3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

MỘT LỢI KHÍ THÁNH CỦA LỜI - Thứ Năm Tuần 3 Mùa Chay A

“Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa!”.

McCheyne viết cho Edwards, một người vừa được truyền chức, “Xét về độ tinh khiết và sự hoàn hảo của một dụng cụ, bạn sẽ thành công! Tuy nhiên, điều đó không đến từ những tài năng Chúa ban cho bạn, cho bằng việc bạn nên giống Chúa Giêsu mỗi ngày! Giống Chúa Giêsu, bạn trở thành một vũ khí khủng khiếp trong tay Thiên Chúa. Bởi lẽ, bạn là ‘một lợi khí thánh của Lời!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

Cả hai bài đọc hôm nay tiết lộ, “Việc bạn trở nên một vũ khí khủng khiếp trong tay Thiên Chúa” cho người đương thời là sứ vụ cấp bách của người môn đệ mọi thời! Giêrêmia, thời Cựu Ước; bạn và tôi, thời Tân Ước, mỗi người là ‘một lợi khí thánh của Lời’. Thông điệp chúng ta trao, “Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa!”, cũng là thông điệp của Thánh Vịnh đáp ca.

Bài đọc Giêrêmia tường thuật những gì Chúa nói với ông, “Ngươi sẽ nói với chúng tất cả những điều ấy!”; “Hãy nghe tiếng Ta thì Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi, và các ngươi sẽ là dân Ta!”. Tin Mừng tường thuật việc Chúa Giêsu trừ một quỷ câm, khi quỷ ra khỏi, người câm nói được. Với sự kiện này, bạn tự hỏi: Vậy điều gì cản trở tôi nói Lời của Chúa một cách cởi mở, trung thực và rõ ràng? Rất nhiều người cần được nghe Tin Mừng! Nhiều người đang rối bời trong cuộc sống; nhiều người đang thấy mình đi trên một con đường không lối ra, con đường dẫn đến lầm lạc và huỷ hoại. Và chúng ta vẫn thản nhiên nhìn họ đi trên những con đường này sao?

Trước khi được Chúa Giêsu chữa lành, người câm dường như bị chiếm hữu hoàn toàn bởi quỷ, đến nỗi khả năng nói của anh trở nên vô hiệu; nhưng sau khi được Ngài trừ quỷ, anh nói rành rọt! Phần chúng ta, dẫu không chịu tác động của ma quỷ ở mức độ tương đương, nhưng cũng thường bị cản trở bởi những “Quỷ câm” tương tự! Nó thường tìm cách tác động theo hướng khiến chúng ta sợ hãi loan báo Lời Chúa một cách tự do, chân thành và tức thời cho những người cần nhất. “Quỷ câm” thường áp lực, khiến chúng ta bối rối, do dự, mỗi khi có cơ hội. Và dù hiếm khi rơi vào quyền lực của nó hoàn toàn, nhưng dẫu sao, chúng ta vẫn thường bị những tác động xấu; thậm chí, nó cũng vô hiệu hoá khả năng nói của chúng ta. Đang khi lẽ ra, mỗi người phải có khả năng chuyển tải Lời bất cứ khi nào, với bất cứ ai, ở bất cứ nơi đâu; thời thuận tiện cũng như không thuận tiện! Chính Chúa Kitô Phục Sinh đã nói với Anania về Saolô, “Người này là lợi khí Ta chọn!”.

Anh Chị em,

“Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa!”, đó là sứ điệp chúng ta kêu mời; nhưng trước hết, nó là sứ điệp gửi cho chính bạn và tôi! Mỗi ngày Chúa Giêsu ban Lời cho chúng ta, Ngài mong chúng ta trở thành những môn đệ tín trung biết lắng nghe Lời, được Lời biến đổi, hầu có thể trở nên một ‘Lời Giêsu’ khác; nói đúng hơn, trở nên ‘một lợi khí thánh của Lời’. Bấy giờ, trong tay Thiên Chúa, bạn và tôi cũng là một vũ khí khủng khiếp, không phải để gieo tai rắc hoạ nhưng là một lợi khí đem lại bình an và yêu thương cho thế giới! Và điều này tuỳ thuộc hoàn toàn vào việc chúng ta có nên giống Chúa Giêsu không! Bị “Quỷ câm” ám, chúng ta không có khả năng nói, không muốn nói; thậm chí, không dám nói… vì lẽ, chúng ta chưa nên giống Chúa Giêsu, ‘chưa thánh’ đủ như Ngài. Ngài muốn giải thoát chúng ta, không quỷ nào mà Ngài bất lực. Hãy để Ngài chữa lành, sử dụng bạn như một lợi khí thánh, lợi khí của sự thật và tình yêu!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, không ít lần, con cảm thấy mình câm. Xin chữa con! Cho con ngày càng nên giống Chúa; nhờ đó, con cũng trở nên ‘một lợi khí thánh của Lời’, luôn yêu thương, nhạy bén!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

CHUNG MỘT ĐƯỜNG, CÙNG MỘT ĐÍCH - Thứ Tư Tuần 3 MC A

“Thầy không đến để huỷ bỏ, nhưng để kiện toàn!”.

Một nhà tu đức nói, “Khi ngu khờ, chúng ta muốn chinh phục thế giới; khi khôn ngoan, chúng ta muốn chinh phục cái tôi! Cuộc sống của bạn không được đo bằng những gì giành được, nhưng bằng nỗ lực của toàn bộ xác hồn khi xác và hồn ‘chung một đường, cùng một đích’; đó là kính mến Chúa trên hết mọi sự và yêu thương tha nhân như chính mình!”.

Kính thưa Anh Chị em,

‘Chung một đường, cùng một đích’, đó cũng là chí hướng phải có nơi người môn đệ Chúa Giêsu mà Lời Chúa hôm nay cho thấy! Quả vậy, mọi lề luật cũ và mới đều ‘chung một đường’: “yêu như Chúa yêu”; ‘cùng một đích’: ‘Kính mến Chúa trên hết mọi sự!’.

Môisen, trong bài đọc thứ nhất, nói với dân, “Tôi thừa lệnh Chúa là Thiên Chúa mà truyền dạy cho anh em biết lề luật và huấn lệnh Ngài!”. Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu nói, “Thầy không đến để huỷ bỏ, nhưng để kiện toàn!”. Từ Môisen đến Chúa Giêsu, việc giữ luật được thực hiện theo hai cách: chu toàn điều được yêu cầu, và hoàn thành những điều còn thiếu. Chúa Giêsu chu toàn luật cũ và hoàn thành nó bằng luật mới yêu thương. Ngài chu toàn nó không chỉ bằng cách hoàn thành mỗi giới răn, nhưng bằng việc cho thấy mọi giới răn đều ‘chung một đường, cùng một đích’. Đường đó là đường yêu thương, đường dâng hiến; và đích tự nhiên của chúng là chính Thiên Chúa. Phaolô thật chí lý khi nói, “Yêu thương là chu toàn cả lề luật!”.

Chúa Giêsu nói thêm, “Cho dù trời đất có qua đi, thì một chấm, một phẩy trong bộ luật cũng không bỏ sót”. Ngài đang nói đến ‘tính toàn diện’ của luật mới. Các giới răn đi trên đường yêu thương sẽ không bao giờ bị giới hạn; trái lại, toả lan và vươn đến tận cùng trái đất! Không vật tạo thành nào trong vũ trụ lại nằm ngoài quy luật yêu thương Ngài dạy; không thực thể nào, dù là nhỏ nhất, thoát khỏi yêu cầu của luật yêu thương này. Sử dụng phép ẩn dụ, “một chấm, một phẩy”, Ngài cho thấy sự ‘hoàn thiện tuyệt đối’ của luật. Tình yêu và đòi hỏi của nó vươn tới chỗ xa nhất của vũ trụ, đến sinh vật nhỏ nhất được tạo thành, và đến tận mút cùng của thời gian!

Các điều của luật cũ được nêu trong Mười Điều Răn như ‘ngươi không được giết người; không được tà dâm…’ là những vi phạm nghiêm trọng nhưng dễ xác định, chúng chỉ là những hành động bên ngoài; nhưng các điều răn của luật mới như ‘ngươi không được biểu lộ sự tức giận; không được ham muốn trong lòng; hãy tha thứ cho kẻ thù…’ diễn đạt tinh tế hơn, và vì thế, chúng thường khó giữ hơn. Sống những giới răn này với động cơ thích hợp và thái độ ân cần, tận tụy, là điều ‘khiến cho một con người trở nên vĩ đại!’. Lấy tình yêu làm động lực cho mọi hành động, không chỉ giúp chúng ta lên thiên đàng, mà còn giúp chúng ta được chia sẻ nhiều hơn trong hạnh phúc và vinh quang của Đấng ở trên thiên đàng.

Anh Chị em,

“Thầy không đến để huỷ bỏ, nhưng để kiện toàn!”. Bản thân Chúa Giêsu chính là toàn bộ lề luật. Và toàn bộ lề luật này được kiện toàn bằng chính cái chết của Ngài. Ngài đã “khôn ngoan chinh phục cái tôi”, nên Ngài đã “chinh phục cả thế giới”. Bước vào trần gian, Chúa Giêsu đã chịu chi phối bởi tất cả lề luật Cựu Ước và luật tự nhiên, nhưng Ngài đã mặc cho chúng một giá trị vĩnh cửu bằng tình yêu trao hiến của Ngài cho Chúa Cha và tha nhân, triệt để cho đến chết. Như thế, việc tuân giữ lề luật của chúng ta cũng chỉ có ý nghĩa khi bạn và tôi làm mọi sự chỉ vì ước mong trở nên giống Chúa Giêsu. Và Ngài đã là toàn bộ lề luật, thì cả chúng ta cũng thế, chúng ta trở nên một Giêsu khác, ‘chung một đường, cùng một đích’ với Ngài!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin dạy con khôn ngoan chinh phục cái tôi, để dù không chinh phục cả thế giới, con, với tư cách môn đệ Ngài, vẫn có thể chinh phục cho Chúa những ai Chúa trao cho con!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

CÁI KHÁT CỦA CON NGƯỜI - Chúa Nhật III MC A

Phụng vụ Lời Chúa của Chúa Nhật III mùa Chay, đặc biệt bài đọc thứ nhất (Xh 17,3-7) và bài Tin Mừng (Ga 4,5-42) hướng chúng ta đến chủ đề “nước”. Đi trong sa mạc, dân Chúa xưa đã nổi loạn với Môsê vì thiếu nước và Thiên Chúa đã ban cho họ nước chảy ra từ tảng đá tại Horeb. Trên đường truyền giáo, Chúa Giêsu đã dừng chân bên giếng nước Giacob, Người đã xin một phụ nữ Samaria chút nước và Người hứa ban cho chị ta nước trường sinh.

Nói đến nước là nói đến một trong những nhu cầu căn bản của con người xét như loài có sự sống. Thiếu nước là như sự chết đang cận kề. Người ta có thể vượt qua những thiếu thốn của cải, tiện nghi… và người ta cũng có thể chịu đựng cái đói trong một thời gian khá dài, trên dưới một tháng, thế nhưng không một ai có thể cầm cự với cái khát quá dăm bảy ngày. Chính vì thế mà việc đáp ứng nhu cầu khát nước trở thành một việc cấp thiết mang tính sống còn. Vượt trên các loài sinh vật bậc thấp, loài người chúng ta ngoài cái khát tự nhiên là khát nước thì còn có nhiều nổi khát xuất phát từ nhu cầu của sự phản tỉnh hay sự tự nhận biết về hiện hữu của mình.

A. Những cái khát của kiếp nhân sinh:

1. Khát mong được nhìn nhận: Tôi là một con người. Đây là một chân lý hiển nhiên. Thế mà vẫn đã từng có, trong quá khứ và ngay cả hôm nay, rất nhiều người chưa được nhìn nhận như là một con người. Đó là trẻ em, phụ nữ, người nô lệ, người bất hạnh, quả phụ, cô nhi, ngoại kiều, người nghèo hèn, kém phận… Đọc Cựu Ước, chúng ta thấy rõ hiện tượng này. Các Ngôn sứ đã không ngừng lên tiếng về đề tài này. Người phụ nữ bên bờ giếng Giacob phải chăng không là ngoại lệ. Dù đã năm đời chồng và hiện đang sống với người thứ sáu, thế mà có thể chị chưa được nhìn nhận như là một người vợ? Phải chăng chị vẫn còn bị xem như một thứ “sở hữu” của người chồng?

Khi sinh thời mẹ Têrêxa thành Calcutta gặp gỡ rất nhiều người bất hạnh, xấu số. Sau khi gặp mẹ, họ đã từng tâm sự rằng họ mãn nguyện vì cho dẫu chưa được sống như một con người thì họ cũng đã được chết như một con người. Chúa Kitô mạnh mẽ tuyên bố rằng không cần đã giết người thì mới bị đoán phạt, nhưng nếu loại bỏ tha nhân từ trong tâm trí và lối ứng xử của ta tức là không nhìn nhận tha nhân như là một con người thì ta cũng đã đáng bị trừng phạt (x.Mt 5,21-22).

Người ta không chỉ khát khao được nhìn nhận như một con người mà con mong được nhìn nhận như là một người khác. Điều này nói lên sự độc lập, khác biệt của tha nhân đối với ta. Ngay cả trong đời sống hôn nhân, dù nỗ lực làm cho “mình với ta, tuy hai mà một” nhưng họ vẫn phải luôn ý thức để tôn trọng sự thật “ta với mình, tuy một mà vẫn là hai”. Quả thật người ta sẽ chẳng còn là chính mình một khi bị đồng hóa do bởi một ai đó hay bởi một thế lực nào đó.

2. Khát mong được chấp nhận và được đón nhận:Được nhìn nhận như là một con người, như là một người khác vẫn chưa đủ nếu ta không được kẻ  khác chấp nhận và đón nhận. Từ đáy sâu thẳm của từng người, luôn có đó khát mong được tha nhân chấp nhận và đón nhận mình như mình đang là, đang có. Một trong những lẽ sống của con người là khi thấy mình còn có giá trị, đang còn hữu ích cho ai đó. Và điều này được chứng thực khi tha nhân chấp nhận và đón nhận ta. Khi tìm hiểu nguyên nhân khiến cho nhiều người, kể cả giới trẻ tìm đến cái chết bằng sự tự vẩn thì người ta nhận ra một trong những nguyên nhân chính đó là vì họ mang mặc cảm bị người chung quanh khước từ hay loại bỏ.

Con người chúng ta thường bị cám dỗ chấp nhận hay đón nhận kẻ khác“với điều kiện”. Người ta phải thế này, phải thế kia thì tôi mới nhận, mới tiếp. Có những điều kiện mang tính khách quan, nhưng cũng không thiếu những điều kiện mang tính chủ quan hoặc duy ý chí. Điều này mặc nhiên nói lên rằng ta sẽ chỉ nhận nhau khi hội đủ điều kiện theo ý mình và nếu vì lý do gì đó mà không đủ điều kiện thì sẽ bị loại trừ.

B. Chúa Kitô: Đấng giải khát cho nhân loại.

“Chị cho tôi xin chút nước uống”. Khi mở miệng xin người phụ nữ chút nước, Chúa Giêsu nhìn nhận sự hiện hữu của chị và cả sự cần thiết của chị. Tin mừng tường thuật Chúa Giêsu đi đường mỏi mệt, Người đang cần nước uống và Người không có gầu. Như thế việc Người xin chị phụ nữ cho chút nước là một việc tự nhiên, rất thật của đời thường. “Ông là người Do Thái mà lại xin tôi, một phụ nữ Samaria, cho ông nước uống sao?”. Không đơn thuần là câu hỏi vặn ngược mà thực chất là lời khẳng định của chị: Dù là Samaria, dù là phụ nữ, thì tôi cũng là một con người như ông và ông đang cần tôi. Chị Samaria đã được giải khát, môt cái khát nền tảng của kiếp nhân sinh là được nhìn nhận.

“Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm”. Lời giới thiệu của chị phụ nữ với dân làng đã nói lên sự thỏa khát vô bờ của chị. Chị đã được Chúa Giêsu đón nhận như chị đang là, dù chị đã trãi đời với năm người đàn ông và đang chung sống bất chính với người thứ sáu. Mà chắc gì người thứ sáu này sẽ nhận chị! Chúng ta đừng quên thời bấy giờ hiếm có chuyện đàn bà bỏ đàn ông mà ngược lại.

Các Ngôn sứ thường lên án tội lỗi của dân Chúa xưa và loan báo các hình phạt họ phải chịu. Thế nhưng sau đó lại gợi mở về sự khoan dung tha thứ của Chúa. “Dân Ta cứ miệt mài buông theo bội tín, chúng được kêu mời hãy vươn lên, mà chẳng một ai ngóc đầu dậy! Hỡi Ephraim, Ta từ chối ngươi sao nỗi! Hỡi Israel, Ta trao nộp ngươi sao đành!...Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi” (Hs 11,7-8). Mọi người và mỗi người đều có chỗ đứng trong Trái Tim Cực thánh của Đấng Cứu Độ. Không một ai là đồ bỏ đi. Bất cứ ai cũng đều được Thiên Chúa đón nhận, chỉ trừ khi họ cố tình khước từ. Vì đó là tội phạm đến Chúa Thánh Thần (x.Mt 12,32).

“Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào Tôi, hãy đến mà uống! Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước trường sinh” (Ga 7,38). Biết bao con người đang khát ở quanh ta. Là Kitô hữu, ước gì chúng ta góp phần giải khát cho tha nhân khi nhìn nhận nhau, chấp nhận nhau và đón nhận nhau ngay trong hiện trạng của nhau.

Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa –  Ban Mê Thuột

CHẢY MÃI, CHẢY ĐẾN THA NHÂN - Thứ Ba Tuần 3 MC A

“Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy!”.

“Người đàn ông đã cùng tôi ăn tối đã giết anh trai tôi”. Đó là lời của một phụ nữ xinh đẹp tại một bữa tiệc. Ruth đã kể về John, người đã sát hại anh cô như thế nào. John thụ án 18 năm; sau đó, ổn định tại một trang trại, nơi cô gặp anh sau 20 năm vụ án. Được thôi thúc bởi Chúa Kitô, cô tìm John, nói lời tha thứ. Nhiều người sẽ không gọi đây là một câu chuyện thành công: John chưa trở lại đạo! Nhưng tại một bữa tiệc khác, giọng John vỡ ra khi nói: “Kitô hữu là những người duy nhất mà bạn có thể giết con trai họ; họ sẽ biến bạn thành một phần của gia đình họ. Tôi không biết “Ai đó” trên cao, nhưng chắc chắn, Ngài đang săn lùng tôi!”. Câu chuyện của John còn dang dở; John vẫn chưa tin. Nhưng như Chúa Kitô đã chết cho bạn, bất kể bạn từ chối hay chấp nhận Ngài, Ruth “tha nợ” cho John mà không cần điều kiện. Thậm chí, cô còn trở thành bạn của anh!

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cũng nói đến nợ nần! Người nợ Chúa; người nợ người! Người tha cho người, nếu muốn Chúa tha cho mình. Tha thứ, như dòng suối phải chảy, ‘chảy mãi, chảy đến tha nhân!’.

Bài đọc Đaniel cho thấy con người nợ Chúa thật nhiều! “Vì tội lỗi, chúng con đã thành dân nhỏ nhất, đã nếm mùi ô nhục trên khắp hoàn cầu”. Tin Mừng cho thấy, người cũng nặng nợ với người: một người nợ lớn, một người nợ nhỏ; cả hai không trả nổi, nài xin ‘chủ mình’ hoãn lại. Chủ chạnh thương, tha cho người thứ nhất món nợ cực lớn, nhưng người này không tha cho bạn mình món nợ cực nhỏ. Và Chúa Giêsu kết luận, “Cha Tôi trên trời cũng xử với các con đúng như thế!”. Điều đó không có nghĩa là Thiên Chúa hẹp hòi đến độ sẽ xét xử người, như ‘người cư xử với người’; Lời Chúa muốn nói, ai không mở lòng với anh em, không thể mở ra cho Thiên Chúa! Như vậy, không tha thứ là đánh mất những gì đã nhận được; suối tắc nghẽn, ao tù tanh tưởi. Vì thế, người nợ lớn đã bất ngờ được tha, nay bất ngờ bị rút lại. Ai biết tha thứ, người ấy giữ được thứ tha!

Điều Chúa Giêsu đang nói là sự cho đi và nhận lại. Điều thú vị là, chúng ta thường dễ dàng nghĩ đến việc ‘tha cho người’ hơn là xin ‘tha cho mình’. Con nợ thứ nhất xem ra chân thành, “Anh sấp mình dưới chân chủ”; thực ra, anh chỉ là một diễn viên giỏi! Bởi sau khi được xoá khoản nợ khổng lồ, anh bủn xỉn với con nợ cỏn con của anh; thay vì thương xót, “Y tóm lấy, bóp cổ mà nói, ‘Hãy trả nợ cho ta!’”. Tại sao? Bởi lẽ y không động lòng trước tình yêu vô hạn và xót thương của chủ. Tha thứ, nếu là thật, phải ảnh hưởng đến mọi sự nơi chúng ta. Nó là một điều gì đó phải ‘xin, cho; nhận và cho lại’. Như một dòng suối phải chảy, ‘chảy mãi, chảy đến tha nhân’.

Anh Chị em,

“Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy!”. Sai lỗi là việc của người, thứ tha là việc của Trời. Nếu Chúa Giêsu ra lệnh cho chúng ta phải tha bảy mươi lần bảy, thì làm sao Ngài thoát khỏi việc ‘không vô hạn’ trong sự tha thứ của Ngài? Ý nghĩa biết bao Thánh Vịnh đáp ca, “Lạy Chúa, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu của Ngài!”. Bao lâu không đi vào quỹ đạo xót thương của Thiên Chúa, bấy lâu chúng ta không thể tha thứ cho người khác. Không phải tha ‘bảy lần’ nhưng tha ‘vô hạn lần bảy’. Hãy nhìn lên thập giá, chiêm ngắm trái tim bị đâm thâu của Chúa Kitô, một trái tim khơi mỏ mạch mọi ân sủng thứ tha qua các Bí Tích! Hãy kết nối, khai thông đời mình vào dòng chảy thần linh ấy và như một dòng suối phải chảy, ‘chảy mãi, chảy đến tha nhân’, chúng ta trào tràn sức sống, lòng thương xót và sự thứ tha của Thiên Chúa cho anh chị em mình.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, Đấng rửa sạch tội con vốn ‘đỏ hơn son’ bằng Máu Châu Báu của Ngài, cho con biết ném tội của anh chị em con xa thật xa như Chúa đã ném tội lỗi con tận mãi ngàn khơi!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

Khát vọng của con người - Chúa Nhật III MC A

Không gì trên đời lấp đầy khát vọng của con người .

Con người có nhiều khao khát: khát tiền, khát quyền lực, khát danh vọng, khát hạnh phúc…

Nhưng không gì trên đời có thể lấp đầy những khát vọng đó.

Chưa có tiền thì khao khát có được ít tiền. Có tiền rồi thì muốn có nhiều hơn và cứ thế mãi không dừng.

Chưa có quyền thì khao khát cho có, có rồi thì khát được nhiều quyền hơn… không bao giờ no thoả.

Vì thế, ông Arthur Schopenhauer (1788-1860), một triết gia người Đức cho rằng: “Những lạc thú mà thế gian cống hiến cho con người cũng chỉ như nắm cơm bố thí cho người hành khất, chỉ làm dịu cơn đói hôm nay, rồi ngày mai lại đói.”         

Cha Anthony de Mello cũng nhận định tương tự: “Việc thoả mãn dục vọng không giải thoát chúng ta khỏi dục vọng, nhưng tạo thêm một dục vọng khác còn mãnh liệt hơn để rồi cái vòng lẩn quẩn: khát khao - thoả mãn, thoả mãn - khát khao…  cứ tiếp diễn mãi không cùng”, càng về sau lại càng tăng “đô” hơn. Và cứ thế, người ta phải chịu dày vò, thiêu đốt vì ngọn lửa khao khát trong lòng mình.

Người phụ nữ xứ Sa-ma-ri trong Tin mừng hôm nay (Ga 4, 5-42) cũng đã từng trải qua cơn khát tương tự. Chị đã mưu tìm hạnh phúc qua năm đời chồng rồi nhưng lại phải lần lượt chia tay với cả năm, để mưu tìm hạnh phúc với người thứ sáu. Rốt cuộc chẳng ai trong họ có thể đem lại cho chị hạnh phúc thực sự trong cuộc đời. Chị đi tìm hạnh phúc cũng y như đi lấy nước. Ngày nào cũng phải lặn lội tìm đến giếng nước xa, múc cho đầy vò rồi ngày hôm sau lại khát và tiếp tục đội vò đi tiếp…

Chính vì thế nên Chúa Giê-su khẳng định với người phụ nữ Sa-ma-ri: “Ai uống nước nầy sẽ còn khát lại.” Với những lời này, Chúa Giê-su muốn cho ta biết không gì trên đời có thể đáp ứng khát vọng của con người.

 

Chỉ có Thiên Chúa  mới lấp đầy khát vọng con người 

Xưa kia, tâm hồn của Augustinô cũng bị giày vò bởi nhiều khao khát, nhưng không gì trên thế gian có thể lấp đầy con tim khao khát của ngài. Mãi đến tuổi 33, nhờ ơn soi sáng của Thiên Chúa và lời nguyện cầu liên lỉ của người mẹ thánh thiện là Mô-ni-ca, Augustinô mới khám phá Thiên Chúa là Nguồn Suối đáp ứng khát vọng của ngài và làm cho tâm hồn ngài dạt dào niềm vui. Bấy giờ lòng đầy hoan lạc, Augustinô thốt lên: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, vì thế hồn con mãi thổn thức khôn nguôi, cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.”

Chỉ trong Thiên Chúa, khát vọng của Augustinô mới được lấp đầy. Quả đúng như Lời Chúa Giê-su nói: “Ai uống nước nầy sẽ còn khát lại, còn ai uống nước Tôi cho sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước Tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” (Gioan 4, 13-14)

 

Lạy Chúa Giê-su,

Còn rất nhiều người đang khát Chúa mà vẫn chưa tìm thấy Chúa là Nguồn Nước mang lại hoan lạc và bình an cho tâm hồn. Xin cho họ được nhận biết Chúa chính là Nguồn Suối mà họ hằng khát khao.

Xin cho chúng con, như người phụ nữ Sa-ma-ri xưa, một khi đã tìm được Chúa là Nguồn Nước trường sinh, thì cũng mau mắn giới thiệu cho mọi người đến gặp Chúa, để họ cũng được đón nhận Chúa là Mạch Suối mang lại sự sống đời đời.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Tin mừng Gioan 4, 5-42

Người đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se.6 Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.

7 Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy: "Chị cho tôi xin chút nước uống! "8 Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn.9 Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói: "Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao? " Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri.10 Đức Giê-su trả lời: "Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: "Cho tôi chút nước uống", thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống."11 Chị ấy nói: "Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống?12 Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy."13 Đức Giê-su trả lời: "Ai uống nước này, sẽ lại khát.14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời."
15 Người phụ nữ nói với Đức Giê-su: "Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước."16 Người bảo chị ấy: "Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây."17 Người phụ nữ đáp: "Tôi không có chồng." Đức Giê-su bảo: "Chị nói: "Tôi không có chồng" là phải,18 vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng."19 Người phụ nữ nói với Người: "Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ. ..20 Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này; còn các ông lại bảo: Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa."21 Đức Giê-su phán: "Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem.22 Các người thờ Đấng các người không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do-thái.23 Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế.24 Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật."

Subcategories