toàn của tâm trí, đang đứng trước cánh cửa, mà chỉ một mình ta mới có thể mở. Đừng sợ sự một mình đó, vì đó là lúc cái tôi rút lui, là khi tất cả mọi tiếng ồn lùi xa, là khi cánh cửa của chính ta bắt đầu hé mở.
Một mình với Chúa khiến ta thinh lặng, không phải, vì không có gì để nói, mà là, loại thinh lặng của một dòng sông đã thôi gào thét, chỉ còn phản chiếu ánh trăng, trong sự thinh lặng đó, ta bắt đầu hiểu ra rằng: “cô đơn” không đến để trừng phạt ta, nó đến như một cánh cửa, để khi ta bước vào, ta rũ sạch mọi dựa dẫm, mọi hình ảnh, mọi mong đợi, để, ta trở về một trạng thái nguyên sơ, không ai bên cạnh, ngoài một mình Chúa mà thôi: Người không nói gì, không thuyết phục gì, chỉ lặng lẽ hiện diện, như mặt đất vẫn luôn ở đó, dù, ta có chạy bao xa.
Một mình với Chúa khiến ta không còn cần người khác làm nền cho hạnh phúc, không cần ai đó đồng hành thì ta mới đi được, ta không còn cần nữa: không vai diễn, không chiến lược, không mong cầu, chỉ đơn giản sống như “đám mây” bay qua “bầu trời ân sủng”, không biết sẽ đi đâu, cũng chẳng cần biết để làm gì, và rồi, giữa niềm tin tưởng cậy trông phó thác đó, một loại hạnh phúc lạ lùng xuất hiện, không bùng nổ, không rực rỡ, nó chỉ, âm ấm nhẹ như ánh nắng cuối chiều, mà, bám rất sâu trong tim, ta thấy mình không cần chạy theo gì nữa, không cần khao khát nổi bật, không còn mong muốn chứng tỏ mình, thuyết phục ai nữa.
Tóm lại, khi một mình với Chúa, ta đứng trước cánh cửa “cô đơn”, nhìn quanh không thấy ai, vì đây là nơi: không thể đi cùng, chỉ khi, ta đủ can đảm để bước một mình, cánh cửa mới mở, không vang tiếng, không rực sáng, nó mở bằng một cái buông: buông câu hỏi, buông lý do, buông khát khao trở thành, ta bước vào một vùng lặng, nơi, không còn ai để khen chê, nơi, cái tôi cũ đã rơi rụng, và cái mới chưa được gọi tên, nơi, ta không trở nên thánh thiện, mà chỉ trở nên không còn giả vờ thánh thiện nữa, và lúc đó, ta hiểu “cô đơn” không phải là ngõ cụt, mà là cánh cửa: ai muốn đi sâu vào đời sống thiêng liêng, đều phải bước qua một mình. Ước gì ta dám chấp nhận “cô đơn”, để được một mình với Chúa. Ước gì được như thế!
Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền,OSB.