6. Văn Hóa & Gia Đình

VĂN HÓA VÀ GIA ĐÌNH -

  •  
    Hung Dao
    Sat, Aug 28 at 7:24 PM
     
     

    2 cảnh giới trong đời: Làm việc cần tỉnh táo, làm người cần hồ đồ

    Tâm Kính 
     
     

    Có người nói: “Trong cuộc sống, lúc bận rộn, cần sự tỉnh táo để làm việc. Khi nhàn rỗi, cần sự hồ đồ để làm người”. Hồ đồ không phải là kém cỏi, ngu dốt, không biết phân biệt đúng sai, mà đó chính là phong thái, sự tu dưỡng của bậc trí huệ..

    Hồ đồ: Khù khờ hay trí tuệ?

    Có câu chuyện kể rằng: Có hai người bị rơi xuống nước, một người có thị lực rất tốt, còn một người bị cận thị. Hai người đang cố vùng vẫy trên mặt sông rộng lớn và nhanh chóng kiệt sức.

    Bỗng nhiên, người thị lực tốt nhìn thấy phía trước có một chiếc thuyền nhỏ, cách họ không xa lắm và đang trôi dạt về phía họ. Người cận thị cũng lờ mờ nhìn thấy. Cả hai tập trung hết sức lực bơi về phía chiếc thuyền đó.

    Đang bơi, đang bơi, người thị lực tốt đột ngột dừng lại bởi vì anh ta đã nhìn thấy rõ đó không phải là chiếc thuyền mà là một mảnh gỗ mục nát. Trong khi đó, người cận thị vẫn tin rằng đó là chiếc thuyền nên dốc hết sức bơi. Khi bơi đến và phát hiện ra đó chỉ là một mảnh gỗ mục thì anh ta đã ở cách bờ không còn bao xa. Kết cục, người thị lực tốt bị đuối nước mà mất mạng, còn người cận thị được thoát chết.

    Có rất nhiều sự việc, không biết, không tinh nhanh, không thông minh lại hóa ra tốt hơn.

    Hồ đồ, dưới cái nhìn của Khổng Tử là “Trung dung”, dưới cái nhìn của Lão Tử là “Vô vi” và dưới cái nhìn của Trang Tử là “Tiêu dao” .

    Cần hiểu rằng “hồ đồ” là cảnh giới của bậc trí huệ, cần có sự tu dưỡng thân tâm mới ngộ và minh bạch được hàm ý của “hồ đồ”. Đó là một cảnh giới mà trong tâm hiểu rất rõ ràng minh bạch, nhưng biểu hiện bên ngoài lại giống như lơ mơ hồ đồ.

    Một học giả nói: “Nếu không bởi vì nguyên do khác, con người thuận theo lẽ tự nhiên thì ắt sống trăm tuổi”. Đó cũng chính là hàm ý sâu xa của “hồ đồ”.

    Trên thực tế, đời người vốn rất hồ đồ. Niềm vui và hạnh phúc được ẩn giấu trong sự hồ đồ đó.

    Một khi quá thanh tỉnh thì tất cả những niềm vui và hạnh phúc cũng sẽ tan theo mây khói.

    Trên thực tế, đời người vốn rất hồ đồ. Niềm vui và hạnh phúc cũng được ẩn giấu trong sự hồ đồ đó 

    “Khó có hồ đồ” và “Chịu thiệt là phúc”

    Trịnh Bản Kiều là danh sỹ thời vua Càn Long đời nhà Thanh, ông cả đời thanh liêm, lo cho nước, cho dân, không màng đến công danh, bổng lộc. Ông được mệnh danh là “Tam tuyệt”: tài năng tuyệt thế về thơ, họa, và thư pháp. Ông đã viết rất nhiều bức hoành phi, trong đó có hai bức nổi tiếng nhất là: “Khó có hồ đồ” và “Chịu thiệt là phúc”.

    Có câu chuyện truyền lại về nguồn gốc của hai bức hoành phi trên như sau:

    Trịnh Bản Kiều khi còn làm quan tri huyện ở huyện Duy, người em họ của ông gửi đến cho ông một lá thư nói rằng anh ta và người hàng xóm đang tranh chấp bức tường chung của ngôi nhà tổ, sự việc đã lên đến nha môn huyện Hưng Hóa. Người em họ hy vọng Trịnh Bản Kiều có thể gửi một bức thư cho tri huyện Hưng Hóa, nói giúp cho anh ta được thắng kiện.

    Trịnh Bản Kiều sau khi xem xong lá thư, lập tức viết ngay một bài thơ hồi đáp:

     

    Viết thư ngàn dặm bởi tường cao,
    Nhường ba thước đất hại gì sao?
    Vạn Lý Trường Thành nay còn đó,
    Thủy Hoàng năm ấy giờ nơi nao?

     

    Nội dung bức thư nói lên tấm lòng rộng lượng, tâm tính lạc quan, thái độ rõ ràng, dứt khoát của Trịnh Bản Kiều.

    Và cũng xuất phát từ câu chuyện này, ông có cảm hứng viết liền hai bức hoành phi: “Khó có hồ đồ” và “Chịu thiệt là phúc”.

    Ở dưới dòng chữ “Khó có hồ đồ” ông viết thêm chú thích:

    “Thông minh khó, hồ đồ khó, từ thông minh chuyển sang hồ đồ càng khó, bỏ một chiêu, lùi một bước, lập tức tâm an, chẳng phải để được phúc báo về sau”.

    Dưới dòng chữ “Chịu thiệt là phúc” ông cũng viết chú thích:

    “Đầy là lúc hao tổn, thiệt thì dần dần đầy, mình hao tổn mà người khác được đầy thì ai cũng được một nửa tâm tình, lại được tâm an định bình hòa, mà cái phúc yên ổn lập tức ở trong đó rồi”.

    Nội dung trên không chỉ lý giải cho hai bức hoành phi của Trịnh Bản Kiều mà còn khái quát được việc tu tâm dưỡng tính và triết lý sống của ông.

    Có thể chịu thiệt là một cảnh giới cao thượng, là trí tuệ của người có tầm nhìn xa rộng. Để cuộc sống luôn suôn sẻ, tự tại, thoải mái, chúng ta nên đơn giản hơn một chút, hồ đồ hơn một chút, ít tính toán hơn một chút và không quan tâm đến những chuyện nhỏ nhặt. Vậy nên, trong dân gian thường có câu nói rằng: “Ở hiền gặp lành”, “Thánh nhân đãi kẻ khù khờ”, “Xởi lởi trời cho”…

    Để cuộc sống luôn suôn sẻ, tự tại, thoải mái, chúng ta nên đơn giản hơn một chút, hồ đồ hơn một chút, mãi luôn tranh giành sẽ chẳng có được sự bình an 

    Đời người chẳng quá trăm năm, việc chi lo nghĩ nhọc nhằn thiên thu?

    Gần đây trên mạng xã hội có câu chuyện về một cậu thanh niên trên đường đi giao hàng thức ăn nhanh đã đụng phải một người đàn ông đi xe máy. Tuy cả hai không sao nhưng số hàng cần vận chuyển ngày hôm đó đã đổ vỡ và không thể giao được nữa. Mọi công sức làm việc vất vả của ngày hôm đó đã không còn gì. Tuy nhiên, thái độ cư xử của hai người sau vụ va chạm đã khiến nhiều người rất ngạc nhiên. Hai người không tiếp tục vội vã đi nữa mà ngồi xuống uống rượu cùng nhau, không có chuyện gì lớn, cạn chén rồi nói, cạn chén rồi giải quyết vấn đề va chạm sau.

    Đời người với biết bao khó khăn liên tiếp phải đối diện, ai mà chẳng từng gục ngã thảm hại, cùng lắm là ngã ở đâu thì nằm ở đó một lúc, rồi lại bò dậy đi tiếp. Nếu nói cuộc đời đã dạy cho tôi điều gì thì đó chính là hãy vui vẻ đón nhận mọi thất bại xảy đến.

    Khi khó khăn gian khổ nhất, thay vì tính toán được mất, hãy sống một cách hồ đồ, không tranh giành lợi ích, không tính toán thiệt hơn để tâm hồn luôn thanh thản, an vui.

    Hồ đồ không phải là kém cỏi, ngu dốt, không biết phân biệt đúng sai, mà đó chính là phong thái, sự tu dưỡng của bậc trí huệ. Tâm tĩnh không rối bận, nhìn đấy, nghe đấy mà chẳng để tâm.

    Trong cuộc sống, không nên nhìn nhận và đánh giá sự việc bởi những cung bậc cảm xúc đang bị phủ đầy những lớp bụi thành kiến và quan niệm cá nhân. Càng nhìn vào người khác, càng thấy lỗi lầm và vấn đề của họ, càng cảm thấy khó chịu với họ. Chi bằng hãy nhìn vào bản thân, tìm và tu sửa những khiếm khuyết của chính mình. Được như vậy, chúng ta sẽ dễ dàng thông cảm và bỏ qua những thiếu sót của người khác.

    Với người và sự vật, không cần quá nghiêm nghị, nhiều lúc chúng ta cần sống hồ đồ một chút, sống tự tại một chút, sống thoải mái một chút. Cứ nhắm một mắt mở một mắt mà sống, đó cũng chính là bỏ qua lầm lỗi cho mình và cũng bỏ qua lầm lỗi cho người. Thử xem những người quá coi trọng so đo tính toán thiệt hơn, phần nhiều đều sống không hạnh phúc.

    Với bạn bè, hồ đồ một chút, chẳng so đo tính toán cho đi thì mới nhận được. Với đồng nghiệp, hồ đồ một chút, sẽ có được sự tin tưởng. Với vợ chồng, hồ đồ một chút, để họ có được tự do cá nhân và bản thân cũng sẽ có không gian riêng. Với mọi sự việc, hồ đồ một chút, sẽ được thuận lợi, xuôi chèo mát mái.

    Với tiền bạc và lợi ích, hồ đồ một chút, không tổn hại đến hòa khí. Với danh vọng địa vị, hồ đồ một chút, không lao tổn trí óc. Với các tin đồn, hồ đồ một chút, chẳng mệt tai nhọc thân.

     

    Đời người không quá trăm năm,
    Việc chi lo nghĩ nhọc nhằn thiên thu?

     

    Hãy để quãng đời còn lại trôi qua với một chút hồ đồ, vui vẻ, hạnh phúc với những gì mình đang có.

    Tâm Kính

     

    --

VĂN HÓA VÀ GIA ĐÌNH - ĐÔI ĐŨA

  •  
    Kim Vu
    Sat, Aug 28 at 3:52 PM
     

     

    Đôi đũa

    .

     

    *

     

    Đôi đũa xuất phát từ dân tộc nào?  

     

    Nhiều người nói là từ người Tàu. Tuy nhiên nhìn và tra cứu kỹ văn minh Tàu, thấy người Huê-Hạ xưa là dân du mục, ẩm thực thiên về lúa mì tức là họ xay ra bột làm bánh, rồi bốc tay mà ăn.

     

    Trong văn minh nhân loại, với cái muỗng, nĩa và dao của Tây, thói ăn bốc của Ấn Độ thì đôi đũa của Á Châu nhìn rất hay, quý phái và điệu nghệ.

     

    Đũa không thể thiếu trong bữa ăn của dân Á, trong tiệc tùng quan-hôn-tang-tế, đặc biệt ăn món nước như phở, bún bò, hủ tíu, mì thì phải xài đũa.  Dân Ý ngày xưa (Marco Polo ở thế kỷ thứ 13) “chôm” món mì của Tàu nhưng lại ăn với nĩa. Trong cuốn “L‘histoire culturelle de la Chine” nói người Tàu thời tiên Tần (trước Tần Thủy Hoàng) vẫn còn ăn bốc. Riêng dân Tàu Hoa Bắc ăn bốc là một thói quen truyền thống.

     

    Chỉ có các dân tộc Bách Việt phía Nam cấy lúa, nấu cơm, làm bún ăn thì phải xài đũa, để gắp hay và vô miệng.  Cây tre ở xứ Nam đã cho ra đôi đũa tre huyền thoại. Tàu cứ thế mà bắt chước ta… Hồi xưa khi Tây mới qua miền Đông Á, họ nhìn người Á châu gắp thức ăn tưởng như là làm xiếc với đôi đũa (quá tài tình!)  Rồi ông Tây bà đầm cũng bày đặt bắt chước làm nhưng không được.

     

    Đũa luôn đi thành một cặp thể hiện âm-dương, đực-cái trong văn hoá.

     

    “Đôi ta như đũa trong kho,
    Không tề, không tiện, không so cũng bằng.”

     

    Dân gian gọi những thứ tréo ngoe, ví như “vợ cao chồng lùn” là “đôi đũa lệch,” kêu “người nghèo mà ham vợ (hay chồng) giàu” là “đũa mốc mà trèo mâm son…”

     

    “Đũa vàng dộng xuống mâm son
    Thấy ai có ngãi, anh thương mặn nồng.”

     

    Đôi đũa hình thành ra quy tắc xử sự trong văn hóa ẩm thực. Dâu về nhà chồng khi dọn cơm phải đặt đũa ngay thẳng, đầu đũa phải bằng, không được để lệch cao thấp, không được lộn ngược đầu hai chiếc đũa. Và khi ăn phải chờ người lớn tuổi cầm đũa trước.

     

    Người Nam Kỳ nói riêng và người Việt Nam nói chung kỵ những cái sau đây trong bữa ăn :

     

    – Cấm cắm đũa thẳng đứng trên chén cơm vì cái này chỉ để cúng người đã chết.

    – Không trở đũa để chỉ vào người. Cái này là bị xem là mất dạy, vô phép.

    – Không dùng đũa gõ chén, gõ tô. Gõ là kêu ma về, và cũng mất lịch sự.

    – Không xài đũa của mình đang ăn gắp và nhúng trong tô canh lớn xài chung. Phải trở đầu đũa hoặc tốt nhứt lấy đũa riêng khác mà gắp đồ ăn chung.

    – Tuyệt đối không dùng đũa mình đang ăn gắp thức ăn cho người khác.

    – Khi gắp đồ ăn, tránh đụng đũa kêu chan chát.

    – Không dùng đũa để xỉa cắm vào đồ ăn như nĩa.

    – Hồi nhỏ mà lấy đũa làm đồ chơi thí dụ như chơi banh đũa là bị rầy chết, vì như dậy là trù gia đình tàn mạt (?)

     

    Rồi khi cúng cũng có nguyên tắc: Phải đặt đũa ngay ngắn ở mặt bàn sát bên cái chén, không được đặt trên cái chén.

     

    Nhưng ngày nay người ta làm cũng tùm lum…

     

    Tây ăn thì múc riêng ra cho từng người trong dĩa của họ, nhưng An-Nam-Mít ta có thói quen ăn chung mâm, uống chung ly rượu mới là “thân tình.” Thành ra chuyện chủ nhà dung đũa của mình gắp đồ ăn cho khách lùm lum khó tránh. Tây nó viết rằng một tô canh của dân An Nam ta có hàng chục đôi đũa nhúng vô; thành ra về nhà bên vợ thằng rể Tây không dám ăn cơm chung gia đình (!).



    Còn nữa!  Thành ngữ động từ “trả đũa” là đáp trả lại, trả thù lại, ăn miếng trả miếng cho sòng phẳng, cho đã nư hả giận.  Câu “trả đũa” xuất xứ từ một nghi lễ cưới thời xưa: Khi đi coi vợ thì đưa chén đũa làm tin, sau không thuận thì người ta trao trả lại (?). 

     

     

     

    Petrus Tran
    (Sử Nước Nam)

     

     

     

VĂN HÓA VÀ GIA ĐÌNH - GIỚI TRẺ CÔNG GIÁO

  •  
    Chi Tran
     


    GIẢI ĐÁP THẮC MẮC CHO NGƯỜI TRẺ CÔNG GIÁO

    Bài 12: THỜ KÍNH ÔNG BÀ TỔ TIÊN

     

    Câu hỏi:

    Tôi thấy đạo Công Giáo luôn nhớ xin lễ và cầu nguyện cho ông bà tổ tiên. Nhưng nhiều người vẫn cho là bên Công Giáo không thờ cúng ông bà tổ tiên. Vậy có cách nào cho họ hiểu đúng về đạo Công giáo về vấn đề này không?

    Trả lời:

      

    Bạn thân mến,

    Trong câu hỏi trên, chúng ta đang đứng trước một vấn đề xảy ra đằng đẵng từ vài thế kỷ trước với nhiều tranh luận, đau thương và nước mắt. Điều này cho thấy đây là câu hỏi quan trọng cho Giáo Hội để suy nghĩ, thích nghi và hội nhập văn hóa. Chúng ta dễ thấy nhiều khác biệt giữa lương dân, người Phật Giáo và Công Giáo, nhất là trong vấn đề thờ cúng ông bà tổ tiên. Chỉ nhìn vào cách họ bài trí bàn thờ tổ tiên, niềm tin của họ về vấn đề người chết, về ông bà tổ tiên, chúng ta dễ dàng có những băn khoăn. Đúng sai chúng ta chưa bàn tới, nhưng trước thực trạng đó, Giáo Hội Công Giáo thực sự muốn đồng hành với con cái mình ngay trong những văn hóa, tâm tình thiêng liêng và cách biểu lộ niềm khao khát của mình.

     

    Vế sau trong câu hỏi của bạn luôn là điều Giáo Hội quan tâm hướng dẫn mỗi tín hữu. Quan tâm vì trước những khác biệt trong cách thể hiện niềm tin: Làm sao để chia sẻ cho người Công Giáo hiểu điều họ đang thực hành? Làm sao để thấy những điều hợp lý và phi lý trong những thực hành tôn giáo đó? Dĩ nhiên Giáo Hội có những bản hướng dẫn cụ thể để chúng ta tự tin, mạnh dạn và yêu mến thực hành những gì Thiên Chúa mong muốn.

     

    Khai triển dưới đây là chút tóm gọn từ nhiều nguồn tài liệu mà chúng ta dễ dàng tìm thấy trên Internet hoặc trong nhà sách Công Giáo.

     

    Hy vọng khi nhìn lại chút lịch sử của “thờ kính ông bà tổ tiên”, mỗi người, nhất là những người trẻ, thấy được những điều thú vị và có câu trả lời cho riêng mình. Từ đó, hãy mạnh dạn sống những điều Thiên Chúa dạy và biết cách chia sẻ những thắc mắc về vấn đề này cho chúng bạn cùng trang lứa.

     

    1. Những năm tháng tranh luận

    Như bạn cũng biết Đạo Công Giáo vào Việt Nam từ đầu thế kỷ 17 (năm 1615). Cũng như bất kỳ tôn giáo nào, Công Giáo cũng gặp nhiều khó khăn để hội nhập vào mảnh đất phong phú về tâm linh, niềm tin, tín ngưỡng và văn hóa. Cụ thể, người Việt chúng ta luôn coi trọng đạo Hiếu. Thờ cha kính mẹ đã là truyền thống ngàn đời của người Việt. “Ðạo hiếu là một đặc tính của đạo tâm, làm cho con người tỏ lòng thành kính đối với cha mẹ, tiền nhân, nên chỉ nuôi dưỡng cha mẹ mà không có lòng hiếu thảo thì làm sao gọi là hiếu được!” (Lm. Giuse Vũ Kim Chính,  SJ). Ngày mất, ngày giỗ của ông bà cha mẹ luôn buộc con cháu phải quy tụ về để thắp nén nhang tỏ lòng thành kính. Tạ ơn Thiên Chúa vì tâm tình cao quý ấy của người Việt. Trước nghi thức này, nhiều nhà truyền giáo thời xưa đã thành công trong việc nối kết phong tục ấy với cách thờ phượng Thiên Chúa.

     

    Đáng tiếc là một số nhà truyền giáo lại ngộ nhận vấn đề trên. Họ cho rằng việc thờ kính ông bà tổ tiên là một tôn giáo, nên cần loại trừ. Tôn giáo nghĩa là có một Đấng Tối Cao để tôn thờ, yêu mến. Phải chăng người Việt thờ kính ông bà tổ tiên như thờ Thiên Chúa của họ? Có sự ngộ nhận này là vì: “Nhiều người nghĩ trong khi thức cúng lễ gia tiên, người Việt đọc những lời thần chú gì đó.” Không! Chúng ta chỉ nói lên tâm tình của con cháu với ông bà tổ tiên của mình.

     

    Lý do thứ hai, thời xưa nhiều người ngộ nhận rằng người Việt cử hành nghi lễ thờ kính ông bà tổ tiên, bởi chữ “lễ” ấy cũng giống chữ “lễ” bên tôn giáo (họ nghĩ thế). Người Việt hiểu chữ “lễ” này đơn giản là lễ phép tỏ lòng kính thờ ông bà tổ tiên. Kế đến, có thể đây là lý do đáng ngại nhất khiến Giáo Hội chần chừ trong việc chấp nhận nghi thức thờ kính ông bà tổ tiên: thờ “bài vị”, vốn là nơi cư trú của các vong hồn (nhiều người tin như thế), hoặc thờ “hồn bạch”, vốn là nơi hồn người chết nhập vào. Dĩ nhiên, nếu chiếu theo niềm tin ấy, Giáo Hội có lý để khuyên các tín hữu không thờ bài vị hoặc hồn bạch, vì sau khi ông bà tổ tiên chết, linh hồn của họ không còn “lảng vảng” trên dương thế nữa. Theo đó, người Công Giáo cũng không cúng đồ ăn, thức uống cho người đã chết.

     

    Phải thừa nhận trong lịch sử Nước Nam, nhiều người Việt tin rằng việc thờ kính ông bà tổ tiên là một tôn giáo (Đạo Ông Bà). Tiếng Việt dùng danh từ “tôn giáo” để chỉ chung cho các tín ngưỡng (tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên). Họ “thờ” tổ tiên như “thờ” thần thánh hoặc Thiên Chúa, một Đấng Tối Cao. Theo đó, nhiều nghi thức được thêu dệt đến nỗi gây nhiều hiểu lầm, và có thể là cả mê tín dị đoan (đốt vàng mã, gọi hồn, của cúng...). 

     

    Trước những tranh luận xôn xao ấy, Giáo Hội đành chọn cách tốt nhất là: quyết định cho người Công Giáo chỉ được tôn kính tổ tiên theo cách Giáo Hội quen làm, chứ không được thờ cúng theo hình thức cổ truyền địa phương. Quyết định ngày xưa ấy đã khiến nhiều người Việt nhìn người Công Giáo với con mắt khác. Tệ hơn nữa, nhiều người tẩy chay tôn giáo này và đó cũng là lý do biện minh cho các cuộc bách hại của nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn, và cả phong trào Văn Thân[1]. Đó là thời cuộc nhiễu nhương với nhiều ngộ nhận về vấn đề thờ kính ông bà tổ tiên. Kết quả là nhiều người tử đạo và quan điểm ấy vẫn còn liên lụy cho đến ngày nay. (Chẳng hạn trong chính câu hỏi của bạn nói lên ý đó!)

     

    2. Những chỉ dẫn kịp thời

    Trước trang sử đau buồn ấy, Giáo Hội cần hành động và đã đưa ra hướng dẫn kịp thời trong vấn đề hội nhập văn hóa. Thật dễ dàng để các bạn đọc lại những quyết định của Tòa Thánh về vấn đề này trong Huấn thị  “Plane compertum est” được Tòa Thánh đề ra cho Giáo Hội tại Trung Hoa ngày 08-12-1939. Đại ý trong đó cho phép Giáo Hội địa phương: “không hủy bỏ hay dập tắt những giá trị thiện hảo, liêm chính, chân thành của các dân tộc.”

     

    Sau Công Đồng Vatican II, một trang sử mới mở ra không chỉ cho Giáo Hội hoàn vũ, nhưng đó cũng là cơ hội để Giáo Hội Việt Nam tiếp nhận vấn đề thờ kính ông bà tổ tiên. Các Giám mục hội nghị tại Đà Lạt trong những ngày tháng 6 năm 1965, nhằm đưa ra nhiều hướng dẫn. Chẳng hạn:

    “Vì thế, những cử chỉ, thái độ và nghi lễ tự nó hoặc do hoàn cảnh, có một ý nghĩa thế tục rõ ràng là để tỏ tinh thần ái quốc, lòng hiếu thảo, tôn kính hoặc tưởng niệm tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ (như treo ảnh, hình, dựng tượng, nghiêng mình bái kính, trưng hoa đèn, tổ chức ngày kỵ, giỗ...) thì được thi hành và tham dự cách chủ động.”

     

    Sau đó 9 năm, các Giám mục tiếp tục họp tại Nha Trang (1974) cũng đưa ra chỉ dẫn tương tự về các lễ nghi tôn kính Ông Bà Tổ Tiên. Sáu điểm chúng ta dễ dàng đọc trên mạng trong Quyết nghị về Lễ nghi tôn kính Ông Bà Tổ Tiên. Chẳng hạn, về cách bài trí bàn thờ gia tiên, về việc đốt nhang hương, đèn nến, ngày “cúng giỗ”, “lễ tổ, lễ gia tiên”, được vái lạy trước thi hài người quá cố, được tham dự nghi lễ tôn kính vị thành hoàng, v.v. Miễn là tránh mọi hình thức mê tín dị đoan.

     

    Nếu còn bối rối về vấn đề này, chúng ta dễ dàng thấy nhiều chỉ dẫn trong: Văn kiện hướng dẫn việc tôn kính tổ tiên (công bố ngày 7 tháng 10 năm 2019).

     

    Bạn nhận xét rất đúng khi nhắc lại việc người Công Giáo luôn thờ kính ông bà, cha mẹ, tổ tiên là những người đã khuất. Trên hết, đó là điều răn, là giới luật của Thiên Chúa: Thảo kính cha mẹ. Chúng ta cũng dễ dàng đọc thấy Thiên Chúa đòi hỏi người ta phải thảo kính với cha mẹ. Chẳng hạn sách Huấn Ca khuyên rằng: “Ai bỏ rơi cha mình thì khác nào kẻ lộng ngôn, ai chọc giận mẹ mình, sẽ bị Ðức Chúa nguyền rủa.” (Hc 3,16). Sau này thánh Phaolô khẳng định thêm: “Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này.” (Ep 6,2).

     

    Ngoài ra, chúng ta dễ dàng nhận thấy lòng tôn kính, liên kết với ông bà tổ tiên trong cả tháng Mười Một, vốn là tháng con cháu kính nhớ, cầu nguyện cho những người thân yêu đã qua đời. Mồng Hai Tết - kính nhớ ông bà tổ tiên. Trong thánh lễ, chúng ta thường nghe Linh mục thay mặt cộng đoàn cầu nguyện cho: “anh chị em đã ly trần, và mọi người, đặc biệt các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ và thân bằng quyến thuộc…”. Đó chưa kể đến nhiều người thường xin lễ, đọc kinh, viếng đất thánh, nhà hài cốt thường xuyên, để cầu nguyện cho những người thân đã khuất.

     

    3. Hòa nhập chứ đừng hòa tan

    Nhìn lại lịch sử vài thế kỷ trước, nhiều người vội trách Giáo Hội quá khắt khe và bảo thủ. Tại sao Giáo Hội không cho phép ngay việc thờ kính ông bà tổ tiên? Để bảo vệ con cái mình, trong hoàn cảnh đó, vấn đề này còn nhuốm màu mê tín dị đoan, nên Giáo Hội buộc phải e dè. Từ đó, người Công Giáo đã một thời bị chế giễu “theo đạo bỏ ông bà”. Thành kiến ấy, tạ ơn Chúa, ngày nay không còn nữa.

     

    Ngoài ra, nhiều phong trào đã giúp cho người Việt tránh xa được mê tín dị đoan. Chẳng hạn, đạo Công Giáo cũng chỉ ra những vấn đề mê tín ở Việt Nam từ vài thế kỷ trước[2]. Có khi bị phản đối, nhưng mưa dầm thấm lâu, người Việt cũng dần nhận ra vấn đề. Đáng chú ý nhất là từ những năm 1930, phong trào trí thức của nhóm Tự Lực Văn Đoàn[3] với biết bao bài viết, sách báo, tiểu thuyết đã giúp thay đổi được não trạng quần chúng, phá đổ được nhiều tệ đoan của xã hội. Cụ thể những mê tín dị đoan trong các phong tục cũng được phong trào này chỉ ra. Khi não trạng người dân thay đổi, Giáo Hội cũng cởi mở hơn về vấn đề thờ kính tổ tiên.

     

     

    Có rất nhiều điều phù hợp với giá trị Tin Mừng nơi các nền văn hóa. Việc thờ kính ông bà tổ tiên chẳng hạn. Bởi “đôi khi Thiên Chúa đã gieo mầm trong các nền văn hóa cổ xưa trước khi Tin Mừng được rao giảng”. Do đó, khi khám phá những chân lý trong các nền văn hóa, Giáo Hội cố gắng hòa nhập, chứ không hòa tan, lựa chọn cách tốt nhất để giúp các linh hồn. Hẳn nhiên là cách ấy có khi gây hiểu lầm cho nhiều người. Nhưng với thời gian, lý giải và đối thoại chân thành, hy vọng người ta hiểu hơn về những quyết định của Giáo Hội cần hợp với Tin Mừng.

     

    Cụ thể, bạn hỏi có cách nào cho người khác hiểu đúng về vấn đề thờ kính ông bà tổ tiên của người Công giáo không?

     

    Giáo Hội đã, đang và vẫn theo đuổi con đường đối thoại, gặp gỡ và tôn trọng những khác biệt. Tạ ơn Chúa vì trong tiến trình ấy, ngày càng có nhiều lương dân, người Phật Giáo hiểu hơn về cách người Công Giáo thờ kính ông bà tổ tiên. Nhất là nhiều người Công Giáo mời lối xóm, bà con bên lương đến chung vui trong dịp giỗ chạp. Trong tang lễ người Công Giáo cũng chia sẻ chút khác biệt trong cách họ cử hành. Chân thành và nhẹ nhàng. Rồi qua lối sống yêu thương, nhiều người nhận ra tấm lòng hiếu thảo của người con Công Giáo với tổ tiên của mình.

     

    Nhất là khi trò chuyện, chúng ta cũng chân nhận một thời Giáo Hội cũng “luống cuống” trong vấn đề này. Bởi, trước giờ Giáo Hội ở Châu Âu chưa phải đối diện với vấn đề thờ kính ông bà tổ tiên. Nên trước vấn đề này, Rôma đã có những ngăn cấm. Chúng ta cũng nhận lỗi về những thiếu sót trong việc thờ kính ông bà tổ tiên, ít là về hình thức bên ngoài. Do đó nhiều người buông lời nhận xét tiêu cực về người Công Giáo trong vấn đề này cũng là có lý do.

     

    Là người trẻ, những gia đình trẻ, chúng ta để tâm hơn đến chút hình thức bên ngoài về bàn thờ ông bà tổ tiên. Nơi đó, chúng ta tưởng nhớ đến linh hồn người đã khuất. Theo chân các ngài, con cháu tiếp tục sống trung thành với Thiên Chúa và nên chứng tá giữa đời. Những hình thức tỏ lòng thờ kính với tổ tiên, chúng ta dễ dàng tìm thấy nơi hướng dẫn của Giáo Hội. Chẳng hạn, quyển Kinh nguyện gia đình và Gia lễ Công giáo, sách Nghi Lễ An Táng, v.v.

     

    Trong đối thoại liên tôn, thật đáng tiếc nếu chúng ta lên án các nghi lễ của nhau. Đương nhiên mỗi tôn giáo có những nghi lễ rất khác biệt. Ví dụ chúng ta cần tôn trọng nghi lễ thờ kính ông bà tổ tiên của người lương dân, của các tôn giáo khác. Mặt khác, chúng ta cũng xác tín và hãnh diện về những cử hành đức tin của người Công Giáo, cách chúng ta thờ kính ông bà tổ tiên. Tôn trọng trong khác biệt! Rồi với những nỗ lực trong hội nhập văn hóa, hy vọng mỗi người hiểu hơn về nhau.

     

    Sau cùng, khi ngỏ lời với các bạn ngoài Kitô Giáo, tác giả cuốn 50 năm Thờ Kính Tổ Tiên, Linh mục Trăng Thập Tự chia sẻ như sau:

     

    Tôi đang chia sẻ với bạn một Tin mừng, một niềm vui. Nếu bạn nghĩ rằng tôi đang làm công tác truyền giáo thì cũng chẳng sao. Bởi lẽ truyền bá một tôn giáo tốt lành thì chẳng có gì xấu xa. Lắm người làm như thể khi chúng tôi bảo nhau truyền giáo là chúng tôi đang âm mưu làm một chuyện gì đen tối, bậy bạ, chẳng khác nào đang lén lút rủ nhau phạm những tội ác gì quái gở! Ồ không, bạn thấy đó, chúng tôi chỉ muốn chia sẻ với mọi người một thông tin quan trọng và hữu ích: Đó là, tất cả chúng ta đều có chung một người Cha là Thiên Chúa Tạo Hóa, chẳng phải vì chúng ta xứng đáng gì để được làm con Ngài, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta đến nỗi đã tặng ban người Con duy nhất của Ngài là Chúa Giêsu Kitô cho chúng ta, đến làm Anh Cả của nhân loại, cho tất cả chúng ta thành em của Người Anh Cả ấy và thành con cái của Cha trên trời.

     

    Tác giả viết tiếp:

    Được biết Thiên Chúa là Cha, bạn sẽ sung sướng nhận ra rằng người Cha ấy ôm ấp trong lòng Ngài cả bản thân bạn và Tổ tiên bạn. Bạn trả lời cho tôi xem, mỗi khi nghĩ đến Ông Bà Tổ Tiên, bạn hình dung thấy họ ở đâu? Ở với Nguồn Cội nào? Nơi họ ở tối tăm hay rực sáng? Nếu rực sáng thì ánh sáng ấy do đâu?

     

    Ước gì tâm tình trên đây cũng là câu trả lời cho một phần thắc mắc trên của bạn, cũng như của nhiều người liên quan đến việc thờ kính ông bà tổ tiên.

     

    Xin Chúa chúc lành cho bạn, nhất là cho ông bà tổ tiên của chúng ta. Để ước mong các ngài cũng cầu thay nguyện giúp cho con cháu luôn sống gần gũi với Chúa Giêsu hơn. Từ đó, chúng ta yêu mến những nét đẹp của truyền thống dân Việt và để hạt giống Tin Mừng nảy mầm, phát triển trên quê hương con rồng cháu tiên này.

     Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

     
     

VĂN HÓA VÀ GIA ĐÌNH - THỐNG KÊ NƯỚC VIỆT NAM

  •  
    Tracy NGuyen

     

    Thống kê thế giới về Việt Nam

      Đỉnh cao trí tuệ

    Dân số:

     

    Việt Nam hiện nay có dân số ước tính khoảng hơn 93 triệu người, đứng hàng thứ 13/243 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Dân số là một trong những đơn vị chính được dùng để đánh giá độ lớn và nhỏ của một quốc gia. Việt Nam đứng hàng thứ 13 có dân số đông nhất thế giới.Bởi vậy, xét về mặt dân số, Việt Nam không phải kém.

     

    Diện tích:

     

    Việt Nam có tổng diện tích đất liền khoảng 331,210 km2, đứng hàng thứ 61/189 quốc gia trên thế giới. Diện tích quốc gia cũng là một trong những đơn vị chính dùng để đánh giá độ lớn của quốc gia. Ở vị trí thứ 61, Việt Nam thuộc nhóm 1/3 quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới.Bởi vậy, xét về mặt diện tích, Việt Nam không phải là kém.

     

    Duyên Hải:

     

    Việt Nam là một quốc gia có địa thế rất đặc biệt; vừa tiếp diện biển ở phía Đông, vừa dựa vào rừng cây và cao nguyên ở phía Tây. Việt Nam đứng hàng thứ 33/154 quốc gia có bề dài duyên hải dài nhất thế giới với chiều dài duyên hải 3,444 cây số. Nên biết rằng, có 47 quốc gia trên thế giới hoàn toàn nằm trong lục địa (không tiếp diện với biển) và 35 quốc gia có chiều dài duyên hải chưa đến 100 cây số. Bởi vậy, xét về mặt bề dài duyên hải, Việt Nam không phải là kém.

     

    Rừng cây:

     

    Việt Nam có tổng số diện tích rừng đứng hàng 45/192 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới với tổng diện tích rừng là 123,000 cây số vuông. Rừng Việt Nam được xếp loại rừng có hệ sinh thái đa dạng và đặc biệt.Mặc dù rừng cây ở Việt Nam bị khai thác một cách bừa bãi, nó vẫn nằm ở vị trí 1/3 các quốc gia đứng đầu về diện tích rừng.Bời vậy, xét về mặt diện tích rừng cây, Việt Nam không phải là kém.

     

    Đất canh tác:

    Việt Nam có tổng số đất canh tác là 30,000 cây số vuông, đứng hàng 32/236 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Tổng số lượng lúa được Việt Nam canh tác đứng hàng thứ 5 trên thế giới trong số 20 quốc gia canh tác lúa gạo. Xét về mặt đất canh tác (và đặc biệt canh tác lúa gạo), Việt Nam không phải là kém.

    Việt Nam không nhỏ với đơn vị kích thước, dân số, đất đai, biển đảo, rừng cây v..v… nhưng lại yếu kém về phát triển kinh tế, giáo dục, xã hội, và văn hóa… do quản lý rất tồi:

     

    1. Giáo dục:

    Theo chỉ số Human Development, Việt Nam đứng hàng 121/187, có nghĩa là dưới trung bình.

    Không có một trường đại học nào của Việt Nam được lọt vào danh sách trường đại học có danh tiếng và có chất lượng.

     

    2. Bằng sáng chế:

    Theo International Property Rights Index [8], Việt Nam đứng hàng 108/130 tính theo giá trị trí tuệ, có nghĩa là gần đội sổ.

     

    3. Ô nhiễm:

     

    Theo chỉ số ô nhiễm, Việt Nam đứng ở vị trí 102/124, gần đội sổ danh sách.

     

    4. Thu nhập tính theo đầu người:

     

    Tuy thu nhập quốc gia của Việt Nam đứng hàng 57/193, Việt Nam lại đứng hàng 123/182 quốc gia tính theo thu nhập bình quân đầu người. Có nghĩa là Việt Nam đứng trong nhóm 1/3 quốc gia cuối bảng có thu nhập đầu người thấp nhất.

     

    5. Tham nhũng

     

    Theo chỉ số tham nhũng mới nhất của tổ chức Transparency International, Việt Nam đứng hàng 116/177 có nghĩa là thuộc 1/4 quốc gia cuối bảng.

     

    6. Tự do ngôn luận:

     

    Theo chỉ số tự do ngôn luận (freedom of press), Việt Nam đứng vị trí174/180, chỉ hơn Trung Quốc, Bắc Hàn, Syria, Somalia, Turkmenistan và Eritrea, có nghĩa là nằm trong nhóm 1/20 thấp nhất thế giới.

     

    7. Phát triển xã hội:

     

    Theo chỉ số phát triển xã hội, Việt Nam không có trong bảng vì không đủ số liệu để thống kê. Trong khi đó, theo chỉ số chất lưọng sống (Quality of Life) thì Việt Nam có điểm là 22.58, đứng hàng 72/76, có nghĩa là gần chót bảng.

     

    8. Y tế:

     

    Theo chỉ số y tế, sức khoẻ, Việt Nam đứng hàng160 trên 190 quốc gia, có nghĩa Việt Nam đứng trong nhóm quốc gia có tổ chức y tế tệ nhất.

     

    Việt nam có đầy đủ tiềm năng nhưng tại sao tụt hậu ngày càng xa sau các nước khác? Câu trả lời trước hết xin dành cho đảng cộng sản Việt Nam, kế đến là các bộ môn văn hóa & xã hội, cũng như đạo đức học & giáo dục học.

    Download all attachments as a zip file
    • image.png
      161.7kB
    • image.png
      183.1kB
    • image.png
      308.2kB
    • image.png
      137.1kB
    • image.png
      170kB
    • image.png
      163kB
    • image.png
      132.1kB
    • image.png
      164.8kB
    • image.png
      170.6kB
    • image.png
      278.4kB
    • image.png
      167.5kB
    • image.png
      145kB
    • image.png
      193.6kB
    • image.png
      170.6kB

VĂN HÓA VÀ GIA ĐÌNH - NGƯỜI GIÀ VÀO DƯỠNG LÃO

  •  
    Chi Tran

     

    CÓ NÊN ĐƯA NGƯỜI GIÀ VÀO NHÀ DƯỠNG LÃO?

     

    Con thấy Phương Tây con cái gửi cha mẹ già vào nhà dưỡng lão là chuyện bình thường. Tuy nhiên đạo hiếu Á Đông dường như không cho phép. Không biết quan điểm của Giáo Hội Công giáo như thế nào về điều này?

     

    Chia sẻ:

    Câu hỏi của bạn thực sự là mối bận tâm của những ai khi có cha mẹ, ông bà lớn tuổi. Nhiều người cũng tranh cãi có nên gửi họ vào nhà dưỡng lão hay không. Hẳn nhiên mỗi Châu lục nhìn về điều này có chút khác biệt. Tuy vậy văn hóa dân tộc nào cũng xem trọng chữ hiếu. Có điều mỗi nơi diễn tả chữ hiếu ấy một cách khác nhau. Chẳng hạn, ở Châu Âu hoặc Châu Mỹ, việc gửi cha mẹ hay ông bà lớn tuổi vào nhà dưỡng lão là chuyện bình thường[1]. Đó là nơi người già hạnh phúc sống quảng đời còn lại. Mỗi cuối tuần con cháu đến thăm, hằng ngày đều được nhân viên chăm sóc ân cần. Nói chung cả người già và xã hội đều chấp nhận nhà dưỡng lão.

     

    Ở Châu Á, nhất là nước Việt mình, việc con cháu gửi ông bà, cha mẹ già yếu vào viện dưỡng lão lại là vấn đề. Chính trong nội bộ gia đình, con cháu không biết có nên làm như vậy hay không? Nếu để cha mẹ già ở nhà, ai là người sẽ chăm sóc. Thêm vào đó, người già thường có mặc cảm rằng mình bị hất hủi khi bị đưa vào viện dưỡng lão. Chưa kể đến việc người ngoài nhìn vào lại cũng đàm tiếu đủ điều. Nói chung, chừng ấy lý do cũng đủ để ta thấy dân Việt chưa sẵn sàng chấp nhận hình thức này.

     

    Trong khi trò chuyện với các bạn trẻ, Giáo hội cũng lắng nghe được nỗi băn khoăn này. Do đó, dưới đây là vài chỉ dẫn để con cháu có thể đưa ra quyết định tốt cho gia đình mình.

     

    Hãy liên lạc với người già

    Ai cũng một thời trẻ trung, rồi đến tuổi xế chiều – đó là quy luật của phận người. Dù ở tuổi nào, người ấy đều xứng đáng nhận được mọi quyền lợi của mình. Cụ thể, người già không phải là thành phần bị loại bỏ, vì không còn sức lao động! Đó là quan niệm vô đạo đức, dù ở bất cứ đâu. Thay vào đó, Giáo hội mời gọi con cái hãy liên lạc với ông bà cha mẹ mình. Lý do là vì người trẻ có khi ít chú ý đến ký ước của quá khứ. Họ chỉ muốn chạy nhanh về phía trước với biết bao dự án và công việc. Trong mối bộn bề đó, người trẻ có khi không đủ kiên nhẫn ngồi lại với ông bà cha mẹ để chuyện trò.

     

    Trong khi đó, Lời Chúa cũng như Giáo hội nhắc mỗi người rằng người trẻ không nên mất liên lạc với những bậc lão thành, để thu thập kinh nghiệm của họ (Hc 6,34). Hãy nhìn người già với lòng tôn trọng: “Hãy đứng dậy trước những người có tóc bạc” (Lv 19,32). Thánh Kinh yêu cầu chúng ta: “Hãy lắng nghe cha con, đấng sinh thành ra con, đừng khinh dể mẹ con khi người già yếu.” (Cn 2,22). Họ thực sự là kho tàng, là sợi dây nối kết các thế hệ trong gia đình. Khi ông bà còn sống, con cháu càng có nhiều cơ hội để trở về, nhất là những dịp Xuân về Tết đến. Đó thực sự là nét đẹp của văn hóa Việt, khi trong nhà có các thế hệ cùng nhau chung sống.

     

    Thêm nữa, những chỉ dẫn liên quan đến điều răn thứ Tư[2] là: “Tình yêu, lòng biết ơn và tôn kính cha mẹ phải điều chỉnh các quan hệ của ta với những người có trách nhiệm đối với ta. Ta buộc phải tôn trọng những người mà Thiên Chúa đã trao cho họ quyền để làm ích cho ta: cha mẹ, ông bà, những người già trong gia đình.”[3]

     

    Cùng nhau dựng xây gia đình, xã hội và Giáo hội

    Giáo hội chỉ ra vai trò quan trọng của người già: “Họ dệt nên những ký ức, những hình ảnh của rất nhiều điều mà họ đã sống, được đánh dấu bằng kinh nghiệm của những tháng năm dài.” Do đó, họ thực sự là chỗ dựa vững chắc cho thế hệ con cháu vững bước vào đời. Người nào phủ nhận quá khứ, thành công và hạnh phúc cũng sẽ lìa xa họ. Do đó, thế hệ con cháu hãy bén rễ trong những giấc mơ của những người già. Từ đó, người trẻ có thể nhìn thấy tương lai, có thể có những cái nhìn mở rộng chân trời và vạch ra cho người trẻ những con đường mới[4].

     

    Bạn nghĩ sao khi nhiều người cho rằng: “Người già hay lẩm cẩm, nói trước quên sau”? Quan niệm ấy thật hời hợt, bởi họ đâu biết rằng người già cũng có những nét đẹp giúp gia đình và xã hội trở nên xinh đẹp hơn. Đẹp bởi nơi họ có những ký ức, vốn sống và đức tin. Người già có thể nhắc nhở người trẻ về một cuộc sống không có tình yêu là một cuộc sống khô cằn. Với những ai sợ hãi, người già có thể nói rằng sự lo lắng về tương lai có thể vượt qua được. Đối với những người trẻ quá bận tâm đến chính mình, người già dạy rằng một người cảm thấy vui hơn khi cho đi thay vì nhận lại, và tình yêu đó không chỉ được bày tỏ bằng lời nói, mà còn bằng việc làm[5]. Nói chung người già có nhiều bài học quý giá để trao cho người trẻ.

     

    Nếu cùng đi với nhau, người già và người trẻ sẽ bén rễ sâu trong hiện tại, và từ đó, thăm lại quá khứ cùng nhìn đến tương lai. Thử hỏi gia đình không có người già, làm sao người trẻ tìm được nguồn cội của chính mình? Do đó trong mỗi tương quan không chỉ huyết thống, mà còn là hỗ tương, “chúng ta có thể học hỏi lẫn nhau, sưởi ấm tâm hồn nhau, gây hứng khởi cho tâm trí nhau bằng ánh sáng Tin Mừng và ban cho đôi tay chúng ta sức mạnh mới.”[6]

     

    Bạn nghĩ sao khi Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh rằng: “Một dân tộc có sự phong phú của người già và trẻ em là một dấu hiệu cho thấy một dân tộc biết quan tâm, chăm sóc và coi họ như một báu vật, một kho tàng. Đó chính là dấu chỉ cho thấy sự hiện diện của Thiên Chúa, hứa hẹn một tương lai xán lạn.”[7] Ngài nói thế vì dường như thời nay “văn hóa vứt bỏ”, loại trừ người già đang đáng báo động. Khi đó, gia đình, xã hội và Giáo hội rơi vào bi thảm, vì đánh mất những truyền thống được các thế hệ trước truyền lại.

     

    Người già – nhà dưỡng lão – người trẻ

    Là người sống ở Châu Âu, tôi biết không phải gia đình nào cũng thích gửi ông bà hoặc cha mẹ họ vào nhà dưỡng lão. Phần lớn người già nơi đây cũng không thích vào nhà hưu hoặc dưỡng lão. Tôi biết nhiều gia đình hạnh phúc với hai hoặc ba thế hệ cùng sống với nhau. Họ vẫn giữ liên lạc và quan tâm lẫn nhau. Vì hoàn cảnh nào đó phải gửi người già vào nhà dưỡng lão, là con cháu hiếu thảo, họ cũng thường xuyên lui tới chuyện trò. Vấn đề là làm sao đừng để ông bà, cha mẹ rơi vào cảnh cô đơn, hoặc bị hắt hủi.

     

    Cụ thể, để trả lời câu hỏi của bạn, các gia đình nếu có thể, hãy tự chăm sóc ông bà cha mẹ của mình. Có khi về phương diện y tế không bằng viện dưỡng lão, nhưng quan trọng hơn, bản chất thói quen của người phương Đông là ông bà cha mẹ thích được gần con cháu. Trong trường hợp này, con cháu cũng nhận được nhiều điều từ phía người già. Đó là tình cảm gia đình, những bài học người già truyền lại cho con cháu. Kể cả kho tàng đức tin người già cũng có thể truyền lại cho con cháu một cách sống động. Do đó, rõ ràng gần gũi với người già là cơ hội để thế hệ trẻ vừa tròn chữ hiếu, vừa giữ lòng đạo và tạo nên hạnh phúc gia đình.

     

    Dĩ nhiên mỗi nhà mỗi cảnh, nên tùy trường hợp mà mỗi gia đình đưa ra quyết định tốt nhất cho mình và ông bà cha mẹ. Nguyên tắc chung là làm sao thể hiện được tình yêu, hiếu thảo và hy sinh.

     

    Sau cùng, Giáo hội hẳn nhiên không cấm con cháu đưa cha mẹ ông bà vào nhà dưỡng lão. Giả như vì hoàn cảnh nào đó phải đưa người thân của mình vào viện dưỡng lão, bạn nghĩ sao khi có lời ra tiếng vào: “Đường đường là người Công giáo, Thiên Chúa dạy hiếu thảo, vậy mà nỡ lòng nào đẩy ông bà cha mẹ mình vào nhà dưỡng lão!” Lời đàm tiếu ấy cũng khiến phận con cháu chạnh lòng. Ước gì mỗi gia đình luôn để Thiên Chúa đồng hành; và nhờ đó, chúng ta cư xử với nhau với rất nhiều tình người và tình yêu.

     

    Chào bạn!

    Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

     

    Tái bút: Khi trả lời câu hỏi này, là những người trẻ, hy vọng chúng ta có nhiều sáng kiến để chăm sóc ông bà, cha mẹ mình trong những ngày tháng đại dịch Covid-19 này.

    ……………..

    [1] Một trong những lý chính là dân số già đi sẽ gia tăng nhu cầu về các dịch vụ chăm sóc cho người già. Con cháu ít nên không thể chăm lo tốt cho người già.

    [2] Điều răn thứ tư: thảo kính cha mẹ. “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi.” (Xh 20,12). “Người hằng vâng phục các ngài.” (Lc 2,51). “Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo.” (Ep 6,1)

    [3] Youcat 367

    [4] Tông Huấn Đức Kitô Sống 193

    [5] Tông Huấn Đức Kitô Sống 197

    [6] Tông Huấn Đức Kitô Sống 199

    [7] Đọc thêm: Chăm sóc người già và trẻ em là sống văn hoá hy vọng (Vatican tiếng Việt)