8. Đời Sống Tâm Linh

ĐỜI SÔNG`TÂM LINH -UỐN LƯỠI 7 LẦN

  •  
    Hung DaoOct 22 at 3:19 PM
     

    Bệnh từ miệng vào, họa từ miệng ra: Trước khi nói hãy uốn lưỡi 7 lần

    Nguồn gốc câu 'Bệnh từ miệng vào, họa từ miệng ra'
     

    Chắc hẳn ai cũng đã từng nghe câu: “Bệnh từ miệng vào, họa từ miệng ra”, nhưng nguồn gốc của câu nói nổi tiếng này thì lại là một ẩn đố đối với nhiều người.

    Câu nói “Bệnh từ miệng vào, họa từ miệng ra” bắt nguồn từ cuốn sách Thái bình ngự lãm  được biên soạn từ thời nhà Tống, Trung Hoa, câu nói này có nghĩa là bệnh tật là do ăn uống vô độ mà rước vào thân, còn tai họa là do lời nói vô ý mà tạo thành, đây cũng là châm ngôn sống để tu thân và tâm của cổ nhân.

    Thái bình ngự lãm được viết bởi 14 học giả thời nhà Tống, trong đó có Lý Mục, Từ Huyền. Nó được biên soạn trong bảy năm, bao gồm 1.000 tập và 55 phân môn, chuyên mục. Trong mục dành riêng cho cái miệng thuộc “Nhân sinh” trong Thái bình ngự lãm có viết:

    “Phúc khí đến sẽ có điềm báo trước, tai họa đến cũng có nguyên nhân. Đừng nuông chiều cảm xúc để làm những điều không phù hợp, cũng đừng để bản thân không để ý mà nói quá nhiều lời. Ổ kiến có thể làm cho cả bờ sông sụp đổ, dòng nước nhỏ có thể cuốn trôi cả ngọn núi. Bệnh tật là do ăn uống mà vào, còn họa là do lời nói mà ra”.

    Trong cuộc sống có thể nhìn thấy rất nhiều minh chứng cho việc họa từ miệng mà ra, nếu ai ai cũng có thể suy nghĩ trước khi nói, thì thế giới này sẽ ít đi rất nhiều tai họa.

    Trong cuốn “Thuật xử thế của người xưa” do nhà văn Nguyễn Duy Cần viết, có kể ví dụ về việc một lời nói khinh suất dù là đối với người đang yếu thế hơn mình, cũng sẽ tạo thành nguyên nhân dẫn tới cái họa của bản thân.

    Khi vua Philippe của Macédoine đem quân vây thành Méthone, có một cung thủ đại tài tên Aster xin được gia nhập vào đội quân tinh nhuệ của nhà vua. Người ấy khoe tài nghệ bắn cung rất giỏi, chim bay dầu lẹ đến mấy y cũng bắn trúng. Vua ghét người khoe mẽ nên phán rằng: “Được, để bao giờ ta đánh trận với chim sẻ, bấy giờ sẽ dùng đến tài ngươi”. 

    Aster nghe câu nói mỉa mai ấy lấy làm căm tức vô cùng, liền chạy thẳng vào thành bị vây chờ dịp trả thù. Một hôm Aster đứng trên bờ thành, thấy vua đi thị sát các trại quân đóng ngoài thành, liền lấy một cây tên, viết lên đó mấy chữ: “Gửi con mắt bên phải của vua Philippe”, rồi bắn xuống. Tên trúng giữa mắt phải của vua. Vua sai quân đưa mũi tên vào trong thành, trên đó viết: “Ta mà lấy được thành này, Aster sẽ bị xử trảm”. Sau này việc đúng như vậy. Có thể thấy, cả Aster và nhà vua Philippe đều chỉ vì khẩu khí mà chuốc họa vào thân, quả thật chính là họa từ miệng mà ra vậy.

    Có lẽ hiểu được cái lý này, nên Hoàng đế Khang Hy thường khuyên các con mình phải suy nghĩ kỹ trước khi nói.

    Trong cuốn Đình Huấn Cách Ngôn mà Hoàng đế Khang Hy để lại có ghi: “Hiện nay kẻ nhàn rỗi phẩm hạnh không đoan chính và hoạn quan quen thói trách mắng người khác, hơn nữa động một chút là thề độc. Nhưng lời thề độc cũng giống hệt như đang mắng người, đều là dùng miệng nói ra. Chúng ta thân ở địa vị trên cao, tuyệt đối không thể làm như vậy. Cho dù người bên cạnh có sai sót, việc nhỏ thì trách vấn, việc lớn thì dùng roi đánh phạt, tại sao phải nhục mạ người khác đến mức không chịu được? Những lời nhục mạ bẩn thỉu chà đạp người khác khi nói ra rất nhẹ nhàng, nhưng sẽ khiến cho phẩm hạnh của chúng ta tổn thất lớn. Các con nhất định phải nhớ rõ không được làm như vậy”.

    Lời khôn lời dại đều từ miệng bay ra, phúc họa trong đời chính là từ khẩu nghiệp

    Thuở xưa ở trong một cái hồ kia có một con rùa và hai con cò trắng thường lui tới làm bạn với nhau…

    Năm ấy trời đại hạn, suốt một năm trời ròng rã không có cơn mưa nào cả. Nước hồ cứ cạn dần dưới ánh nắng gay gắt của mặt trời. Cỏ lác trong hồ cũng vàng úa tàn tạ. Chút nước còn sót lại nơi đáy hồ thì nóng hầm hập như một chảo nước sôi, vì thế mà các loài thủy tộc chết lần chết hồi gần hết cả.

    Tình thế quá nguy nan, Rùa ta ngồi đứng không yên và trong đầu óc luôn luôn suy nghĩ một phương kế thoát thân khỏi cái địa ngục trần gian này. Đang bồn chồn lo lắng thì may thay lúc ấy hai vợ chồng nhà Cò Trắng đến chơi. Thấy bộ dáng thiểu não của chàng Rùa, hai vợ chồng Cò ân cần hỏi thăm:

    – Chắc có chuyện gì buồn chăng? Mà trông bác có dáng lo nghĩ thế?

    Rùa rầu rầu đáp:

    – Hai bác ơi, tôi đang gặp phải đại hoạn nạn, phen này chắc chết mà không còn được gặp mặt hai bác nữa.

    Cò Trắng chồng an ủi:

    – Chúng ta là bạn bè thân thiết với nhau, sung sướng cùng chia thì hoạn nạn cùng chịu. Vậy bác hãy cho chúng tôi biết nguyên nhân nào làm cho bác phiền muộn, may ra chúng tôi có thể giúp đỡ bác chăng?

    Rùa trả lời với một giọng lâm ly thống thiết:

    – Không biết hai bác hồi này làm ăn thế nào, chứ tôi đây hai hôm nay chưa hề được lót dạ đến một nửa con tép chứ đừng nói gì là tôm cá, vì chúng đã chết hết cả rồi! Mà nước thì cứ cạn dần thế này, có lẽ sớm muộn gì thì tôi cũng không thoát khỏi bàn tay độc ác của lũ trẻ chăn trâu. Cách đây ba năm tôi đã bị chúng bắt một lần, may nhờ một bà già mua tôi về và đem đến chùa phóng sinh nên Rùa tôi mới sống sót đến ngày hôm nay. Vì thế mỗi lần nghĩ đến tai nạn, chết chóc, là tôi lại rùng mình, sợ đến buốt cả óc!

    Trong lúc chàng Rùa đang vò đầu bứt tai than thở thì chị Cò vợ thương hại hỏi:

    – Sao bác không di chuyển đi ở một nơi khác xem sao?

    Rùa ta chạnh lòng đáp:

    – Hai bác biết đấy, xưa nay tôi chưa từng đi đâu xa, đường sá thì muôn trùng hiểm nguy mà sự đi lại của tôi lại quá chậm chạp, nên tôi nghĩ thà chết tại nơi chôn nhau cắt rốn này còn hơn. Ngẫm cho cùng, đời chúng ta ai chẳng có một lần phải chết.

    Bỗng chàng Cò chồng ngóng cổ nói lớn lên với một giọng đầy khảng khái và hy vọng:

    – Thôi bác khỏi lo! Cách đây mười dặm, có một hồ sen không khi nào cạn, mặc dù là lúc trời hạn hán. Chúng tôi sẽ đem bác đến đấy, trước là giải quyết sinh kế cho bác mà sau nữa là anh em ta được gần gũi nhau trong lúc tối lửa tắt đèn. 


    Bỗng chàng Cò chồng ngóng cổ nói lớn lên với một giọng đầy khảng khái và hy vọng. 

    Nhưng chàng rùa vẫn lo ngại nói với vẻ thất vọng:

    – Trời ơi! Mười dặm! Một dặm mà cả đời tôi đã chưa đi đến, huống nữa là mười dặm, thôi tôi đành chịu chết vậy!

    – Ðiều ấy bác cũng không nên lo, chàng cò tin tưởng nói. Chúng tôi đã có phương án; nhưng có điều hơi khó là bác cần phải bình tĩnh và can đảm.

    – Bác nói thử xem, chàng rùa vội vàng hỏi, khó thế nào tôi cũng cố gắng!

    Cò chồng chùng giọng xuống nói với vẻ mặt đầy nghiêm trọng:

    – Phương án là như thế này: Hai vợ chồng tôi sẽ tha một mẩu cành cây nhỏ mỗi người một đầu. Còn bác thì ngậm ở ngay đoạn giữa, chúng tôi sẽ tha bác đến cái hồ kia. Nhưng có một điều tối quan trọng, để không xảy ra nguy hiểm bác nên nhớ: trong lúc chúng tôi bay bác phải ngậm chặt vào khúc cây và không được nói năng hay hỏi han gì cả mặc dù có gặp phải tình huống thế nào đi chăng nữa. Chỉ cần bay trong vòng nửa giờ là chúng ta đến nơi. Bác nhớ nhé! Tôi dặn lại: Dầu gặp tình huống ra sao bác cũng phải ngậm miệng không nói, đó chính là vấn đề sinh tử.

    Rùa ta ra vẻ hiểu biết, nói:

    – Vâng tôi nhớ rồi, hai bác cứ yên tâm, tôi sống đến chừng này tuổi đời rồi, nay không còn hồ đồ nữa.

    Sau khi sửa soạn xong xuôi, hai vợ chồng Cò Trắng lại thiết tha căn dặn Rùa lần cuối cùng:

    – Ðó, bây giờ bác có muốn ho hen, đằng hắng hay nói gì thì nói đi. Chứ chốc nữa mà mở miệng thì nguy hiểm lắm đấy!

    Nói xong, cả ba làm theo kế hoạch, bốn cánh Cò vỗ gấp gáp, hai cặp chân Cò duỗi thẳng đạp mạnh lấy đà, rồi từ từ bay lên khỏi mặt đất.

    Rùa ta cắn chặt vào chính giữa mẩu cành cây, thấy mình được kéo lên cao dần, cao dần, rồi bay cao bay xa tít tắp… chẳng khác nào trong câu chuyện cổ tích vậy!

    Bay được một lát, mặc dù lần đầu tiên thấy những cảnh kỳ lạ hiện ra trước mắt: đây cánh đồng xanh rì gợn sóng như tấm lụa màu ngọc bích khổng lồ, kia con sông trắng phau nằm vòng vèo như con bạch xà uốn khúc, và cây cối, và nhà cửa v.v… bao nhiêu là cảnh đẹp mắt.

    Ðã bao lần chàng Rùa định mở miệng để hỏi cho thỏa tính tò mò, nhưng may thay mỗi lần định hỏi, Rùa ta lại sực nhớ đến lời dặn quan trọng của vợ chồng anh Cò Trắng tốt bụng. Nếu sự đời yên ổn thì nói làm chi, rủi thay, cuộc hành trình của vợ chồng Cò trắng và Rùa không qua khỏi cặp mắt tinh quái của lũ trẻ mục đồng!

    Một đứa trong đám trẻ chăn trâu phát hiện chuyện lạ trước tiên, nó lập tức la lớn:

    – Chúng bay ơi! Nhìn lên xem kìa! Hai con cò trắng tha một con rùa!

    – A ha! A ha! Vui quá! Bọn trẻ đồng thanh hét ầm lên. Vừa hét chúng vừa nghển mặt lên trời mà chạy theo cổ vũ. Có đứa bất cẩn vì mải ngóng tuồng vui mà giẫm cả vào phân trâu nữa.


    Cuộc hành trình của vợ chồng Cò trắng và Rùa không qua khỏi cặp mắt tinh quái của lũ trẻ mục đồng, một đứa trong đám trẻ chăn trâu phát hiện chuyện lạ trước tiên, nó lập tức la lớn. 

    Một thằng bé to đầu nhất trong bọn hét lớn:

    – A ha! Thật giống hai thằng què dắt một ông thầy bói mù. A ha! Thầy bói! Thầy bói! Thầy bói rùa bị cò bắt tha đi!

    – Cả bọn trẻ trâu lại hùa theo đồng thanh hét toáng: Rùa bay! Rùa bay! Rùa thầy bói! Rùa vô dụng!

    Không dằn được tức giận, Rùa ta bèn mở miệng, định bụng hét lớn:

    – Mặc kệ tao, mắc mớ gì đến chúng mày. Ðồ trẻ trâu!

    Nhưng than ôi! Rùa vừa mới mới mở miệng ra, còn chưa kịp hét tròn vành một từ: “Mặc…” thì cậu ta đã vùn vụt rơi xuống, đụng vào một tảng đá và chết tan thây.

    Lời bàn:

    Người xưa vẫn có câu: “Bệnh nhập tùng khẩu; Họa xuất tùng khẩu”, ý tứ là: Bệnh nhập vào thân là từ cái miệng; Hiểm họa xuất hiện cũng là từ cái miệng.

    Rùa kia vốn đã hồ đồ không biết giữ mồm giữ miệng lại thêm cái tật nóng nảy và cái tâm ưa tranh tranh đấu đấu với đời nữa thì đúng là: đại họa bên mình, thình lình khởi phát. Dù sao thì Rùa kia cũng đã chết rồi, nên thiết nghĩ không bàn thêm gì nữa.

    Đường Tân

     

ĐỜI SỐNG TÂM LINH - ĐỌC KINH MÂN CÔI

  •  
    Chi Tran

     
     
     
     

    Tôi có thể đọc kinh Mân Côi thế nào tốt hơn?


    •  
     
    •  
     
    John Paul n RosaryHow can I pray the rosary better?
     
    Câu hỏi đầy đủ:
     
    Mỗi khi đọc Kinh Mân Côi, tôi không thể tập trung vào các mầu nhiệm được khi tôi đang đọc “Kính mừng Maria,…” vì vậy tôi đã dừng lại và suy gẫm về mầu nhiệm. Nếu tôi cố gắng làm cả hai (vừa đọc vừa suy gẫm), tôi cảm thấy thật khó khăn. Tôi phân vân liệu làm như vậy có sai không. Bạn có gợi ý nào giúp tôi không?
     
    (When I pray the rosary, I can’t concentrate on the mysteries when I am saying the Hail Marys, so instead I pause and think of the mystery. If I try to do both at the same time, I find it difficult. I wonder if I am doing it wrong. Any suggestions you have that could help me?)
     
    Câu trả lời:
     
    Trước nhất, không phải lúc nào cũng bị phân tâm khi cầu nguyện. Khi điều này xảy ra, ta có thể thử một số điều. Ví dụ: cầu nguyện trong một khoảng thời gian ngắn hơn nhưng cố gắng tập trung hơn khi bạn cầu nguyện. Điều này có nghĩa là thay vì bạn đọc suốt toàn bộ chuỗi Mân Côi, bạn chia nhỏ theo các mầu nhiệm và sẽ có ít sự phân tâm hơn trong khi cầu nguyện. Sau đó, dần dần, kéo dài thời gian. Hãy chắc chắn dành ra một thời gian và địa điểm đặc biệt để cầu nguyện.
     
    Thứ đến, không phải là sai khi dành một khoảng thời gian suy gẫm các mầu nhiệm Mân Côi. Trên thực tế, điều này dường như được coi như hình thức bình thường theo lời mời gọi của Đức Thánh Cha Phao-lô VI về Mầu nhiệm Mân Côi. Qua quan sát, Đức Thánh Cha đã ghi nhận nhiều cách đọc Kinh Mân Côi của mỗi người. Họ có những cách suy niệm chuỗi Mân Côi khác nhau, nhờ đó tạo ra sự phong phú và đa dạng của việc đọc Kinh Mân Côi. Như vậy, việc suy niệm Kinh Mân Côi sẽ rất nghiêm túc và thánh thiện, vì trong đó có Lời Kinh của Chúa (kinh Lạy Cha), các lời ca khen Đức Trinh Nữ Maria, và Kinh Sáng Danh. Đức Thánh Cha mô tả việc đọc Kinh Mân Côi có thái độ “chiêm niệm” về những mầu nhiệm Mân Côi.
     
    Giuse Đỗ QC chuyển ngữ

    Nguồn tin: Catholicsay.com

     
     

DỜI SỐNG TÂM LINH - SỐNG TĨNH LẶNG

  •  
    Hung Dao
    Oct 11 at 5:12 PM
     
     
     
    Subject: Re :VAN HOA :Giữ được nội tâm tĩnh lặng chính là cảnh giới của bản lĩnh, trí tuệ và cao thượng
     

    Giữ được nội tâm tĩnh lặng chính là cảnh giới của bản lĩnh, trí tuệ và cao thượng

    image.png
     
     

    Trong cuộc sống ta thường bắt gặp một số người chỉ gặp chút việc là nổi trận lôi đình hoặc buông lời nhục mạ. Nhưng cũng có một số người lại dùng tâm thái hết sức bình tĩnh để xử lý vấn đề, không sợ hãi trước vinh nhục. Đó là bởi tâm họ “tĩnh như nước”.

    Bình tĩnh không phải là sự nhàm chán, không phải là trống rỗng, không phải sự cứng nhắc, mà là sự trật tự, rành mạch, phong phú trong nội tâm. Là một sự tự kiềm chế bản thân không để tâm việc được mất, tốt xấu từ thế giới bên ngoài làm ảnh hưởng tới cách sống của bản thân. Bản lĩnh bình tĩnh không chỉ là sự trầm tĩnh lặng lẽ, mà là một loại thần thái, là một loại trí tuệ và cao thượng.

    Câu chuyện về nhà thư pháp gia nổi tiếng

    Có một nhà thư pháp gia nổi tiếng sau khi hoàn thành tác phẩm của mình liền đưa cho một người đồng nghiệp trong ngành xem. Người đồng nghiệp quan sát một hồi liền chỉ vào hai hàng chữ viết ngay ngắn thẳng hàng khen: “Này, xem những chữ này đi, vừa nhìn là biết được cậu viết khi tâm trạng rất bình tĩnh, nhìn xem, bắt đầu từ chữ này, là tâm cậu đang bị hỗn loạn!”.

    Cuối cùng, cậu ta nói một cách ẩn ý: “Nghĩ gì vậy? Khi tâm không tĩnh, nét bút sẽ không có lực, không có thần khí! Luyện viết thư pháp cũng giống như là đang rèn luyện nội tâm vậy”.

    Nghe xong, nhà thư pháp gia thầm sửng sốt. Đúng là sáng nay anh và vợ có chút mâu thuẫn nên lòng dạ không yên, vì vậy mà chữ viết có sự thay đổi lớn như vậy, hình dáng lộn xộn, chứ không thể quy củ như lúc đầu. Nhìn lại từng từ từng chữ ở phía trên được viết hôm qua, càng nhìn càng thấy thích, từng đường nét, từng chữ được viết lên một cách cứng cáp đẹp đẽ.

    Rõ ràng là sự bình tĩnh, sáng tỏ hội tụ ở ngòi bút, cái tĩnh đó viết ra như đang khắc họa từng nhịp đập tích tắc tích tắc của trái tim, từ ngòi bút chan chứa mà xuất ra, vì vậy “luyện thư pháp lâu ngày, điều luyện được là sự tĩnh lặng như nước chảy ở chỗ sâu của tâm hồn”.


    Nhìn cách viết chữ có thể đoán biết trong tâm người viết đang nghĩ gì, tâm có động ắt chữ cũng động theo.

    Bình tĩnh là một loại bản lĩnh

    Có câu nói “Muốn làm việc lớn cần phải có tĩnh khí”. Các bậc thánh nhân, càng gặp phải những việc lớn kinh thiên động địa, việc nguy hiểm thì càng có thể tĩnh tâm như nước, không hề sợ hãi.

    Trận chiến Phì Thủy (Phì thủy chi chiến) lừng danh trong lịch sử, quân Đông Tấn chưa đến 10 vạn binh sĩ phải chống cự lại 100 vạn binh sĩ dũng mãnh của quân Tiền Tần, tình thế không thể nói là không nguy kịch. Nhưng lúc này, tại sở chỉ huy hậu phương, chủ soái Tạ An vẫn đang chơi cờ vây mà không một chút hoang mang.

    Đợi đến lúc quân tiền tuyến báo về, ông chỉ nhìn thoáng qua rồi lại tiếp tục chơi cờ. Người bên cạnh thực sự đã không thể nhịn được nữa, liền hỏi ông tình hình chiến sự ra sao, lúc này Tạ An mới nhẹ nhàng nói: “Bọn trẻ chúng đã đánh bại quân địch rồi”.

    Có một số người khi gặp việc lớn lại rất hoảng sợ, đó là vì họ không đủ tự tin, cũng chính là không có năng lực và bản lĩnh kiểm soát đại sự. Tục ngữ có câu “Thủ trung hữu lương, tâm trung bất hoảng” (trong tay có lương thực rồi thì trong tâm không phải lo lắng).

    Bình tĩnh ức chế lửa sân hận là một cảnh giới cao thượng trí tuệ

    Có câu nói “Cơn nóng giận giống như đốm lửa trong tay, khi chưa kịp ném sang người khác nó đã đốt cháy tay chính mình” hay “Không nên làm gì khi bạn nóng giận vì khi nóng giận mọi việc bạn làm đều không lý trí”.

    Vì vậy người có nội tâm tĩnh lặng sẽ không để ngọn lửa sân hận thiêu đốt chính mình và cũng không làm những việc khờ dại khi bất bình bởi tâm họ “tĩnh như nước”.

    Mỗi một người đều có cảm xúc, nếu như khi gặp phải những chuyện không thuận tâm liền buông lơi cảm xúc, chỉ sẽ khiến cho vấn đề càng trở nên rối rắm phức tạp. Tâm trạng rối bời cũng giống như chiếc xe đang lao nhanh xuống dốc, nếu không biết đạp thắng cho xe dừng lại ngay lúc đó, chiếc xe có thể sẽ lao xuống khe núi, xe hỏng người chết cũng là điều khó tránh khỏi.

    Làm thế nào để có thể giữ được tâm thái tĩnh lặng trước mọi việc?

    Tĩnh khí” của một người đến từ đâu? Nó không phải là sinh ra đã có, nó cũng không phải từ trên trời rơi xuống, nó đòi hỏi phải không ngừng rèn luyện và tích lũy mà thành.

    Sách vở chính là món ăn tinh thần, thông qua đọc sách, chúng ta có thể hấp thụ kiến thức của những người đi trước, tăng trưởng năng lực, vượt qua sợ hãi. Vì vậy, càng là người học rộng thì tầm nhìn của họ càng khoáng đạt và đầu óc càng thanh tỉnh.

    Còn muốn thiện dưỡng chính khí, Gia Cát Lượng đã viết trong “Giới tử thư” (Thư dạy con): “Làm theo đạo của người quân tử, tu thân thanh tịnh, cần kiệm để dưỡng đức, đạm bạc để nuôi dưỡng chí, tĩnh lặng để nghĩ xa”.

    Tĩnh khí cần dựa vào sự hỗ trợ của chính khí, chỉ có chính khí trong thân mới có thể không màng danh lợi, không tham muốn, mới có thể không bị vướng mắc phiền toái và làm được “không quan tâm thiệt hơn”.

    Vậy người thế nào mới có thể tĩnh tâm được? Người như thế nào mới có thể nhẫn nhịn không tranh biện?

    Có một vị thiền sư từng nói: “Một người muốn tâm tĩnh như nước thì điểm mấu chốt là có thể bỏ qua được những phiền não về danh lợi, vứt bỏ được những quấy nhiễu về tình sắc. Cho  nên muốn làm được điều đó thì phải buông bỏ”.

    Bởi một người thường thì khi bị suy sụp sẽ cảm thấy thất vọng, bị thương tổn sẽ thấy thống khổ, bị phỉ báng sẽ cảm thấy ủy khuất. Còn khi bị hấp dẫn cám dỗ sẽ cảm thấy lưỡng lự, khi bị phản bội sẽ cảm thấy căm phẫn, khi đứng trước khảo nghiệm sinh tử sẽ sợ hãi vô cùng.

    Kỳ thực những người như vậy là do định lực không cao và là kết quả của sự tu dưỡng chưa đủ. Người thật sự hiểu được ý nghĩa của sinh mênh, nhân quả luân hồi sẽ không vì những “vật ngoại thân” làm khó khăn, phiền não, tức giận.

    Một người có thể tu dưỡng đến mức “tâm tĩnh như nước” thì tâm linh đã đạt tới cảnh giới thuần tịnh. Khi một người có tâm tĩnh như mặt hồ phẳng lặng thì tâm người ấy sẽ nở ra những đóa hoa sen từ bi thuần khiết phủ lên vạn vật trong vũ trụ.

    Tuy chúng ta là người thường chưa thể lập tức đạt tới cảnh giới cao thượng ấy. Nhưng khi ta có thể bớt đi một chút nóng nảy không buông lời nhục mạ khi gặp chuyện bất bình dù trong tâm còn sân hận, lạc quan một chút dù trong tâm vẫn còn lo lắng khi gặp chuyện bất an… thì dần qua thời gian lâu ta cũng đạt được trạng thái tu dưỡng của sự “tĩnh lặng” vậy.

    Nhã Thanh

     
     

ĐỜI SỐNG TÂM LINH - VIẾT CHO THẦN LO ÂU

  •  
    Chi Tran
    Oct 9 at 2:59 PM
     
     
     

    VIẾT CHO THẦN ÂU LO

     

    Bài viết dưới đây được khai triển trong ánh sáng của:

     Tông Huấn “Chúa Kitô sống” số 142-143

     

    Thần lo âu thường xuất hiện trong những lúc ta cảm thấy không an toàn. Những dự tính vừa đưa ra, thần lo âu liền xuất hiện. Chỉ ai đủ can đảm mới dám “say good bye” với thần.

     

     

    Thần thân mến,

    Lo âu, khắc khoải là thân phận của con người. Các triết gia cũng viết nhiều về thần[1]. Vì không chắc chắn ở tương lai, vì kinh nghiệm thất bại ê chề, v.v. nên con người thường lo lắng đến sầu buồn. Ai trong chúng tôi cũng từng trải nghiệm lo âu đến quên ăn, mất ngủ. Thực tế, có nhiều người lo lắng đến nỗi không dám làm gì! Lúc ấy, thần hả hê trong chiến thắng, vì đã quyến rũ được người ta chết dần chết mòn trong lo âu thái quá.

     

    Trong tâm lý, lo lắng có thể phần nào giúp người ta phải đề phòng những bất trắc xảy ra. Tôi lo lắng về bài thi sắp tới, nên tôi cố gắng học để được kết quả tốt. Tiếc là thần lo âu đến quá nhiều, chất đầy trong người ta những vật cản đến nỗi khiến họ băn khoăn, hoảng sợ và chẳng dám làm gì. Đó là sở trường và là mục đích của thần lo âu. Trước tình cảnh đó, người ta thường khuyến khích nhau: “Don’t worry! Đừng lo!”

     

    Tuổi trẻ luôn đong đầy những ước mơ. Họ thực sự muốn làm điều gì đó thật tốt lành cho chính họ, gia đình và xã hội. Trên con đường ấy, có người thành công, có người thất bại. Thành công chỉ dành cho những ai kiên trì trên con đường thực hiện ước mơ. Ngược lại, thất bại sẽ đến với những ai run rẩy, lo âu và sầu não. Đó là cám dỗ người trẻ thường phải đương đầu. Đơn giản, người trẻ muốn thấy kết quả tức thì, phải nhanh chóng thực hiện điều mình muốn. Điều ấy lại thường ngược lại. Do đó, họ lo lắng không biết mình có làm được không, có thành công không? Họ quên mất mọi ước mơ chỉ đạt được bằng hy vọng, kiên nhẫn, quyết tâm và không vội vàng.  

     

    Thực tế, thần lo âu thường xuất hiện trong những lúc ta cảm thấy không an toàn. Những dự tính vừa đưa ra, thần lo âu liền xuất hiện. Chỉ ai đủ can đảm mới dám “say good bye” với thần. Bởi hễ thần xuất hiện là, y như rằng, người ta sẽ mất đi niềm bình an, hạnh phúc để bước tiếp. Trong khi đó, những người thành công chỉ ra rằng: không thể ngừng lại vì thiếu an toàn, chúng ta không được sợ rủi ro hoặc sai lầm. Tuổi trẻ là thời gian được quyền sai lầm[2] và phải được làm lại. Những ai không làm được điều này, có lẽ vì thần lo âu đã chiếm trọn tâm trí họ.Vì lo âu, họ sống tê liệt như kẻ không hồn, thu mình lại trong vỏ bọc an toàn giả tạo mà không dám mạo hiểm. Lo âu và sợ sai lầm cứ bám thấy họ, phải không thần?

     

    Là người Công giáo, dĩ nhiên lo âu không thể là thái độ sống tốt lành. Thầy Giêsu nhắc chúng ta biết bao lần: “Vậy anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.” (Mt 6,34). Vả lại, đi theo và tin tưởng vào Thiên Chúa, người ta không thể lo âu phiền não. Thiên Chúa là tình yêu và là niềm vui. Chỉ khi nào ở gần bên Chúa, người ta mới thấy rõ chân tướng của thần lo âu, một kẻ đáng tránh xa. Tắt một lời: “Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng nơi Người, Người sẽ ra tay.” (Tv 37,5).

     

    Tiếc là trong xã hội hiện đại, thần lo âu luôn hoành hành. Lo âu có mặt ở mọi nơi, khiến người ta ngục ngã, có khi đưa người ta đến cái chết. Bởi, thần lo âu sẽ luôn đánh cắp mọi hy vọng, năng lượng và ước mơ của con người. Nhất là người trẻ, thần lo âu hay xuất hiện, khiến họ không dám lên đường, đứng lên và bắt đầu lại.

     

    Bạn thấy ai lo âu, sầu muộn đến nỗi chẳng dám làm gì chưa? Thực tế, xã hội không thiếu người như thế. Họ chỉ co ro vào những chỗ an toàn giả tạo. Trước hiện trạng ấy, Giáo Hội chỉ ra cho người trẻ những cách thoát ra:

     

    “Hỡi những người trẻ, đừng bỏ mất những năm tốt nhất của tuổi trẻ, đừng ngắm nhìn cuộc sống từ ban công. Đừng lầm lẫn hạnh phúc với một chiếc ghế bành và đừng sống cả cuộc đời trước màn ảnh. Đừng trở nên cảnh tượng đau lòng của một chiếc xe phế thải. Đừng trở thành những chiếc xe đang đậu; thay vào đó, hãy để cho những giấc mơ nở hoa và hãy có những quyết định tốt. Hãy mạo hiểm, ngay cả khi các con thất bại. Đừng sống sót với tâm hồn tê mê và đừng nhìn thế giới như thể các con là du khách.” (Tông huấn Đức Kitô sống, số 143).

     

    Ước gì tuổi trẻ sống tròn đầy với lứa tuổi của ước mơ và lòng can đảm. Họ dám nhận trách nhiệm và cam kết với những dự tính tốt lành. Họ không muốn kết bạn với thần lo âu. Họ biết có quá nhiều nguy hiểm nếu đi theo thần ấy. Họ hiểu được: nếu để thần lo âu chiếm ngự, họ sẽ cảm thấy bực mình, bồn chồn, và căng thẳng (stress). Là người trẻ công giáo, họ có Thầy Giêsu là Đấng hiền lành và khiêm nhường, là nguồn hạnh phúc để họ thực hiện những ước mơ.

     

    Chia tay thần lo âu, chúng tôi muốn thiết tha cầu nguyện với Thiên Chúa:

     

    Lạy Chúa Giêsu, sau khi phục sinh, lời đầu tiên Chúa nói với các môn đệ: “Bình an cho các con!”(Ga 20,19). Lời đó xua tan mọi lo âu, buồn phiền và sợ hãi của các môn đệ. Nhờ đó, họ, có nhiều người chạc tuổi như chúng con, dám lên đường loan báo Tin Mừng. Họ thực hiện những điều vĩ đại với nhiều thành công. Xin ở lại với chúng con. Nhất là, khi thần lo âu xuất hiện, xin Chúa mau đến để chúng con được bình an. Được như thế, chúng con hy vọng viết tiếp trang sử đời mình với nhiều can đảm. Amen.  

     

    Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

     

     

    [1] – Thánh Augustinô viết: lòng chúng con khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Chúa.

    – Theo lối giải thích của Kierkegaard, cái lo âu sợ hãi là kinh nghiệm cơ bản của con người khi đối diện với cái tuyệt đối.

    – Heidegger mô tả hữu thể (Da-sein) luôn bị ảnh hưởng bởi sợ hãi, lo âu, chết chóc, hữu hạn, hy vọng….

    – Pascal cũng được biết với câu nói nổi tiếng: “Con người là cây sậy biết suy tư”. Tính hiện sinh của ông được thể hiện qua việc ông nhìn con người như một hữu thể luôn thao thức suy tư khi đứng giữa hai thế giới vĩ mô và vi mô. Khi đó, con người như cây sậy mỏng manh trước gió với nhiều lo âu khắc khoải.

    [2] Albert Einstein có lần nói rằng: “Kẻ nào chưa từng mắc lỗi lầm, cũng là kẻ chưa bao giờ thử làm việc gì cả!”