Gặp Gỡ Chúa Kitô Trong Thánh Thần

GẶP GỠ ĐỨC KITO - BUỔI TRIỀU KIÊN CHUNG

This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
 
May 22 at 4:23 PM
 
 

ĐTC Phanxicô - Buổi Triều Kiến Chung Thư Tư 22-5-2019

 

 

Kinh Lạy Cha - Bài 16

 

 "Kinh nguyện Kitô giáo được xuất phát từ việc dám táo bạo gọi danh xưng 'Cha'"

 

 

 

 

Pope Francis at the weekly General Audience in the Vatican, May 22, 2020.

 

"Những lời bộc lộ nguyện cầu phát ra từ môi miệng của Chúa Giêsu đều nhắc lại bản Kinh 'Lạy Cha'"

 

 

"Đây là mầu nhiệm của kinh nguyện Kitô giáo,

đó là chúng ta được thu hút bởi ân sủng vào trong cuộc đối thoại yêu thương của Ba Ngôi Chí Thánh"

 

 

 

 

Xin chào anh chị em thân mến!

Hôm nay chúng ta kết thúc loạt bài giáo lý về Kinh "Lạy Cha". Chúng ta có thể nói rằng kinh nguyện Kitô giáo được xuất phát từ việc dám táo bạo gọi danh xưng "Cha". Nó không phải là một thứ công thức cho bằng là tình thân mật con cái chúng ta được ân sủng dẫn vào, ở chỗ, Chúa Giêsu là Đấng Mạc Khải về Cha và Người ban cho chúng ta tình thân với Ngài. "Người không lưu lại cho chúng ta một thứ công thức để lập lại một cách máy móc. Như bất cứ kinh nguyện bằng miệng lưỡi nào, chính nhờ Lời Chúa mà Thánh Linh dạy cho con cái Chúa cầu nguyện cùng Cha của họ" (Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo - 2766). Chính Chúa Giêsu đã sử dụng những diễn tả khác nhau để cầu cùng Cha của Người. Nếu chúng ta chăm chú đọc các Phúc Âm, chúng ta khám phá ra rằng những lời bộc lộ nguyện cầu phát ra từ môi miệng của Chúa Giêsu đều nhắc lại bản Kinh "Lạy Cha".

Vào Đêm ở Vườn Nhiệt, Chúa Giêsu đã cầu nguyện như thế này: "Abba, Cha ơi! Tất cả đều có thể đối với Cha; xin hãy cất cho con khỏi chén này; nhưng đừng theo những gì Con muốn, mà là những gì Cha muốn" (Marco 14:36). Chúng ta đã nhắc lại đoạn Phúc Âm này của Thánh Marco. Làm thế nào chúng ta không nhận ra nơi lời nguyện này, cho dù ngắn ngủi, một dấu vết về Kinh "Lạy Cha" chứ? Giữa đêm tăm tối, Chúa Giêsu đã kêu cầu cùng Thiên Chúa bằng danh xưng "Abba", bằng một lòng tin tưởng thảo hiếu, và mặc dù cảm thấy sợ hãi cùng thống khổ, Người cũng xin cho Ý Cha được thể hiện. Ở các đoạn khác của Phúc Âm, Chúa Giêsu nhấn mạnh cùng các môn đệ rằng các vị cần phải vun trồng một tinh thần cầu nguyện. Cầu nguyện cần phải liên tục, và nó cần phải bao gồm trước hết là việc tưởng nhớ đến những người anh chị em, nhất là khi chúng ta cảm thấy có những liên hệ khó khăn đối với họ. Chúa Giêsu nói rằng: "Khi các con cầu nguyện thì hãy tha thứ, nếu các con có điều gì phạm đến bất cứ một người nào; nhờ đó Cha của các con ở trên Trời cũng mới tha thứ cho các sai phạm của các con" (Marco 11:25). Chúng ta làm sao lại không nhận thấy nơi những diễn tả này phần nào tương ứng với Kinh "Lạy Cha" chứ? Và có thể còn nhiều thí dụ khác nữa.

Chúng ta không thấy đoạn Kinh "Lạy Cha" trong các bản văn của Thánh Phaolô, thế nhưng sự hiện diện của kinh này xuất hiện nơi cái tổng hợp kỳ diệu ở lời cầu khẩn của Kitô giáo được cô đọng trong chỉ một chữ duy nhất là Abba!" (xem Roma 8:15; Galata 4:6).

Trong Phúc Âm Thánh Luca, Chúa Giêsu đã hoàn toàn làm thỏa đáng lời yêu cầu của các môn đệ khi các vị thấy Người thường xa lánh để chìm mình trong cầu nguyện thì một hôm đã quyết định xin Người rằng: "Lạy Thày, xin dạy cho chúng con cầu nguyện, như Gioan - Tẩy giả - đã dạy cho các môn đệ của ngài" (11:1). Bấy giờ Vị Sư Phụ này đã dạy cho các vị kinh nguyện cầu cùng Cha.

Nếu coi Tân Ước như là một tổng thể, thì thấy rõ ràng rằng nhân tố chính đầu tiên của hết mọi kinh nguyện Kitô giáo là Thánh Linh, Đấng thở vào lòng người môn đệ. Thần Linh là Đấng có thể giúp chúng ta cầu nguyện như là thành phần con cái của Thiên Chúa, một thân phận chúng ta thật sự là nhờ Phép Rửa. Vị Thần Linh này làm cho chúng ta cầu nguyện theo các "nề nếp" đã được Chúa Giêsu vun xới cho chúng ta. Đây là mầu nhiệm của kinh nguyện Kitô giáo, đó là chúng ta được thu hút bởi ân sủng vào trong cuộc đối thoại yêu thương của Ba Ngôi Chí Thánh.

Chúa Giêsu cầu nguyện như vậy. Đôi khi Người sử dụng những diễn tả thực sự là rất xa với với bản Kinh "Lạy Cha". Chúng ta nghĩ đến những lời ban đầu của Thánh Vịnh 22 được Chúa Giêsu thốt lên trên cây thập tự giá: "Chúa Trời của Tôi ơi, Chúa Trời của Tôi ơi, nhân sao Ngài lại bỏ rơi Tôi?" (Mathêu 27:46). Có thể nào Cha trên trời lại bỏ rơi Con của Ngài hay chăng? Chắc chắn là không. Tuy nhiên, tình yêu đối với tội nhân chúng ta đã dẫn Chúa Giêsu đến chỗ ấy, đến độ cảm thấy mình bị Thiên Chúa bỏ rơi, bị Thiên Chúa xa cách. Tuy nhiên, nơi tiếng kêu thống thiết này vẫn còn là "Thiên Chúa của Tôi, Thiên Chúa của Tôi". Nơi cái "của Tôi" là cốt lõi của mối liên hệ với Cha ấy, có một cái tâm điểm của đức tin và việc cầu nguyện.

Đó là lý do tại sao Kitô hữu có thể cầu nguyện từ cái tâm điểm này ở trong hết mọi trường hợp. Họ có thể sử dụng tất cả mọi kinh nguyện trong Thánh Kinh, nhất là trong Thánh Vịnh; thế nhưng họ cũng có thể cầu nguyện bằng nhiều bộc lộ qua các thiên kỷ lịch sử đã được xuất phát từ tâm can của con người. Chúng ta đừng bao giờ thôi thưa cùng Cha về những người anh chị em trong nhân loại, nhờ đó không một ai trong họ, nhất là người nghèo, không được niềm an ủi và tham phần yêu thương.

Ở cuối bài giáo lý này, chúng ta có thể lập lại lời nguyện cầu của Chúa Giêsu: "Lạy Cha là Chúa Trời đất, Con tạ ơn Cha, vì Cha đã dấu những điều này khỏi thành phần khôn ngoan thông thái mà đã mạc khải chúng cho các trẻ nhỏ biết mà thôi" (Luca 10:21).

 

https://zenit.org/articles/pope-praises-st-rita-of-cascia-saint-of-hopeless-causes-full-text-of-general-audience/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu  

GẶP GỠ ĐỨC KITO TRONG THÁNH THẦN - BƯỞI TRIỀU KIẾN CHUNG-

ĐTC Phanxicô - Buổi Triều Kiến Chung Thư Tư 15-5-2019

 

 Kinh Lạy Cha - Bài 15: "Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ"

 

Pope Francis waves to the crowds at the General Audience

 

"Lời thỉnh nguyện cuối cùng thực sự là lời van xin của chúng ta

bất cứ khi nào chúng ta cảm thấy mình hạn hữu, bao giờ cũng thế".

 

Pope Francis at the General Audience in St. Peter's Square, May 15, 2019. Credit: Daniel Ibanez/CNA.

 

"Có một sự dữ bí nhiệm, chắc chắn không phải là công việc của Thiên Chúa,

âm thầm đột nhập vào giữa các chuồng chiên của lịch sử. Âm thầm như con rắn kín đáo mang nọc độc". 

 

 

"Ở vào những lúc nào đó, nó dường như làm chủ tình hình:

ở những ngày giờ nào đó, sự hiện diện của nó dường như còn tỏ tường hơn cả lòng thương xót Chúa nữa".

 

Xin chào anh chị em thân mến!

Đến đây cuối cùng chúng ta đã tiến đến vấn đề thứ 7 của Kinh "Lạy Cha": "Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ" (Matheu 6:13b).

Bằng lời bày tỏ này, con người cầu nguyện chẳng những xin đừng bị bỏ rơi trong lúc bị cám dỗ, mà còn van nài cho được giải thoát khỏi sự dữ nữa. Động từ theo gốc Hy Lạp này là một động từ rất mạnh: nó gợi lên sự hiện diện của Tên Gian Ác là kẻ muốn chộp lấy chúng ta và cắn xé chúng ta (xem 1Phêrô 5:8), và là kẻ con người ta cần phải được Thiên Chúa giải phóng cho khỏi tay hắn. Tông Đồ Phêrô cũng nói rằng Tên Gian Ác này, tức là ma quỉ, vây quanh chúng ta như một con sư tử gầm gừ rình chực để nuốt lấy chúng ta, nên chúng ta cần phải xin Thiên Chúa giải thoát chúng ta.

Ở lời thỉnh nguyện lưỡng diện này: "xin chở bỏ mặc chúng con" và "xin giải thoát chúng con", có một đặc tính thiết yếu của kinh nguyện Kitô giáo. Chúa Giêsu dạy cho thành phần bạn hữu của Người dâng lên Chúa Cha lời cầu xin này trước tất cả mọi lời cầu xin khác, nhất là thậm chí vào những lúc cảm thấy Tên Gian Ác hiện diện đáng sợ. Thật vậy, Kinh nguyện của Kitô giáo không nhắm mắt lại trước đời sống. Nó là một lời cầu nguyện thảo kính chứ không phải là một lời nguyện trẻ con. Nó cũng không quá dại khờ nơi tình phụ tử của Thiên Chúa, đến độ quên rằng đường lối của con người đầy những khó khăn. Nếu không có những câu cuối cùng của Kinh "Lạy Cha" thì thành phần tội nhân, thành phần bị bách hại, thành phần tuyệt vọng, thành phần hấp hối làm sao có thể cầu nguyện chứ? Lời thỉnh nguyện cuối cùng thực sự là lời van xin của chúng ta bất cứ khi nào chúng ta cảm thấy mình hạn hữu, bao giờ cũng thế.

Chúng ta không thể chối cãi được rằng sự dữ xuất hiện trong đời sống của chúng ta. Các sử sách là một bản liệt kê thảm khốc về việc chúng ta hiện hữu trong thế giới này thường là một cuộc thám hiểm khách tận ra sao. Có một sự dữ bí nhiệm, chắc chắn không phải là công việc của Thiên Chúa, âm thầm đột nhập vào giữa các chuồng chiên của lịch sử. Âm thầm như con rắn kín đáo mang nọc độc. Ở vào những lúc nào đó, nó dường như làm chủ tình hình: ở những ngày giờ nào đó sự hiện diện của nó dường như còn tỏ tường hơn cả lòng thương xót Chúa nữa.

Con người cầu nguyện không mù quáng, và họ nhìn thấy trước mặt tỏ tường sự dữ nghêng ngang này và vì thế mà nó tương phản với chính mầu nhiệm về Thiên Chúa. Họ nhìn thấy nó ở thiên nhiên, nơi lịch sử, và thậm chí ngay trong cõi lòng của họ. Vì không một ai trong chúng ta dám nói rằng họ thoát được sự dữ, hay ít là khỏi bị cám dỗ. Tất cả chúng ta đều biết sự dữ là gì; tất cả chúng ta đều biết chước cám dỗ ra sao; tất cả chúng ta đều cảm nghiệm thấy chước cám dỗ ở nơi xác thịt của mình về bất cứ tội lỗi nào. Tuy nhiên, tên cám dỗ là kẻ đưa đẩy chúng ta đến sự dữ, khi nói với chúng ta rằng: "hãy làm điều này, hãy nghĩ điều kia, tiếp tục đi theo đường lối ấy".

Tiếng kêu lên cuối cùng của Kinh "Lạy Cha" này là những gì đụng độ với tên gian ác ấy, một tên gian ác nắm bắt được những cảm nghiệm đa dạng nhất: niềm than khóc của con người, nỗi đớn đau vô tội, sống nô lệ, bị lạm dụng, tiếng kêu của trẻ em vô tội. Tất cả những biến cố ấy ở trong cõi lòng của con người và trở thành một âm thanh nơi lời cuối cùng của kinh Chúa Giêsu dạy.

Chính ở trong các trình thuật về Cuộc Khổ Nạn mà một số lời diễn tả của Kinh "Lạy Cha" đã có được cái âm vang lừng nhất của chúng. Chúa Giêsu thưa rằng: "Abba, Cha ơi, tất cả đều có thể với Cha; xin hãy cất chén này cho Con; nhưng đừng theo ý Con mà là ý Cha" (Marco 14:36). Chúa Giêsu hoàn toàn cảm thấy bị sự dữ xâu xé, chẳng những chết mà còn chết trên một cây thập tự giá; chẳng những lẻ loi cô độc mà còn bị khinh chê và hạ nhục; chẳng những ác tâm mà còn dã man, hung tàn với Người nữa. Hãy nhìn xem con người nào thế: một hữu thể được hiến cho sự sống, Đấng mơ tưởng đến tình yêu thương và sự thiện hảo, thế nhưng lại là Đấng liên lỉ bị phơi bày ra trước sự dữ cũng như trước thành phần đồng hương của Người, cho đến độ chúng ta có thể cảm thấy thất vọng về con người ấy.

Anh chị em thân mến, như thế thì Kinh "Lạy Cha" giống như một bản hợp tấu cần phải hoàn tất nơi mỗi một người chúng ta. Kitô hữu biết được việc làm nô lệ cho quyền lực của sự dữ ra sao, đồng thời cũng có kinh nghiệm rằng Chúa Giêsu, Đấng không bao giờ chịu lui bước trước những xu nịnh của nó, đang ở bên chúng ta và trợ giúp chúng ta.

Vậy kinh Chúa Giêsu dạy lưu lại nơi chúng ta di truyền thể cao quí nhất đó là sự hiện diện của Người Con Thiên Chúa là Đấng đã giải thoát chúng ta khỏi sự dữ, bằng việc chiến đấu để hoán cải nó. Trong giây phút của trận chiến cuối cùng, Người bảo Phêrô đút gươm vào vỏ; với người trộm thống hối Người bảo đảm Thiên Đàng, với tất cả những con người đang vây quanh Người, không biết gì về tấn bi kịch đang đến hồi kết thúc, thì Người dâng hiến ngôn từ hòa bình: "Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm" (Luca 23:34).

Bình an tuôn trào từ việc Chúa Giêsu tha thứ, một thứ bình an chân thực xuất phát từ thập tự giá: nó là một tặng ân của Đấng Phục Sinh, một tặng ân Chúa Giêsu ban cho chúng ta. Hãy nghĩ rằng lời chào đầu tiên của Chúa Giêsu Phục Sinh là "bình an cho các con", bình an cho linh hồn của anh chị em, cho tâm can của anh chị em, cho đời sống của anh chị em. Chúa ban cho chúng ta bình an, Ngài ban ơn tha thứ cho chúng ta, nhưng chúng ta cần phải kêu lên rằng: "xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ", nhờ đó không làm sự dữ. Đó là niềm hy vọng của chúng ta, là sức mạnh Chúa Giêsu Phục Sinh ban cho chúng ta, Đấng đang ở đây, giữa chúng ta: Người đang ở đây. Người đang ở đây với sức mạnh Người ban cho chúng ta để chúng ta tiến bước, và Người hứa giải thoát chúng ta cho khỏi sự dữ.

 https://zenit.org/articles/general-audience-on-the-our-fathers-deliver-us-from-evil-full-text/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

 

NẾU MUỐN CÓ TOÀN BỘ CÁC BÀI GIÁO LÝ VỀ KINH LẠY CHA CỦA ĐTC PHANXICÔ, XIN BẤM VÀO CÁI LINK DƯỚI ĐÂY: 

 

http://thoidiemmaria.net/GIAOHOI/Giao%20Ly%20ve%20Kinh%20Lay%20Cha/mucluc.htm  

 ----------------------------

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ - TÔI ĐÃ THẤY CHÚA

Sống và Chia sẻ Lời Chúa -THỨ BA TUẦN BÁT NHẬT PS

TIN MỪNG Ga 20,11-18

“TÔI ĐÃ THẤY CHÚA!”

Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi báo cho các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa.” (Ga 20,18)

Suy niệm/SỐNG: “Tôi đã thấy Chúa,” đó là tiếng reo mừng rỡ của chị Ma-ri-a Mác-đa-la khi vội vã chạy đi gặp các tông đồ. “Tôi đã thấy Chúa” là lời loan báo vui tươi của các phụ nữ cho các tông đồ sau khi được gặp Chúa, ôm chân và bái lạy Ngài.

1/ Sau khi được đồng hành với Đấng Phục Sinh trên quãng đường dài, rồi đồng bàn với Chúa cuối cùng mở mắt nhận ra Ngài khi bẻ bánh, “Tôi đã thấy Chúa” là động lực thúc đẩy hai môn đệ đi Em-mau phải lập tức quay trở lại con đường dài 12 km dù trời đã xế chiều, để chia sẻ sứ điệp ấy cho các môn đệ khác.

2/ “Tôi đã thấy Chúa” cũng là sứ điệp mà Phao-lô, vị Tông đồ dân ngoại, luôn xác tín mạnh mẽ để loan báo cho muôn dân. “Tôi đã thấy Chúa” cũng phải là nội dung Tin Mừng mà bạn muốn loan báo cho người chung quanh bạn hôm nay.

Mời Bạn CHIA SẺ: 1/ Bạn chỉ có thể xác quyết “Tôi đã thấy Chúa” cho người lân cận khi chính bạn đã gặp gỡ Ngài, cảm nghiệm Ngài trong cuộc đời bạn, cảm nhận sự hiện diện của Ngài, Đấng Phục Sinh đang đồng hành với mình trong mọi nẻo đường đời.

2/ Nhờ đó, bạn có thể là chứng nhân đáng tin và hữu hiệu của Ngài trong chính gia đình, cộng đoàn bạn sống, trong môi trường bạn làm việc, trong vòng thân ái của bạn bè thân hữu, trong giáo xứ bạn sinh hoạt.

Sống Lời Chúa: Tôi xác tín Đấng Phục Sinh đang đồng hành với mình, nỗ lực thực hành Lời Ngài căn dặn: “Chính anh em là nhân chứng về những điều này” (Lc 24,48).

Cầu nguyện: Lạy Giê-su Phục Sinh, con xác tín Chúa đang sống, đồng hành với con, để con trở thành sứ giả của Chúa Phục sinh cho những người anh em con gặp gỡ mỗi ngày. Amen.

gpmytho

------------------------------------

*CA NGỢI: "XIN BAN THÊM NIỀM TIN ĐỂ CON THẤY CHÚA LUÔN ĐỒNG HÀNH.

               XIN BAN THÊM SỨC MẠNH ĐỂ CON THẮNG VƯỢT NGÀN GIAN NAN......."

-----------------------------

GẶP GỠ ĐỨC KITO TRONG THÁNH THẦN

ĐTC Phanxicô - Buổi Triều Kiến Chung Thư Tư 24-4-2019

 

 

Kinh Lạy Cha - Bài 13: "Như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con"

 

 

Tất cả chúng ta đều là các con nợ của Thiên Chúa cũng như của rất nhiều người đã cống hiến cho chúng ta những điều kiện sống thuận lợi. Căn tính của chúng ta được hình thành bởi sự thiện chúng ta lãnh nhận.

 

Pope Francis at the general audience April 20, 2016. Credit: Daniel Ibanez/CNA.

 

Mối liên hệ ân tình theo hàng dọc về phần Thiên Chúa là mối liên hệ có tính cách khúc xạ, và chúng ta được kêu gọi để chuyển nó thành một mối liên hệ mới để chúng ta sống với anh chị em của chúng ta, một mối liên hệ theo hàng ngang.

 

Pope Francis waves to pilgrims at the weekly General Audience

 

Nơi nào sự dữ cần phải bị ngăn chặn thì người ta cần phải yêu thương vượt lên trên cả những gì là nợ nần ...

Thay cho thứ luật trả đũa - những gì anh đã làm cho tôi thì tôi cũng làm cho anh.

Chúa Giêsu đã thay thế bằng luật yêu thương: những gì Thiên Chúa đã làm cho tôi thì tôi cũng làm cho anh!

 

Xin chào anh chị em thân mến!

Hôm nay chúng ta xong bài giáo lý về vấn đề thứ năm của Kinh "Lạy Cha", ở lời bày tỏ "như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con" (Mathêu 6:12). Chúng ta đã thấy rằng con người thật sự là một con nợ của Thiên Chúa: chúng ta đã lãnh nhận từ Ngài hết mọi sự, liên quan đến bản tính tự nhiên cũng như ân sủng. Đời sống của chúng ta chẳng những được Thiên Chúa muốn có mà còn được Ngài yêu thương nữa. Thật sự là không có chỗ đứng cho những gì là tự phụ khi chúng ta nắm tay nhau cầu nguyện. Trong Giáo Hội không có loại "người tự tạo" (self-made men) - những con người làm nên bản thân mình. Tất cả chúng ta đều là các con nợ của Thiên Chúa cũng như của rất nhiều người đã cống hiến cho chúng ta những điều kiện sống thuận lợi. Căn tính của chúng ta được hình thành bởi sự thiện chúng ta lãnh nhận. Sự thiện đầu tiên là sự sống.

Con người cầu nguyện biết nói tiếng "cám ơn". Chúng ta thường quên nói "cám ơn". Chúng ta là kẻ vị kỷ. Con người cầu nguyện biết nói tiếng "cám ơn", và xin Thiên Chúa tỏ lòng từ ái với họ. Chúng ta hãy cố gắng bao nhiêu có thể, với một cái nợ khổng lồ trước nhan Thiên Chúa, một món nợ chúng ta sẽ không bao giờ có thể bù đắp: Ngài vô cùng yêu thương chúng ta, hơn chúng ta kính mến Ngài. Vậy chúng ta cố gắng bao nhiêu có thể để sống theo các giáo huấn Kitô giáo, sẽ luôn có một cái gì đó trong đời sống của chúng ta cần được tha thứ: chúng ta hãy nghĩ đến những ngày sống lười biếng, đến những giây phút oán hận xâm chiếm cõi lòng của chúng ta, vân vân. Những cảm nghiệm này, rất tiếc không phải là hiếm, khiến chúng ta phải van xin rằng: "Xin Cha tha nợ chúng con". Vậy chúng ta hãy xin Thiên Chúa tha thứ.

Nếu chúng ta nghĩ một cách thích đáng thì lời cầu khẩn này cũng có thể chỉ giới hạn ở phần thứ nhất này thôi; đủ rồi. Thế nhưng, Chúa Giêsu liên kết nó với lời bày tỏ thứ hai là lời bày tỏ trở thành duy nhất với lời bày tỏ thứ nhất. Mối liên hệ ân tình theo hàng dọc về phần Thiên Chúa là mối liên hệ có tính cách khúc xạ, và chúng ta được kêu gọi để chuyển nó thành một mối liên hệ mới để chúng ta sống với anh chị em của chúng ta, một mối liên hệ theo hàng ngang. Vị Thiên Chúa nhân lành mời gọi chúng ta cùng nhau trở nên tốt lành. Hai phần của lời cầu khẩn này được liên hết với nhau một cách tiếp hợp nhẫn tâm làm sao ấy, ở chỗ, chúng ta xin Chúa tha nợ cho chúng ta, tội lỗi của chúng ta "như" chúng ta tha thứ cho bạn hữu của chúng ta, những con người sống với chúng ta, tha nhân của chúng ta, những con người gây ra cho chúng ta những điều tệ hại.

Hết mọi Kitô hữu đều biết rằng việc tha thứ tội lỗi có đó vì họ; tất cả chúng ta đều biết như thế: Thiên Chúa là Đấng tha thứ hết mọi sự và luôn luôn thứ tha. Khi Chúa Giêsu nói với các môn đệ về dung nhan của Thiên Chúa, Người đã tóm gọn nó bằng những lời diễn tả về lòng thương xót êm ái dịu dàng. Người nói rằng Thiên Đàng không còn gi vui bằng khi thấy một tội nhân thống hối, hơn là cả một đám đông kẻ công chính không cần ăn năn (xem Luca 15:7,10). Không có gì ở trong các cuốn Phúc Âm khiến con người ngờ vực rằng Thiên Chúa không thứ tha tội lỗi cho một con người sẵn lòng xin được tái gắn bó với Ngài.

Tuy nhiên, ân sủng của Thiên Chúa, thật là phong phú, bao giờ cũng là những gì thách đố. Con người nào đã nhận lãnh quá nhiều cũng cần phải biết trao ban nhiều như thế, chứ không được giữ lấy cho mình những gì đã lãnh nhận. Ai đã nhận lãnh nhiều thì cũng cần phải cho đi nhiều. Không phải là tình cờ mà Phúc Âm Thánh Mathêu, ngay sau khi thuật lại đoạn về Kinh "Lạy Cha", trong số 7 lời bày tỏ được kể đến, thì ngừng lại, để thực sự nhấn mạnh đến việc huynh đệ tha thứ cho nhau: "Vì nếu các con có biết tha nợ cho những ai phạm đến các con thì Cha trên trời của các con cũng sẽ tha thứ cho các con; bằng nếu các con không tha nợ cho họ thì Cha của các con cũng không tha nợ cho các con" (Mathêu 6:14-15). Thật là mãnh liệt! Tôi nghĩ rằng: đôi khi tôi đã nghe thấy người ta nói rằng: "Tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho con người đó! Tôi sẽ không bao giờ tha thứ những gì họ đã gây ra cho tôi!" Tuy nhiên, nếu anh chị em không tha thì Thiên Chúa cũng không tha cho anh chị em. Anh chị em đóng cửa lòng mình lại. Chúng ta hãy nghĩ xem chúng ta có thể tha thứ hay chúng ta không tha thứ. Khi tôi còn ở một giáo phận kia thì có một vị linh mục đã tỏ ra lo lắng nói với tôi rằng ngài đã đi ban các Phép Bí Tích cuối cùng cho một bà cao niên gần chết. Người đàn bà đáng thương này không nói được. Nên vị linh mục nói với bà rằng: "Này bà, bà có ăn năn thống hối tội lỗi của bà hay chăng?" Người đàn bà này thưa có; ngài không thể nghe bà xưng tội nhưng bà đã nói có. Thế là đủ. Sau đó ngài hỏi thêm: "Bà có tha thứ cho người khác không?". Người đàn bà gần chết đã nói "không". Vị linh mục này vẫn cảm thấy lo âu. Nếu anh chị em không tha thứ, thì Thiên Chúa sẽ không thứ tha cho anh chị em. Chúng ta hãy nghĩ mà xem, chúng ta là ai đây, nếu chúng ta tha thứ hay nếu chúng ta đang có thể thứ tha. "Thưa cha, con không thể làm điều đó, vì những người đó đã gây cho con quá nhiều đau khổ". Tuy nhiên, nếu anh chị em không thể làm điều này thì hãy xin Chúa ban cho anh chị em sức mạnh để làm như thế: Lạy Chúa, xin giúp con biết thứ tha. Chúng ta tái nhận thức ở đó mối liên kết giữa tình yêu Thiên Chúa với tình yêu tha nhân. Tình yêu kêu gọi tình yêu, tha thứ kêu gọi thứ tha. Chúng ta còn thấy nơi Phúc Âm Thánh Mathêu một lần nữa một dụ ngôn rất căng thẳng liên quan đến việc huynh đệ tha thứ cho nhau (xem 18:21-35). Chúng ta hãy lắng nghe dụ ngôn này.

Có một người đầy tớ mắc nợ vua một món nợ khổng lồ: 10 ngàn nén bạc! Một số tiền bất khả hoàn trả; tôi không biết ngày nay là bao nhiêu, có thể là hằng trăm triệu. Tuy nhiên, phép lạ đã xẩy ra, và người đầy tớ này đã nhận được - không phải là việc hoãn nợ mà là được tha cho toàn số nợ - một ân sủng không ngờ! Tuy nhiên, hãy xem cách thức người đầy tớ này thực sự đối xứ với người anh em của hắn ngay sau đó, người chỉ có nợ hắn 100 bạc - nhỏ nhoi - và mặc dù nhân vật này đã van xin hắn, hắn vẫn không chấp nhận những lời khất nợ hay khẩn nài của người ấy. Bởi thế, cuối cùng, chủ nhân của người đầy tớ ấy gọi hắn lại và lên án hắn. Vì, nếu anh chị em không có gắng tha thứ thì anh chị em cũng không được thứ tha; nếu anh chị em không nỗ lực yêu thương thì anh chị em cũng không được thương yêu.

Chúa Giêsu đưa vào các mối liên hệ của nhân loại cái quyền lực của sự tha thứ. Không phải là hết mọi sự trong đời sống đều được giải quyết bằng công lý. Không. Trên hết tất cả, nơi nào sự dữ cần phải bị ngăn chặn thì người ta cần phải yêu thương vượt lên trên cả những gì là nợ nần, để bắt đầu lại lịch sử của ân sủng. Sự dữ chỉ biết hận thù, và nó không bị gián đoạn; cái nguy cơ là ở chỗ nó làm đông cứng cái ngột ngạt toàn thế giới. Thay cho thứ luật trả đũa - những gì anh đã làm cho tôi thì tôi cũng làm cho anh. Chúa Giêsu đã thay thế bằng luật yêu thương: những gì Thiên Chúa đã làm cho tôi thì tôi cũng làm cho anh! Hôm nay chúng ta hãy nghĩ xem, trong tuần lễ Phục Sinh thân ái này, chúng ta có thể tha thứ hay chăng. Nếu chúng ta cảm thấy bất khả thì chúng ta phải xin Chúa ban cho chúng ta ơn biết thứ tha, vì nó là một ân sủng có khả năng tha thứ.

Thiên Chúa ban cho hết mọi Kitô hữu ơn viết lên một câu truyện về lòng thiện hảo nơi đời sống của anh chị em mình, nhất là những ai đã gây ra cho chúng ta một điều gì đó khó chịu hay sai lầm.

Bằng một lời nói, một cái ôm, một nụ cười, chúng ta có thể chuyển tới cho người khác những gì chúng ta đã lãnh nhận quí báu nhất. Chúng ta đã lãnh nhận điều quí báu đây là gì? Chính là ơn tha thứ, một ơn tha thứ chúng ta cần phải làm sao để cống hiến cho cả những người khác nữa.

https://zenit.org/articles/april-24-2019-general-audience-full-text/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu   

GẶP GỞ ĐỨC KITO -GIẢNG LỄ ĐÊM PHỤC SINH

  •  
    Tinh Cao
    Apr 21 at 2:26 PM
     
    image.png
    image.png
     
    image.png
     

    Những người phụ nữ mang dầu thơm đến mồ, nhưng họ sợ rằng hành trình của họ vô bổ, bởi tảng đá to chặn ở ngay cửa mồ. Cuộc hành trình này của những người phụ nữ ấy cũng là cuộc hành trình của chúng ta; nó giống như cuộc hành trình cứu độ chúng ta đã thực hiện buổi tối hôm nay.

    Có những lúc mọi sự xẩy ra dường như chạm đến một tảng đá, chẳng hạn như vẻ mỹ lệ của tạo vật trái ngược lại với thảm cảnh của tội lỗi; việc giải phóng cho khỏi tình trạng nô lệ phản nghịch lại với tính cách bất trung của giao ước; những lời hứa của các vị tiên tri ngược nghịch lại với thái độ lãnh đạm khôn xiết của dân chúng. Cũng thế ở nơi lịch sử của Giáo Hội cũng như nơi lịch sử bản thân của chúng ta. Những nỗ lực của chúng ta dường như không bao giờ đưa chúng ta tới được đích điểm. Chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng niềm hy vọng bị hổng lỗ của chúng ta là một thứ luật hoang trống của đời sống.

    Tuy nhiên, hôm nay chúng ta thấy rằng cuộc hành trình của chúng ta không phải là một cuộc hành trình vô bổ; nó không đụng chạm tới tảng đá chắn cửa mồ. Một câu nói làm cho người nữ bàng hoàng sửng sốt và làm biến đổi lịch sử đó là: “Tại sao các bà tìm kiếm người sống nơi kẻ chết?” (Luca 24:5). Tại sao anh chị em nghĩ rằng mọi sự chẳng còn hy vọng nào nữa, rằng không ai có thể loại đi tảng đá chắn cửa mồ của anh chị em? Tại sao anh chị em thoái lui và chào thua chứ? Phục Sinh là lễ của tảng đá chắn cửa mồ bị đẩy lui, những cục đá bị đẩy sang một bên. Thiên Chúa thậm chí có thể loại đi những tảng đả cứng nhất khiến các niềm hy vọng và niềm trông đợi của chúng ta bị tan vỡ: như sự chết, tội lỗi, nỗi sợ, thế tục. Lịch sử của nhân loại không kết thúc trước một tảng đá chắn cửa mồ, vì hôm nay đây nó gặp gỡ “tảng đá sống” (cf 1Phêrô 2:4) là Chúa Giêsu phục sinh. Chúng ta, như Giáo Hội, được xây dựng trên Người, và ngay cả lúc chúng ta cảm thấy chán chường và có khuynh hướng phán đoán tất cả mọi sự theo chiều hướng thua bại, Người đến dể làm cho tất cả mọi sự trở nên mới mẻ, để lật ngược hết mọi niềm thất vọng của chúng ta. Mỗi người chúng ta được kêu gọi, vào đêm nay đây, tái nhận thức vào Chúa Kitô Phục Sinh, Đấng đã đẩy tảng đá nặng nhất ra khỏi lòng của chúng ta. Bởi vậy trước hết chúng ta hãy tự vấn xem: Đâu là tảng đá tôi cần loại bỏ, tên của nó là gì?

    Cái thường ngăn chặn niềm hy vọng là tảng đá thất vọng. Một khi chúng ta bắt đầu nghĩ rằng hết mọi sự xẩy ra tồi tệ và không còn gì tệ hơn nữa là chúng ta đã tỏ ra chán nản và tin rằng sự chết mãnh liệt hơn sự sống. Chúng ta trở nên yếm thế, tiêu cực và ngã lòng. Đá chồng chất, chúng ta xây lên trong chúng ta một thứ bia kỷ niệm những gì là bất mãn của chúng ta: đó là Ngôi Mộ của niềm hy vọng / the sepulcher of hope. Đời sống trở thành một chuỗi dài đầy những than trách và tinh thần của chúng ta bị bệnh hoạn. Thay thế vào đó là một thứ tâm lý mồ mả (tomb psychology): hết mọi sự đều kết thúc ở đó, không còn niềm hy vọng nào tồn tại. Thế nhưng, vào lúc ấy, chúng ta vẫn còn nghe thấy một lần nữa câu vấn nạn của Lễ Sinh: Tại sao các bạn lại tìm kiếm người sống nơi kẻ chết? Chúa không còn được tìm thấy nơi những gì là thoái lui. Người đã sống lại: Người không còn ở đó nữa. Đừng tìm kiếm Người ở nơi anh chị em không bao giờ thấy Người: Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết mà là của kẻ sống (xem Marco 22:32). Anh chị em đừng chôn vùi đi niềm hy vọng!

    Có một tảng đá khác thường cha lấp tâm can khóa kín, đó là tảng đá tội lỗi. Tội lỗi là những gì quyến rũ; nó hứa hẹn những gì là dễ dàng và chóng vánh, những gì là thịnh vượng và thành công, thế nhưng sau đó chỉ lưu lại những gì là cô độc cùng chết chóc. Tội lỗi là những gì tìm kiếm sự sống nơi kẻ chết, vì ý nghĩa của đời sống chỉ ở nơi những gì qua đi. Tại sao các bạn lại tìm kiếm người sống nơi kẻ chết? Tại sao anh chị em không quyết tâm từ bỏ tội lỗi, giống như một tảng đá ở trước cửa lòng của anh chị em, những gì ngăn cản ánh sáng của Thiên Chúa khỏi lọt vào chứ? Tại sao anh chị em không yêu chuộng Chúa Giêsu là ánh sáng chân thật (xem Gioan 1:9) hơn là những tia nhấp nhánh của giầu sang phú quí, của nghề nghiệp, của kiêu hãnh và của khoái lạc chứ? Tại sao anh chị em không nói với những sự vật trên thế gian này rằng anh chị em không còn sống cho chúng nữa, mà là cho Chúa của sự sống?

    Chúng ta hãy trở lại với những người phụ nữ đi đến mồ của Chúa Giêsu. Họ bang hoàng khựng lại trước tảng đá đã bị lăn ra khỏi đó. Khi thấy các thiên thần thì, như Phúc Âm thuật lại, họ đứng đó “run sợ, và cúi đầu xuống đầt” (Luca 24:5). Họ không đủ can đảm để ngước đầu lên. Biết bao lần chúng ta cũng làm như thế? Chúng ta thích ở lại với những gì là hỗn độn trong các thứ thiếu sót của chúng ta, co cụm lại nơi những nỗi sợ hãi của chúng ta. Đó là những gì quái lạ, vậy mà tại sao chúng ta lại làm như thế? Không phải là không thường xuyên là vì, ủ rũ và khép mình lại, chúng ta mới cảm thấy làm chủ được mình, bởi ở một mình trong tối tăm nơi cõi lòng của mình thì thoải mái hơn mở lòng mình ra cho Chúa. Tuy nhiên, chỉ có Người mới có thể nâng chúng ta lên. Một thi sĩ đã từng viết rằng: “Chúng ta không bao giờ biết được chúng ta cao như thế nào. Cho đến khi chúng ta được kêu gọi chỗi dậy” (E. Dickinson). Chúa kêu gọi chúng ta chỗi dậy, chỗi dậy bằng lời của Người, để nhìn lên và để nhận thức rằng chúng ta được dựng nên cho trời cao, chứ không phải cho đất thấp, cho những đỉnh cao của sự sống, chứ không phải có hố thẳm của sự chết: Tại sao các bạn lại tìm kiếm người sống nơi kẻ chết?

    Thiên Chúa xin chúng ta hãy nhìn vào cuộc sống như chính Ngài nhìn nó, vì nơi từng người chúng ta Ngài không ngừng thấy cái cốt lõi mỹ lệ bất khả chế ngự. Nơi tội lỗi, Ngài thấy những người con nam nữ của mình cần phải được phục hồi; nơi sự chết, những người anh chị em cần phải đưoợc tái sinh; nơi cô độc, những tấm lòng cần phải được canh tân. Vậy thì đừng sợ: Chúa yêu sự sống của anh chị em, ngay cả khi anh chị em sợ nhìn vào nó và nắm lấy nó trong tay. Nơi Phục Sinh Ngài cho anh chị em thấy Ngài yêu thương sự sống đó biết bao: thậm chí cho đến độ sống nó một cách trọn vẹn, khi cảm nghiệm nỗi sầu thương, tình trạng bị bỏ rơi, sự chết và âm phủ, để có thể chiến thắng mà nói với anh chị em rằng: “Các con không lẻ loi cô độc một mình đâu; hãy tin tưởng vào Cha!” Chúa Giêsu là một chuyên gia biến sự chết thành sự sống, biến việc khóc thương của chúng ta thành mừng vui hớn hở (xem Thánh Vịnh 30:11). Với Người, chúng ta cũng có thể cảm nghiệm thấy một cuộc Vượt Qua (a Pasch – a Passover) - từ khuynh hướng qui ngã đến mối hiệp thông, từ nỗi cô độc đến niềm ủi an, từ sợ hãi đến tin tưởng. Chúng ta đừng cứ cúi gầm mặt xuống đất một cách sợ hãi, nhưng hãy hướng mắt của chúng ta về Chúa Giêsu phục sinh. Ánh mắt của Người làm cho chúng ta tràn đầy hy vọng, vì nó nói với chúng ta rằng chúng ta không ngừng được yêu thương và cho dù chúng ta có đủ mọi thứ bê bối, tình yêu thương của Người vẫn không hề đổi thay. Đó là niềm tin tưởng duy nhất bất khả thương thuyết chúng ta có được trong đời: tình yêu thương của Người không thay đổi. Chúng ta hãy tự vấn xem: Trong đời sống của mình, tôi đang tìn kiếm ở đâu đây? Tôi đang hướng mắt về bãi tha ma hay tìm kiếm Đấng Đang Sống?

    Tại sao các bạn lại tìm kiếm người sống nơi kẻ chết? Những người phụ nữ nghe thấy những lời này của các vị thiên thần, những vị còn nói: Hãy nhớ những gì Người đã nói với các bà khi Người còn ở Galilêa” (Luca 24:6). Những người đàn bà này đã đánh mất niềm hy vọng, vì họ không thể nhớ lại những lời của Chúa Giêsu, lời kêu gọi của Người xẩy ra ở Galilêa. Vì mất đi ký ức sống động về Chúa Giêsu nên họ mới cứ tìm kiếm ở nấm mồ. Đức tin bao giờ cũng cần trở lại Galilêa, để tái tấu tình yêu ban đầu của nó với Chúa Giêsu cũng như với ơn gọi của Người: hãy nhớ lại, hãy quay lại với Người bằng tất cả trí khôn của chúng ta và bằng tất cả tâm can của chúng ta. Việc trở lại với một tình yêu sống động của Chúa là những gì thiết yếu. Bằng không, đức tin của chúng ta chỉ là một “bảo tang viện”, chứ không phải là một đức tin Phục Sinh. Chúa Giêsu không phải là một nhân vật trong quá khứ; Người là một con người đang sống động hôm nay đây. Chúng ta không biết Người theo các sử sách; chúng ta gặp gỡ Người trong cuộc sống. Hôm nay, chúng ta hãy nhớ đến việc Chúa Giêsu đầu tiên đã kêu gọi chúng ta ra sao, Người đã không chế bóng tối tăm của chúng ta như thế nào, không chế việc kháng cự của chúng ta, tội lỗi của chúng ta, và Người đã chạm đến cõi lòng của chúng ta bằng tình yêu của Người ra sao.

    Những người phụ nữ, tưởng nhớ Chúa Giêsu, đã rời bỏ ngôi mộ. Lễ Phục Sinh dạy chúng ta rằng thành phần tín hữu đừng có lân la ở bãi tha ma, vì họ được kêu gọi tiến lên gặp gỡ Đấng Sống Động. Chúng ta hãy tự vấn xem: Tôi đang đi về đâu trong cuộc đời của mình đây? Đôi khi chúng ta chỉ đi theo hướng đầy giẫy các vấn đề của mình, và tiến đến với Chúa chỉ để được trợ giúp. Thế nhưng, sau đó, chính  nhu cầu riêng của mình, chứ không phải Chúa Giêsu, dẫn đường chỉ lối cho chúng ta. Chúng ta cứ tìm kiếm Đấng Sống Động nơi kẻ chết. Biết bao nhiêu lần, khi chúng ta đã gặp gỡ Chúa, chúng ta lại quay về với kẻ chết, càng đáng tiếc, đáng trách, đớn đau và khôn thỏa, không để cho Đấng Phục Sinh biến đổi chúng ta?

    Anh chị em thân mến: Chúng ta hãy lấy Đấng Sống Động làm trọng tâm của đời mình. Chúng ta hãy xin ơn đừng bị cuốn đi theo triều sóng, trong biển khơi những vấn đề của chúng ta; ơn đừng bị mắc cạn ở những chỗ nông cạn của tội lỗi hay bị dập nát ở những mảnh đá thất vọng và sợ hãi. Chúng ta hãy tìm kiếm Người nơi tất cả mọi sự và trên tất cả mọi sự. Với Người, chúng ta sẽ sống lại.

    https://zenit.org/articles/pope-francis-homily-at-easter-vigil-full-text/

    Đaminh Maria cao tấn tĩnh, BVL, chuyển dịch từ Thánh Địa CN Phục Sinh 21/4/2019

    --------------------------

     
     

     

    --
    You received this message because you are subscribed to the Google Groups "LTXC-TD5" group.
    To unsubscribe from this group and stop receiving emails from it, send an email to This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it..
    To post to this group, send email to This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it..
    To view this discussion on the web visit https://groups.google.com/d/msgid/ltxc-td5/CAKivYHpGqOCpj6RGhKQ%2Bu%3DkWH6TyaCtjDCNvCvPf1j0w9a30ew%40mail.gmail.com.
    For more options, visit https://groups.google.com/d/optout.