3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

Trung tín trong đức tin, an toàn cho đời sau

Lúc này trời tối sớm, và vài tuần nữa ngày sẽ ngắn lại và chúng ta sẽ bắt đầu vào mùa Vọng. Chúng ta tự nhiên muốn tìm ánh sáng khi trời tối sớm. Chúng ta đặt niềm tin hy vọng ánh sáng Thiên Chúa sẽ chiếu soi trong bóng tối. Thiên Chúa không để chúng ta vấp ngã hay lạc hướng, Chúa sẽ cho chúng ta ánh sáng để soi lối chúng ta đi về với Chúa.

Nhưng, trước hết có những việc cần phải giải quyết. Vì thế cuối tuần này và tuần sau những bài sách đọc sẽ nhắc cho chúng ta nhớ là thế giới này sẽ qua đi, và những cam kết lọc lừa không thể giúp chúng ta trong những lúc gặp khó khăn hay thử thách. Chỉ Thiên Chúa là niềm hy vọng của chúng ta, đường lối Ngài chính là lối đi của chúng ta. Vì thế khi chúng ta dựa vào những cam kết gian trá, hay sai trái, chúng ta có thể quay nhìn về ánh sáng cứu độ của Thiên Chúa.

Các tác giả của Kinh Thánh muốn chúng ta để ý đến những điều khiến chúng ta tin tưởng, mạnh dạn hơn, nên lời văn thường nhắc đến “thời tận cùng” của thế giới. Chúng ta đọc thấy lời văn đó trong sách Đa-ni-en và trong phúc âm thánh Mác-cô. Từ “thời tận cùng” tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “kéo màn lên”. Sách về “thời tận cùng” muốn chúng ta nghĩ như là sự thật sẽ xảy ra, nhưng đang còn ở sau một bức màn che. Chúng ta tưởng là chúng ta trông thấy, nhưng thật ra chưa thấy. Chúng ta tưởng chúng ta biết nhưng thật ra chúng ta chưa biết gì. Và khi bức màn che mắt chúng ta được kéo lên, chúng ta có thể trong thấy sự hiện diện của Thiên Chúa, và đó là ngày Ngài đến với thế giới chúng ta.

Lời văn về “thời tận cùng” không có ý nghĩa thật, hay không có những cách nào để có thể hiểu các dấu chỉ đó. Lời văn đó cũng không dùng để tiên đoán ngày giờ và nơi các hiện tượng sẽ xảy ra. Mặc dù có những người cố gắng tìm hiểu để tiên đoán những hiện tượng đó. Thỉnh thoảng chúng ta đọc những bài tiên đoán do những người sống trên núi hay trong sa mạc cho rằng những việc họ tiên đoán là từ Kinh thánh và họ cho biết là ngày tận cùng sẽ đến. Khi những tai họa đến, con người không có hy vọng sẽ trở về tìm lại việc làm của họ, tìm lại trường học của con cái họ, vì thế giới đã cùng tận thì ai còn dựa vào toán số làm gì nữa?

Những bài văn về “thời tận cùng” không có mật mã. Nếu chúng ta biết số mật mã chúng ta có thể tiên đoán những hiện tượng trên thế giới. Trái lại lời văn đó ám chỉ một sự thật ngấm ngầm rất quan trọng cho những người có đức tin. Đối với những người Do Thái sống trong thời kỳ bắt đạo, họ có cảm tưởng như Thiên Chúa đã bỏ rơi họ. Và Daniel cam đoan với họ là sau những lúc khó khăn của thời cùng tận, Thiên Chúa sẽ thương những người trung kiên đến cùng. Nhưng, còn hơn thế nữa là Thiên Chúa sẽ không buông tay để họ có cảm tưởng như đang bị thử thách nên Thiên Chúa bảo thiên sứ Micae che chở cho họ (Dn 12:1). Vì Ngài là “thiên Thần hộ thủ”. (Micae có nghĩa là “giống như Chúa).

Khi những quẫn bách của thời tận cùng đến, dân Chúa sẽ thoát khỏi, vì Thiên Chúa sẽ che chở họ. Rồi đến thời quẫn bách ấy đấng Mê-si-a sẽ đến, Bài sách Daniel không hứa hẹn là những người tin Thiên Chúa sẽ không gặp khó khăn thử thách. Không ai có thể nhắc chúng ta điều ấy cả. Chúng ta đã biết vô số những người tốt và vô tội bị bách hại vì những kẻ độc tài trên thế giới này. Nhưng Daniel cam đoan với dân Do Thái thời đó là Thiên Chúa sẽ đến cứu thoát họ và sẽ không để họ chịu hủy diệt.

Vậy những người thời đó và chúng ta có những cam đoan gì? Điều gì đã giúp chúng ta qua những cơn thử thách về đức tin, thử thách từ bên trong và bên ngoài? Daniel không phải tự mình hứa hẹn với dân thời đó. Ông ta không nói với người Do Thái thời đó là “hãy vui lên! Mọi sự sẽ không sao. Chỉ cần kiên nhẫn”. Những gì Daniel nói với họ và với chúng ta là “Những ngày ấy, tôi, Daniel, nghe lời này của Thiên Chúa…” Lời hứa này trấn tĩnh chúng ta: “Chúng ta có lời Chúa hứa…” Vậy thì, thử hỏi Chúa có đáng tin cậy không? Chúa có sẽ giữ lời hứa không? Chúng ta có thể sống mà không trông thấy dấu hiệu nâng đỡ chúng ta không? Chúng ta có thể tiếp tục tin rằng Thiên Chúa ở bên chúng ta không? Nếu chúng ta có niềm hy vọng đó thì, với lời hứa của Thiên Chúa chúng ta có thể bền vững.

Trong bài phúc âm hôm nay Chúa Giêsu dùng lời văn “thời tận cùng” khi Chúa Giêsu nói sẽ có còn gian nan và theo đó “như thế một Con Người đi đến với mây trời…” (Dn 7:13). Khó khăn sẽ quẫn bách, hầu như vũ trụ bị xáo trộn. Những ngày quẫn bách như thế gây nên những câu hỏi thời xưa cũng như thời nay: “vậy ai nắm quyền trong vũ trụ? Thiên Chúa hay Hổn Mang?”

Hổn Mang như có sức mạnh hơn hết, nhất là khi những điều chúng ta quen thuộc và tin tưởng đều bị xáo trộn. Chúa Giêsu nhắc đến cây vả trổ hoa là dấu chỉ niềm hy vọng. Trong mùa đông không dấu gì chỉ sự chết bằng cây vả trong vườn nhà ông tôi. Nhưng hễ mùa xuân đến là lá bắt đầu nẩy mầm non, và đến mùa hè thì chúng tôi lại được có trái ngọt ăn. (thử hỏi những cây vả ấy có thể làm cho một người vô thần tin vào Thiên Chúa không?)

Những Kitô Hữu thời tiên khởi và cả chúng ta đều có thể đặt câu hỏi “vậy ai là người có quyền đến khi mọi sự sẽ cùng tận?” Chúa sẽ nói lại là “các con hãy tin lời của Ta. Thiên Chúa có quyền và Thiên Chúa biết ngày giờ sẽ đến khi nào. Trong lúc ấy các con hãy sẵn sàng đợi ngày ta trở lại và hãy tiếp tục sống trung thành với lời của Ta.”

Đó là đức tin của Kinh Thánh: Ngay giữa lúc mọi sự đều xáo trộn, Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta và Thiên Chúa sẽ lại đến trong vinh quang chiến thắng sự chết. Thật lời nói của Chúa Giêsu đến đúng lúc và đem lại niềm hy vọng cho chúng ta. Chúa Giêsu sắp vào thành Giê-ru-sa-lem và sắp bị chết. “Gian truân” mà Chúa Giêsu nói trước cho các môn đệ là gian truân sẽ đến cho chính mình Chúa Giêsu. Khi Chúa Giêsu chết thì mọi sự sẽ tan vỡ đối với các môn đệ, vậy các ông có nhớ lời Chúa Giêsu đã nói để đợi mùa xuân đến không? Hôm nay, thử hỏi chúng ta có tin vào lời Chúa Giêsu nói “lời của Ta không bao giờ mất đi”, vậy chúng ta có tin hay không?

Với sự sống lại của Chúa Giêsu, thời cùng tận đã bắt đầu. Chúng ta không biết bao giờ Chúa Giêsu sẽ trở lại. Chúng ta cũng không biết tại sao chúng ta lại phải đợi lâu đến thế. Có thể là sự chờ đợi lâu có ích cho thế giới. Có thể là Thiên Chúa cho chúng ta nhiều thì giờ chờ đợi để chúng ta có dịp sửa soạn, không phải chỉ riêng mình chúng ta, mà có lẽ chúng ta có thêm thì giờ để làm chứng về Chúa Giêsu cho thế giới, và chúng ta có thể mời thêm nhiều người đến lãnh nhận tình thương của Thiên Chúa qua Chúa Giêsu.

Trong khi chờ đợi, chúng ta sống như là Chúa Giêsu sắp trở lại. Nhưng chúng ta vẫn tiếp tục nhìn vào những dấu chỉ về sự hiện diện của Chúa Giêsu bên cạnh chúng ta qua Chúa Thánh Linh, và chúng ta sống để làm chứng cho những dấu chỉ đó. Thiên Chúa muốn mời gọi thêm nhiều người nữa biết thương yêu Đấng mà Chúa Giêsu chứng minh. Hôm nay trong thánh lễ, chúng ta mừng sự hiện diện của Chúa Giêsu trong lời kinh thánh và trong bí tích thánh thể, và chúng ta được sự cam đoan là mặc dù sự cùng tận đến như thế nào đi nữa, Chúa Thánh Linh sẽ ở bên chúng ta để nuôi dưỡng chúng ta.

chuyển ngữ FX Trọng Yên, OP

Lm. Jude Siciliano, OP

Tấm lòng cho đi

Nếu hỏi rằng ai là người có giá trị trong cuộc đời của bạn? Có lẽ không phải là người có tiền, có địa vị mà là người đã từng hy sinh cho bạn. Nếu hỏi rằng ai là người có ích với bạn? Có lẽ không phải là người có quyền lực, có danh giá mà là người tận tuỵ dìu dắt bạn. Vậy theo bạn, ai là người nghèo đáng thương nhất trong cuộc đời? Có lẽ người nghèo đáng thương nhất là người không có tấm lòng để cho. Sự ích kỷ đã đẩy họ đến bần cùng đến nỗi không mua được bạn bè, không mua được niềm vui của sự trao ban. Sự tham lam đã khiến họ chơi bần với anh em, dẫn đến sự xa cách lạnh lùng.

Có một gia đình kia rất giầu có. Một hôm ông bố dẫn con về quê với ý định cho con thấy người nghèo sống ra sao. Hai bố con ở chơi mấy ngày với một gia đình nông dân mà người ta vẫn coi là rất nghèo trong làng. Lúc trở về, ông bố hỏi con: Con đã thấy người nghèo sống ra sao? Đứa con trả lời: Cám ơn bố đã cho con thấy mình nghèo như thế nào. Còn họ thật giàu có. Ông bố hỏi lại: Tại sao con lại nghĩ thế? Đứa con trả lời: Con thấy chúng ta chỉ có một con chó, họ có tới 4 con. Chúng ta chỉ có một cái hồ cỏn con ở giữa vườn, còn họ có dòng sông dài đến vô tận. Chúng ta chỉ có mấy cái đèn ngoài vườn, còn ban đêm họ có bao nhiêu là sao sáng. Trước nhà chúng ta chỉ giới hạn ở trước sân vườn, còn trước nhà họ là không gian mênh mông đến tận chân trời. Chúng ta chỉ sống trên mảnh đất bé nhỏ, còn họ có ruộng đồng bao la thẳng cánh cò bay. Chúng ta có gia nhân phục vụ nhưng họ chăm sóc lẫn nhau. Chúng ta phải mua thực phẩm nhưng họ tự tay trồng lấy lúa rau. Chúng ta có tường rào vây quanh bảo vệ, nhưng họ có bạn hữu bảo vệ… Ông bố nghe mà cứ ngẩn ngơ người, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác trước nhận xét thật đơn sơ của đứa con.

Bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu cũng đưa ra 2 nhận định khác nhau về 2 loại người. Nhận định thứ nhất về nhóm biệt phái, đại diện cho thành phần có chức có quyền. Nhận định thứ hai về bà goá nghèo, đại diện cho những con người thấp hèn, nghèo đói. Cả hai đều lên đền thờ với hai thái độ khác nhau. Bà goá nghèo khiêm tốn. Nhóm biệt phái giầu có lại kiêu căng. Bà goá nghèo dâng tất cả những gì mình có cho Chúa. Người biệt phái chỉ có lòng tự cao tự đại.

Nhóm biệt phái là những công chức đền thờ nhưng không đóng góp của chung mà chỉ lợi dụng để lấy của chung thành của riêng. Họ là những người giàu có nhưng lòng họ chất chứa đầy sự kiêu căng, vụ lợi đến nỗi không còn lòng quảng đại để cho đi.

Bà goá nghèo tiền, nghèo của nhưng lại giàu tấm lòng. Bà thành kính lên đền thờ với thái độ khiêm tốn thẳm sâu trước nơi cực thánh của Chúa. Bà đã dâng tất cả những gì mình có cho Chúa, dù chỉ là một đồng xu nhỏ bé.

Chúa đã khen ngợi tấm lòng bà goá. Một tấm lòng chân thành và quảng đại. Chúa nhận định giá trị về một con người không dựa trên những gì họ có mà dựa trên những gì họ đã cho đi. Kẻ không bao giờ biết cho đi mới thực sự là người nghèo khốn cùng.

Thực vậy, sự giầu có về vật chất đôi khi làm con người nghèo khó về tinh thần. Sự nghèo khó vật chất đôi khi lại thảnh thơi tâm hồn. Kẻ tham lam thường nghèo đói về lòng nhân ái. Kẻ biết sống khó nghèo thường chứa chan tình yêu. Kẻ có chức có quyền dễ mất tính bao dung và thương xót. Kẻ khốn cùng dễ cảm thông với bất hạnh bần cùng của tha nhân.

Xét cho cùng, sự giàu có không hệ tại ở đồng tiền hay chức vị. Sự giàu có hệ tại ở những tương quan với đồng loại. Do vậy, điều mà con người cần tích luỹ không phải là của cải trần gian mà là tình yêu đối với tha nhân. Điều mà con người thu gom không phải là hàng hoá xa xỉ phẩm mà là từng nghĩa cử cao đẹp chúng ta dành cho đồng loại.

Kẻ có chức có quyền càng bị kết án nặng hơn nếu họ không biết dùng địa vị của mình để phục vụ một cách vô vị lợi. Chính họ không những phải trả lẽ trước mặt Chúa về sự ích kỷ của mình, mà còn mất đi cơ hội mua lấy bạn hữu Nước Trời bằng tấm lòng rộng lượng của mình.

Mỗi người chúng ta chỉ là những quản lý của Chúa, hãy biết đón nhận trong sự khiêm tốn và biết trao ban cho anh em theo khả năng và hoàn cảnh của mình. Xét cho cùng, tất cả những gì chúng ta có, đều nhận lãnh do lòng quảng đại của Chúa. Do đó, những gì chúng ta cho, không phải chúng ta cho của riêng mình, nhưng là giao lại cho người khác những gì thuộc về Chúa. Dù vậy Chúa vẫn thưởng công cho chúng ta. Vì Chúa đã từng nói: “Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.” Amen.

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

TỪ THIỆN

(Cv 17, 10-16; Dt 9, 24-28; Mc 12, 38-24).

Từ thiện là việc làm công đức. Người có lòng nhân ái thường hay bố thí, làm từ thiện và thi hành bác ái. Sống bác ái là sống yêu thương chia sẻ cả tình, nhân và nghĩa. Đức ái hay đức mến là một nhân đức cao đẹp của con người. Mỗi người được sinh ra đời trong một hoàn cảnh khác nhau. Trong cuộc sống có người giầu kẻ nghèo, người sang kẻ hèn và người thành kẻ bại. Đời người mong manh như hạt sương dễ tan. Không có ai sống mãi trên đời. Cuộc sống của chúng ta giống như những lượn sóng nhấp nhô trồi lên rồi hạ xuống. Không ai là một hòn đảo, chúng ta sống là sống cùng và sống với người khác. Mọi người cần sống nương tựa, cần hỗ tương nhau và nương nhờ nhau. Lòng từ thiện trở thành mối giây liên kết giữa người với muôn loài. 

Câu chuyện của tiên tri Êlia chạy trốn vào thành giữa cơn đói kém, ông đã gặp bà góa nghèo đang đi lượm củi và ông gọi bà ấy và nói: "Bà làm ơn đem bình lấy cho tôi chút nước để tôi uống”(Cv 10, 10). Tuy gia đình bà nghèo túng, bánh bột sắp cạn hết nhưng bà cũng sẵn sàng cung cấp bánh cho người xin ăn. Không phải ai cũng có thể cử xử tốt lành như bà. Nếu chúng ta ở trong trường hợp này, có lẽ chúng ta đã chần chừ và có khi chối quanh. Tự nghĩ rằng gia đình con cái của tôi còn chưa đủ ăn, làm sao có thể giúp cho người khác. Thế là chúng ta đóng kín cửa tâm hồn trước nhu cầu cần thiếu của tha nhân. Bà góa có thái độ rộng lượng và quảng đại, nên lòng từ của bà đã sinh trổ hoa trái. 

Trong bài Phúc âm, kể câu chuyện Chúa Giêsu đến giảng dạy trong hội đường. Chúa quan sát những hành vi cử chỉ của những thầy Luật sĩ, Biệt phái, Tư tế và mọi người đến cầu kinh. Chúa đã rút ra những bài học thực tiễn để áp dụng cuộc sống đạo. Con người chúng ta thường đánh giá con người và sự việc theo hình thức dáng vẻ bề ngoài, hơn là quan tâm đến nội tâm. Chúa Giêsu dẫn mọi người đi vào tâm ý của mình và vạch ra cách thế tế nhị, Ngài nói rằng: Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rôma (Mc 12, 42). Hai đồng tiền kẽm chẳng có là bao so với khối tiền trong thùng dâng cúng. Số lượng qúa nhỏ để nêu danh và ghi công. Chúa Giêsu đã nhìn tận đáy tâm hồn chân chính của người đàn bà góa đó.   

Với chút ít tiền dâng cúng, nhưng đó là số tiền bà đang cần. Bà đã bỏ vào thùng tất cả những gì bà có. Bà không lo lắng cho ngày mai sẽ ăn gì, uống gì và mặc gì. Có nghĩa là bà đã phó thác hoàn toàn trong bàn tay Chúa quan phòng. Bà đã buông xả tất cả cái đang có, bán nghèo mua giầu. Không sai, Chúa Giêsu nhắm trúng vào tim đen của mọi người. Nghe thế, có lẽ ai trong chúng ta cũng giật mình. Có rất nhiều lần chúng ta đã làm từ thiện, bác ái và bố thí. Nhiều việc từ thiện của chúng ta đã được ghi công bảng vàng. Chúng ta làm việc bác ái nhưng lại đòi hỏi nhiều điều kiện. Nói thật, so với những gì chúng ta đang sở hữu, tất cả việc từ thiện và bố thí của chúng ta mới chỉ là một góc nhỏ. Biết rằng đồng tiền nào cũng do công lao mồ hôi nước mắt kiếm tìm nên rất quí. Đôi khi tính toán rằng chúng ta có nhiều tiền nhưng chưa đủ, làm sao có dư. Đợi khi nào có dư đủ, sẽ giúp người. 

Tác giả của thơ gởi tín hữu Do-thái viết: Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét (Dt 9, 27). Mỗi người chỉ có một đời để sống. Sống dài hay sống ngắn không quan trọng cho bằng sống có ý nghĩa. Sống ý nghĩa nhất là sự hiến thân và cho đi. Cho đi như Chúa Giêsu Kitô. Ngài đã hiến dâng thân mình làm hy tế trọn vẹn để tẩy xóa tội lỗi nhân loại. Ngài đã dâng hiến tất cả đến giọt máu cuối cùng. Không phải máu chiên bò hay của cải thế thân, mà chính là sự sống con người toàn vẹn. 

Chúng ta được mời gọi thực thi bác ái trong việc hành đạo. Dù là một việc nhỏ giúp người, ta sẽ không mất phần thưởng. Chúa kể rằng tất cả những gì chúng ta đã làm cho những người nghèo, kẻ bé mọn và người khổ đau là chúng ta đang làm cho chính Chúa. Vậy mà đôi khi chúng ta quá lo lắng cho bản thân và gia đình riêng tư mà quên đi nghĩa vụ phải có đối với tha nhân, giáo hội và xã hội. Chúng ta sợ mất thời giờ phục vụ công ích. Chúng ta ngại ngùng tham gia phục vụ trong các đoàn thể của cộng đoàn và giáo xứ. Chúng ta không dám xả thân giúp đỡ vì sợ phải hy sinh, liên lụy, tốn kém, mất mát và thua lỗ. Nhiều khi chúng ta chỉ muốn thu gom cho cuộc sống mình vì sự ích kỷ hẹp hòi. Chúng ta chỉ thích làm tính cộng mà không muốn làm tính trừ.

Lạy Chúa, tất cả chúng con đang được ngụp lặn trong ân tình của Chúa và tha nhân. Xin cho chúng con biết rộng lòng chia sẻ cuộc đời với anh chị em chung quanh. Bất cứ điều gì chúng con đã lãnh nhận một cách nhưng không, xin cho chúng con cũng biết cho đi cách nhưng không.

 

Lm. Giuse Trần Việt Hùng.

Làm việc nhỏ với một tình yêu lớn

Chúa Giê-su quan sát những người bỏ tiền dâng cúng cho đền thờ. Ngài thấy có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo bỏ vào hòm tiền hai đồng xu nhỏ, nhưng đó là tất cả những gì bà có để nuôi thân.

Lễ vật của bà tuy bé mọn nhưng gói ghém rất nhiều tình yêu. Chính vì thế, Chúa Giê-su cho rằng bà goá nầy đã dâng cho Thiên Chúa nhiều hơn tất cả những người khác, vì tuy họ bỏ nhiều tiền nhưng không nhiều tình yêu.

 

Giá trị của một món quà

Đối với Chúa Giê-su, giá trị của món quà không tuỳ vào giá mua của món quà đó nhưng tuỳ vào mức độ yêu thương mà người cho đặt vào trong món quà. Giá trị của một món quà có thể tăng lên nhiều lần nếu món quà đó được trao ban với tấm lòng yêu thương và trân trọng.

Nếu có ai đó nài xin ta một số tiền mà ta chẳng muốn cho, nhưng vì người ấy cứ nài nỉ mãi khiến ta bực mình nên cuối cùng, để tống cổ người đó đi, ta đem cả cọc tiền lớn, bực bội ném cho người ấy và nói: “Tiền đây! Lải nhải hoài!” Chắc chắn người kia, dù nghèo thiếu đến mức nào đi nữa, sẽ quay mặt bỏ đi, mang theo một mối căm hờn.

Trái lại, khi đứa con nhỏ trong nhà muốn mừng kỷ niệm hôn phối ba mẹ mà chẳng có gì để dâng, em lặn lội vào rừng ngắt một bông hoa dại nhỏ bé, đem về dâng lên ba mẹ với tất cả tình yêu thương. Chắc chắn ba mẹ em rất cảm động vì cảm nhận được nhiều yêu thương chứa đựng trong món quà bé nhỏ nầy.

Điều làm đẹp lòng Thiên Chúa không phải là dâng cho Ngài nhiều món quà lớn nhưng là dâng tình yêu lớn. Dâng cho Thiên Chúa những món quà lớn hay những thành quả lớn lao vĩ đại mà thiếu vắng tình yêu, thì lễ vật đó sẽ trở thành trống rỗng và chẳng có giá trị gì.

Thánh Phao-lô tông đồ, trong thư gửi tín hữu Cô-rinh-tô, từng khẳng định cách mạnh mẽ điều nầy: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (I Cr 13, 1-3).

Làm việc nhỏ với một tình yêu lớn

Mẹ thánh Tê-rê-xa Calcutta cảm nhận sâu sắc bài học trên đây của Thánh Phao-lô nên mẹ không chủ trương làm những công việc to lớn, nhưng thường xuyên làm những việc nhỏ với tình yêu lớn. Mẹ còn nói: “Chúng ta không thể làm những việc lớn lao, nhưng chúng ta có thể làm những việc nhỏ với tình yêu lớn lao.”

Trong bức thư gửi cho đấng đáng kính là cố Hồng y Fx. Nguyễn Văn Thuận, mẹ Tê-rê-xa viết: “Điều đáng kể không phải là số lượng công việc ta làm, nhưng là mức độ yêu thương mà ta đặt vào trong mỗi công việc.”

Thế nên, khi tiếp xúc với bất cứ ai, mẹ Tê-rê-xa đem hết lòng yêu thương người ấy như thể đó là người mà mẹ yêu thương nhất đời.

Cảm hứng từ bức thư trên đây của mẹ Tê-rê-xa Calcutta, đấng đáng kính Fx Nguyễn Văn Thuận quyết tâm “thực hiện từng công việc nhỏ bé hằng ngày, từng cuộc tiếp xúc hằng ngày với tình yêu lớn” và biến những phút sống hiện tại thành những giây phút đẹp nhất cuộc đời, như ngài viết: “Tôi quyết sống từng giây phút hiện tại và đong đầy tình thương vào đó” và ngài quyết định: “Tôi sẽ nắm lấy những cơ hội đến với tôi mỗi ngày, để làm những việc bình thường một cách phi thường” (Trích: “Năm chiếc bánh và hai con cá”).

Lạy Chúa Giê-su,

Chúng con tài hèn sức yếu nên không thể làm được những việc lớn lao phi thường, tuy nhiên chúng con có thể làm cho Chúa vui lòng nếu chúng con biết làm những việc nhỏ với tình yêu lớn.

Xin giúp chúng con chú tâm thực hành những việc nhỏ như chăm sóc, thăm hỏi nhau và làm những việc bổn phận hằng ngày… với một tình yêu lớn; nhờ đó, cuộc đời chúng con sẽ trở thành của lễ thánh thiện tỏa ngát hương thơm dâng lên ba Ngôi Thiên Chúa. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 

TIN MỪNG Mác-cô 12, 41-44

Đức Giê-su ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rô-ma. Đức Giê-su liền gọi các môn đệ lại và nói: “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.”

YÊU MẾN

 (Đnl 6, 2-6; Dt 7, 23-28; Mc 12, 28b-34). 

Thiên Chúa là tình yêu: Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4, 8). Yêu là cốt lõi của cuộc sống. Vì tình yêu, Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ muôn loài. Tình yêu của Đấng Tạo Hóa được thông ban tới mọi loại thụ tạo. Mỗi loài thụ tạo đều có dấu ấn của tình yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa tạo dựng con người giống hình ảnh Chúa. Con người có linh hồn, trí khôn, tự do và tình yêu. Mọi sinh vật đều chìm đắm trong biển tình liên đới với nhau. Thiên Chúa mà chúng ta tôn thờ là Đấng Vô Hình, chúng ta có thể nhận biết Người qua muôn hình vạn trạng của vũ trụ vạn vật và con người. Người là Thiên Chúa hằng hiện hữu và là Chúa của kẻ sống. 

Yêu mến Thiên Chúa là giữ các chỉ thị và huấn lệnh của Người. Những chỉ thị và huấn lệnh được tóm kết trong Mười Điều Răn và được thu gọn trong hai điều quan trọng là yêu mến Thiên Chúa và yêu thương mọi người. Như thế, tất cả luật lệ và các giới răn đều xoay quanh chữ ‘Yêu’. Yêu là ái, bác ái, đức ái, nhân ái và tâm ái. Yêu là nền tảng của mọi sinh hoạt. Yêu phát khởi từ tâm. Tâm thiện làm thăng hoa cuộc đời nên cao thượng và thành tựu.

Chúng ta có thể suy về trái tim yêu thương qua bốn điều: Từ, Bi, Hỉ và Xả. Tâm từ là lòng thương xót. Thương tất cả mọi loài. Thương yêu không chỉ những người trong gia đình mà tình yêu lan trải ra mọi người chung quanh. Yêu cả người ân, kẻ oán. Yêu cả người gây thù dù chuốc oán. Tâm bi là xót thương trước những khổ đau của người khác. Biết cảm thông và xoa dịu những nỗi đau và sầu khổ của tha nhân. Tâm hỉ là vui vẻ trước sự hạnh phúc và thành công của người khác. Biết chung vui và chúc mừng những thành đạt và sự may mắn của người. Người có tâm hỉ thì không ích kỷ, hạn hẹp, ghen tương và đố kỵ. Tâm xả là không luyến ái hay chấp nhất. Giữ thái độ thanh thản và an vui tự tại trong tâm hồn. Từ bi hỉ xả sẽ giúp cho tình yêu tha nhân được triển nở và hoan lạc.

Chúa Giêsu phát khởi đạo tình yêu. Đạo của yêu thương. Yêu nhau như Thầy đã yêu. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta bước và học theo vì Ngài hiền lành và khiêm nhượng trong lòng. Còn tình yêu nào cao quý hơn tình của Chúa Giêsu hiến mạng vì chúng ta. Tình yêu được minh chứng bằng giá máu và sự sống. Tình yêu của Chúa Giêsu thật cao cả vĩ đại vì đã dâng hiến trọn vẹn. Chúa đã sống với tâm đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả và dám chết cho tình yêu.

Trong bài phúc âm, Chúa Giêsu lập lại hai giới răn nồng cốt của đạo: Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi (Mc 12, 30). Thiên Chúa hiện diện nhưng con người không thể diện kiến và đụng chạm bằng giác quan trần tục. Để biểu hiện tình yêu, Chúa mở một cửa ngõ để chúng ta cùng cảm thông: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình (Mc 12, 31). Yêu mến Thiên Chúa và yêu thương đồng loại được gắn liền với nhau như đồng tiền hai mặt. Chúng ta không thể nói rằng chúng ta yêu mến Thiên Chúa mà ghét đồng loại. Vì mỗi con người được tác tạo đều mang hình ảnh của Thiên Chúa. Yêu người cũng như yêu chính mình.

Đối với chúng tayêu người thân cận như chính mình là một đòi hỏi quá khó. Kinh nghiệm cuộc sống cho chúng thấy tình yêu có mức độ. Trong cuộc sống dân gian, trái tim yêu thương được diễn tả theo hình trôn ốc, từ trong cốt lõi ra ngoài. Yêu vợ chồng, con cái, gia đình, họ hàng thân tộc, đồng môn, bạn bè, người thân, kẻ nghĩa, yêu người cùng nhóm hội, cùng chí hướng, cùng tôn giáo, yêu đồng bào cùng quê hương xứ sở và yêu đồng loại… Chúng ta có thể cảm nhận thế nào là tình yêu khi chúng ta xa vắng, tam biệt, ly biệt hay vĩnh biệt người mình yêu. Càng yêu nhiều càng nhớ thương nhiều. Chỉ có những tâm hồn đại ái biết quên mình mới có thể yêu người thân cận như chính mình một cách vô điều kiện.

Trong thơ gởi tín hữu Do-thái, tác giả đã diễn tả hình ảnh hiến tế của Chúa Giêsu linh mục thượng phẩm. Ngài đã dâng hy lễ đền tội cho dân bằng chính sự sống của mình. Tình yêu dâng hiến trọn vẹn để đền tội thay cho dânCác linh mục được thay mặt Chúa dâng lễ tế hy sinh là một việc cử hành thánh thiện. Các linh mục không chịu đau khổ và không đổ máu, vậy mà đôi khi còn nóng nảy và bực bội chỉ vì vài sơ xót nho nhỏ trong khi cử hành thánh lễ. Tất cả chúng ta hãy hòa trộn tình yêu trong việc cử hành và tham dự thánh lễ để sinh ích lợi cho mình, cho mọi người và cho các linh hồn đang chờ mong ân phúc.

Đức mến là nòng cốt. Mọi sự trên trần gian sẽ qua đi, chỉ có tình yêu tồn tại mãi. Xin cho chúng con biết chia sẻ và sống dấn thân trong tình yêu. Để khi mãn cuộc đời dưới thế, chúng con sẽ được hưởng nếm tình yêu dịu ngọt của Chúa, vì Chúa là tình yêu.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng.

Subcategories