16. Sống Tình Thức

SỐNG TỈNH THỨC - DẤU CHÂN CỦA CHÚA

 

  •  
    nguyenthi leyen
     
    Tue, Aug 25 at 11:42 PM
     
     
     
     
     
    Ảnh cùng dòng


    NHỮNG DẤU CHÂN CỦA CHÚA

    Có bao giờ bạn cảm thấy như Chúa bỏ rơi bạn không ? Dường như Chúa đi đâu vắng trong lúc bạn thật là cần thiết đến Ngài. Giữa những lúc túng ngặt về kinh tế hay đau yếu bệnh tật, bạn kêu cầu: Lạy Chúa, xin đừng để chuyện này xảy đến cho con. Nhưng chuyện vẫn xảy ra. Dường như lúc nào bạn cũng đứng về phe thua bại. Bạn hãy nghe câu chuyện sau đây:
     
    Ðêm nọ, có một người thấy một giấc mơ lạ. Anh ta thấy mình đang đi trên bãi biển với Chúa. Nhìn lên bầu trời, anh thấy những cảnh sống trong đời mình được chiếu lên. Trong mỗi cảnh sống trong đó, anh ta thấy có hai đôi dấu chân in trên cát, một đôi của anh, còn đôi kia của Chúa.
     
    Khi cảnh cuối cùng trên đời anh chấm dứt, anh nhìn lại những dấu chân đã in trên cát và anh nhận thấy rằng, rất nhiều lần trong cuộc đời anh, anh thấy chỉ có một đôi dấu chân mà thôi. Anh cũng để ý và thấy rằng đó chính là những lúc cuộc đời anh xuống thấp nhất, với thời gian buồn chán đau khổ nhất. Anh hoang mang hỏi Chúa:
     
    - Thưa Chúa, Chúa đã nói rằng một khi con quyết định theo Chúa thì Chúa sẽ cùng bước đi với con suốt mọi chặng đường của đời con. Nhưng con nhận thấy rằng, trong những giai đoạn rối ren nhất của đời con, chỉ vẻn vẹn có đôi chân của con mà thôi. Con không hiểu tại sao những lúc con cần đến Chúa hơn cả lại chính là lúc Chúa từ bỏ con.
     
    Chúa ôn tồn trả lời:
     
    - Hỡi con yêu dấu, ta yêu thương con và không bao giờ lìa bỏ con đâu. Trong những thời gian thử thách nhất, khi con thấy chỉ có một đôi dấu chân, đó chính là lúc Ta bồng ẵm con trên tay Ta. Dấu chân trên cát lúc ấy là của chính Ta chứ không phải của con đâu.
     
    Bạn thân mến, xin bạn hãy nhớ lời Chúa Giêsu dạy: "Ta chẳng lìa con, chẳng bỏ con bao giờ" (Dt 13,5).
     
    Như vậy, chúng ta có thể nói rằng: "Chúa hằng hữu bênh vực tôi, tôi còn sợ loài người làm chi tôi nữa" (Tv 118,6).
     
    Khi bạn rối trí ngã lòng và cảm thấy lạc lõng, hãy nhìn cho kỹ bạn sẽ thấy chỉ còn có đôi chân của Chúa trên bãi cát của cuộc đời bạn, vì Chúa đang bồng ẵm bạn trên tay Ngài.
    SUY TƯ VÀ CẦU NGUYỆN
     

 

SỐNG TỈNH THỨC - CN21TN-A-BẠN MƠ

  •  
    Mo Nguyen
     
    Sun, Aug 23 at 1:50 AM
     
     

    CN 21A: Phêrô là Đá : Đá quy tụ, Đá hợp nhất.

    Nếu ta nhìn vào Tivi cách đây hơn chục năm, hoặc xem băng hình ghi lại các chuyến đi của Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II trong những năm cuối đời của ngài, hẳn ta sẽ nhìn thấy cây gậy của Đức giáo hoàng trở thành hữu dụng. Ngài chống và tựa trên chiếc gậy đó. Gậy không còn là biểu tượng cho quyền chăn chiên, quyền dẫn dắt, như ta thấy các giám mục vẫn thường dùng. Vị Giám mục Roma Gioan Phaolô II  dùng gậy để chống đỡ chính mình.
                Hình ảnh ĐGH Gioan Phaolô II về già chống và tựa cả thân mình trên chiếc gậy đó, có diễn tả được điều mà Tin Mừng hôm nay nói về Phêrô mà ĐGH là người kế vị không : Con là Đá, trên đá này, Thầy sẽ xây dựng Hội Thánh của Thầy và cửa địa ngục không thể phá được. Nếu Phêrô là Đá Tảng, thì kẻ kế vị người, cũng là tảng đá. ĐGH là đá tảng.
                Nếu tảng đá được ví như cái gì chắc chắn, cho người khác tựa nương vào, thì với hình ảnh ĐGH Gioan Phaolô II khi vượt qua ngưỡng cửa bát tuần, đã bết bát về sức khoẻ thể lý, lúc nào cũng phải tựa nương vào chiếc gậy, có còn là hình ảnh của tảng đá cho người khác tựa nương hay không ? Hẳn là khó hình dung tưởng tượng.
                Nhưng tảng đá, ngoài ý nghĩa vững chắc, tựa nương, thì tảng đá còn có một ý nghĩa khác không kém phần quan yếu. Đó là : Tảng đá là nơi qui tụ. Tảng đá là nơi hợp nhất.

    1. Tảng đá qui tụ

    Tảng đá như nền nhà, quy tụ gạch xi măng, cát, sắt… để làm thành căn nhà. Căn nhà trong mạch ý Tin Mừng hôm nay chính là Hội Thánh.
    Nếu Đức Gioan Phaolô không diễn được hình ảnh tảng đá cho người ta tựa vào, thì hình ảnh cụ già Wojtyla trên 80 tuổi vẫn và có khi còn hơn thế nữa, trở nên rõ nét hình ảnh của tảng đá qui tụ. Bởi tâm lý chung, nhất là tâm lý người Việt, người ta quy tụ về nhà người bô lão, chứ không tụ họp nơi nhà đám trẻ (giống như Tết nhất tới, người ta qui tụ về nhà ông bà để chúc thọ). Người bô lão là yếu tố thuận lợi để tụ hội, hợp nhất.
    Chẳng thế mà, tuy tuổi đã cao, rất cao, lại yếu ớt, nhưng Đức Gioan Phaolô đi đến đâu là qui tụ cả rừng người đến đó (ta không nhắc đến ĐGH đương kim vì tuy đã quá bát tuần, nhưng còn mạnh khoẻ chưa phải “chống” gậy !). Chục nghìn, trăm nghìn, nghìn nghìn. Triệu này triệu kia. Điều này thật đúng khi giới trẻ ùn ùn kéo tới với ngài trong các đại hội giới trẻ. Mehico, St Louis, Compostella, và đặc biệt tại Đại Hội giới trẻ tại Paris, Pháp 1997. Đặc biệt không phải vì con số, mà vì sức lôi cuốn không ngờ.  Trước ngày Đại Hội ít lâu, một nhà báo vô thần đã nhận xét về bầu khí xuống dốc của người Công giáo ở Pháp, và đoan chắc rằng đại hội sẽ rất ít người. Và với con số may ra được khoảng 100.000 người đến dự, thì bõ bèn gì để một vị giáo chủ già nua phải lần mò chống gậy sang tận Paris cho tốn công tốn sức. Nhưng rồi chuyện kinh ngạc đã xảy ra: Trên một triệu người trẻ tuốn về qui tụ tại Paris để gặp gỡ ĐGH, tảng đá qui tụ. Đại Hội sau đó 2000, con số bạn trẻ tụ họp tại Roma vượt xa con số này, trở thành kỉ lục với hơn 3 triệu người tham dự thánh lễ bế mạc.  Ấy là ta chỉ kể tảng đá Phêrô qui tụ bạn trẻ, còn cả người lớn nữa, thì con số hẳn là hơn nhiều. Cụ thể, cụ già Wojtyla (tức ĐGH Gioan Phaolô 2) về thăm quê hương Balan lần thứ 9, qui tụ cả rừng người : hơn 3 triệu người tham dự thánh lễ tại Krakovia, giáo phận cũ của ngài trước khi về làm giám mục Roma. Một ông già qui tụ được bạn trẻ, lại nhiều người đến như thế, nghĩa là gì, nếu ngài không phải là tảng đá qui tụ.
    Phát ngôn viên Tòa Thánh lúc đó, tiến sĩ Navaro Valls đã nhận xét : “Sức khỏe của ngài xuống hẳn, nhưng cảm ơn Chúa, điều đó không cản trở công việc của ngài. Tay bị run (vì bệnh Parkinson) phát âm nhiều chữ không rõ, nhưng đây có khi lại giúp ngài nói được với dân chúng hùng hồn hơn ở chiều kích mới.”  “Cảm tưởng của tôi,” lời giáo sư Navaro Valls, “là khi người ta thấy tay ngài run, thì mọi thành quách bên trong của họ bị sụp đổ hết. Cánh tay run, đôi chân không vững phải tựa vào gậy lại có tác dụng mạnh hơn thân hình cường tráng của ngài cách đây hơn 20 năm khi mới lên nhận nhiệm vụ kế vị Phêrô tảng đá.” Phêrô là tảng đá, tảng đá quy tụ. Hình như càng già càng có khả năng quy tụ ! Nói thế không có nghĩa vị giáo hoàng trẻ tuổi thì ít có khả năng quy tụ hơn, nhưng muốn nói : đã là giáo hoàng, đấng kế vị Phêrô Tảng Đá, thì cũng là tảng đá quy tụ muôn người.

    2. Tảng Đá Hợp nhất.
    Qui tụ và hợp nhất có nét giống nhau, nhưng ta tạm phân biệt như sau: qui tụ là từ nhiều nơi trên khắp mặt địa cầu này hội tụ về một chỗ. Hợp nhất là cho dẫu phân tán ở khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng vẫn hướng về một người, một đích để hợp nhất. Phêrô là đá tảng hợp nhất.
    Khi gọi Phêrô là Đá, trên nền đá này “tập kết” (quy tụ) gạch cát ximăng xây nhà Giáo Hội, Chúa Giêsu còn nói thêm: “quyền lực hỏa ngục không thể phá được.”
                Phân tích có vẻ chú giải Kinh Thánh một chút, ta thấy trong hỏa ngục có ma quỷ.  Hỏa ngục không thể phá đổ được, tức ma quỷ không thể lật nhào Hội Thánh được. Mà ma quỷ tiếng Hilạp là Diabolos  (dia: xuyên qua; bolein=bolo=ném), tức kẻ gây chia rẽ, kẻ gây rối.
    Trong ý hướng tảng đá hợp nhất, ta sẽ diễn dịch lại lời Chúa Giêsu như sau: Con là Phêrô nghĩa là tảng đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây một Giáo Hội duy nhất, Kẻ Phá Rối, kẻ gây Chia Rẽ không đời nào phá vỡ nổi sự hợp nhất ta xây dựng.
    Thử điểm lại các tôn giáo trên thế giới, và cách riêng Kitô giáo thôi, ta thấy không có Hội thánh nào khác ngoài Hội Thánh Công Giáo Roma có sự hợp nhất hữu hình này.
    Ví dụ Anh Giáo, với cơ cấu có 7 Bí Tích như công giáo (như về con số 7 chứ không phải như về tính thành sự), họ có 27 Giáo Hội khắp nơi. Nhưng họ đâu có một con người hữu hình, một điểm nhắm cụ thể để họ hướng về đâu. Anh Giáo tại Mỹ, đâu có lệ thuộc gì Anh Giáo tại Anh quốc là nơi phát sinh ra Anh Giáo. Anh Giáo tại Úc không liên hệ gì tới Mỹ, tới Anh. Họ toàn quyền tổ chức, họ phong chức giám mục cho cả người nữ nữa, điều mà Anh Giáo gốc tại Anh Quốc chưa dám (chỉ mới phong chức linh mục cho nữ thhôi).
    Ví dụ như Chính Thống với 13 Lễ chế khác nhau, và ngay cả cùng một lễ chế, như lễ chế Byzantin mà ở 2 nước khác nhau thôi, thì Chính Thống Rumani chẳng cần hướng lòng mình về Chính Thống Nga. Chính Thống Nga chẳng cần ngó xem Chính Thống Constantinop (hiện ở Thổ Nhĩ Kì, nôi của Chính Thống Giáo) làm gì để noi theo. Mỗi nước có một giáo hội Chính Thống độc lập. Họ có liên kết với nhau cũng rất lỏng lẻo, và chỉ là liên kết trên phiên họp lâu lâu (mấy trăm năm…) một lần.
    Còn Tin Lành thì càng khó thấy sự hợp nhất. Mấy trăm giáo phái khác nhau là mấy ngàn thế giới: nào là Lutheran, Presbyterian, Methodist, Baptist, Phục Lâm ngày thứ 7… Mỗi giáo phái là một thế giới, mà hơn thế nữa, mỗi giáo phái tại mỗi nước, lại không lệ thuộc gì, không hợp nhất gì với cùng một giáo phái đó, tại các nước khác. Ranh giới quôc gia phân chia luôn ranh giới đạo giáo. (Và còn nhỏ hơn, trong cùng một nước, mà tỉnh này khác tỉnh kia. Vd: Hội Thánh Tin Lành Trần Hưng Đạo và Hội Thánh Tin Lành Tân Bình, đâu nhất thiết phải hợp nhất với nhau.)
    Tóm lại các Hội Thánh kể trên chỉ có cấp quốc gia mà không có cấp hoàn vũ. Trong khi đó, Hội Thánh Công Giáo, dù ở chân trời góc biển nào, dù màu da khác nhau tương phản, đều qui về, đều hợp nhất dưới một con người hữu hình, mang danh hiệu đấng kế vị Phêrô, Tảng Đá hợp nhất.  Đây là nét trổi vượt, tính hơn hẳn, là lợi thế của Hội Thánh Công Giáo Roma trên con đường hợp nhất Kitô hữu, đến nỗi có thành ngữ, đường nào cũng dẫn tới Roma.  
    Sách Giáo Lý Chung, số 882, nói về ĐGH như sau: “Đức thánh cha, giám mục của Roma, kẻ kế vị Phêrô, là nguồn mạch và nền tảng hữu hình và vĩnh cửu về sự hợp nhất giữa các giám mục và sự hợp nhất của toàn thể cộng đoàn tín hữu.”
                  Anh là Phêrô nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy. Ta đã diễn dịch lại rằng “Anh là Phêrô nghĩa là tảng đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây một Hội Thánh duy nhất, tên Phá Rối, tên Gây Chia Rẽ không đời nào phá vỡ nổi sự hợp nhất Thầy xây dựng.”
                Trong Kinh Tạ ơn của bất cứ thánh lễ nào, cử hành bằng bất cứ ngôn ngữ nào: Tây Tàu Mỹ, Lào, Campuchia, K’hor, H’Mong… đều có một lời cầu cho ĐGH, Tảng Đá hợp nhất. Ta hãy đặc biệt hợp lòng. Và ta hãy long trọng tuyên xưng rằng ta tin vào một Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền, mà trong đó nét trổi vượt chính là sự hợp nhất, do bởi có ĐGH là đá tảng hợp nhất, tảng đá qui tụ. Amen.

    Anphong Nguyễn Công Minh, ofm


     

SỐNG TỈNH THỨC - BẠN MƠ--ĐỨC TIN MẠNH

  •  
    Mo Nguyen
    Sat, Aug 15 at 4:27 PM
     
     

    CN 20A. Đức tin mạnh, đức tin yếu. Làm sao để yếu thành mạnh

     

    Có một lời ca mà ta nghe rất quen, của Y-Vân : “Lòng mẹ bao la như biển thái bình dạt dào, Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào.” Lời ca đó có thể dẫn ta đến một người mẹ mà bài Tin Mừng hôm nay nhắc tới : bà mẹ người ngoại, người Canaan. Bà bất chấp tất cả, bất chấp nhục nhã để đi van xin cho con gái của bà b qu ám được cha lành. Chc bà này đã đi nhìu thy, chạy nhiu thuc mà tin mất tật mang. C xem cách mô t trong bài Tin Mừng hôm nay thì rõ. Bởi vì ln đến vi ông thy Giêsu này, bà đã t ra lão luyn trong ngh van xin đến độ Chúa phi khen : “Lòng tin của bà mnh tht !” Thật đẹp, tht phúc biết bao nếu Đức Giêsu cũng nói câu đó vi tôi, “Lòng tin của con mạnh tht !” Nói như thế, tức là có nhng người “lòng tin ca ngươi yếu quá !” Vậy ta s tr li 2 câu hi : (1) Tại sao có người lòng tin mạnh, có người lòng tin yếu ; và câu (2) quan yếu hơn : nếu lòng tin yếu, có cách nào làm cho mnh không ?

     

    1. Tại sao có người lòng tin mạnh, có người lòng tin yếu.

    Ta phải giới hạn để nâng câu hỏi này lên hàng “thiêng liêng.” Đức tin khác lòng tin. Giữa người với người là lòng tin. Giữa người với đấng Tối Cao là đức tin. Tại sao có những người đức tin thật mạnh mà có những người đức tin yếu kém. Hỏi đổi lời : “Tại sao có những người dễ dàng tin vào Chúa vào Mẹ. Còn có những người cảm thấy rất khó khăn để tin Chúa tin Mẹ ?”

    Câu hỏi này cũng giống như câu hỏi : Tại sao có những người thật mập mạp khoẻ mạnh lại cũng có những người khẳng khiu ốm yếu ?

    Họ khẳng khiu ốm yếu là do cha mẹ họ. Họ thừa hưởng một thân xác eo xèo của mẹ của cha. Cha nào con nấy. Cha gầy gò, con ốm yếu. Nhưng cũng có những người ốm yếu vì chính họ không biết chăm sóc sức khoẻ cho chính mình.

    Điều đúng cho sức khoẻ thể lý thế nào thì cũng gần đúng cho sức khoẻ tâm linh, tức đức tin của chúng ta thể ấy. Một số người đức tin yếu kém là do cha mẹ tổ tiên của họ. Cha mẹ có đức tin loại ba cọc ba đồng thì đức tin của con cái làm sao mạnh mẽ được. Đức tin của cha là loại “con quì lạy Chúa Ba Ngôi, con lấy được vợ con thôi nhà thờ” thì con cái họ sinh ra làm sao có được lòng tin vào Chúa vào Mẹ vững mạnh được. Người ta nhận xét, những Giáo hội có tổ tiên là những vị tử đạo, thì đức tin của Giáo hội đó vững mạnh. Giáo hội Việt Nam thừa hưởng đức tin 117 vị thánh Tử đạo, 2000 người tử đạo khác đã có hồ sơ chờ xin phong thánh và cả trăm ngàn người chưa có hồ sơ. Đại Hàn với 103 vị thánh tử đạo là tổ tiên, và cách đây 3 năm, 16-8-2014, đức giáo hoàng Phanxicô đến Đại Hàn để phong chân phước cho 124 vị tử đạo nữa, khiến con dân Giáo hội Đại Hàn có một đức tin kiên vững, bậc nhất ở Á Châu này. Đức tin cũng như sức khoẻ phải vun đắp. Thừa hưởng đức tin bất khuất từ cha ông, mà không tài bồi vun đắp thì đức tin cũng lung lay yếu ớt. Đến đây ta qua câu hỏi 2.

     

    2. Nếu đức tin yếu, có cách nào làm cho mạnh không ?

    Thưa có, và phải như vậy. Một cơ bắp nếu không hoạt động không tập luyện thì sẽ yếu dần, có thể đi đến co rút lại. Một đức tin không củng cố sẽ lắc lư giữa dòng đời đầy cạm bẫy làm mình xa Chúa. Vậy đức tin năng tập luyện cũng sẽ thành đức tin mạnh. Học hỏi bàn luận suy niệm về Lời Chúa như chúng ta đang làm đây ; tham dự thánh lễ với phần dâng lễ ít phút nữa cách chăm chú sốt sắng hơn ; cầu nguyện mỗi ngày để trở thành thói quen trong đời sống… tất cả đều có thể làm đức tin mạnh hơn. Và còn một cách tập luyện đức tin xem ra hữu hiệu hơn. Đó cũng là cách chúng ta muốn nói hôm nay, Dostoievski trong tác phẩm “Anh em nhà Karamazov” có bàn tới cách này.

    Trong tác phẩm, tác giả đề cập đến một bà lão, sức khoẻ thiêng liêng (đức tin) suy thoái cùng với sức khoẻ thể xác (càng già đức tin càng yếu…). Ngày nọ bà bàn luận vấn đề này với một vị linh mục cũng già tên là Zossima. Bà nói với linh mục về đức tin yếu kém và những ngờ vực của bà mới phát sinh khi … già: “Thiên Chúa có hay không ? Ngài có quan tâm đến tôi ? Có gì sau khi chết không ?”

    Linh mục già lắng nghe, cảm thông và nói với bà: Chẳng có cách nào chứng minh rõ ràng những điều bà thắc mắc. Nhưng bà vẫn có thể tin những điều đó cách vững vàng hơn.

    -Bằng cách nào ? bà giả hỏi.

    -“Bằng yêu thương. Hãy cố gắng yêu người láng giềng của bà thật tình và bà sẽ nhận thấy có Chúa thật. Có một tương lai huy hoàng sau khi chết. Đây là điều chắc chắn, đã được thể nghiệm và đã có kết quả”.

    Linh mục già Zossima nói thật chí lí. Càng yêu nhiều thì càng tin mạnh. Tin và yêu đi đôi với nhau như hai đường rầy xe lửa. Tìm được cái này là thấy rõ cái kia. Người phụ nữ Canaan trong bài Tin mừng hôm nay mà Chúa khen đức tin mạnh thật cũng là người yêu thật mạnh. Bà không xin Chúa cho bà mà bà xin cho con bà. Lòng mẹ bao la. Bà đã vượt qua cả 3 cửa ải, 3 bước khó để xin cho bằng được :

    -  Bước 1 : Bà xin Chúa, Chúa nín thinh !

    -  Bước 2 : Môn đệ nhắc khéo Chúa để đuổi bà về, Chúa bỏ lửng một câu: “Thầy chỉ được sai đến cứu những con chiên lạc nhà Israel  thôi”

    -  Bước 3 : Khi bà cố nài van nữa để chữa lành cho đứa con bị quỉ ám, thì Chúa cho một cú “ân huệ” (tức phát súng kết liễu kẻ bị án tử hình) : “Không nên lấy bánh của con cái mà cho chó ăn.” Tưởng rằng cú ân huệ này sẽ hạ gục bà mẹ. Ai ngờ bà vẫn sống : “Đúng thế thưa Ngài, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.”

    Đức Giêsu thua. Lòng tin bà mạnh thật. Bà tin mạnh vì bà yêu con bà quá sức. Yêu là việc làm của Tin. Đức tin không việc làm là đức tin (yếu). Tin mà không yêu là tin yếu. Muốn tin mạnh thì cũng hãy yêu nhiều. Chắc chắn như vậy. Amen.

     

    Anphong Nguyễn Công Minh, ofm

     


    Anh chị em thân mến

    Trong khi chúng ta đang tập họp nhau trong nhà thờ này để thờ phượng Chúa, thì có nhiều người khác, tuy cũng là kitô hữu, không có mặt ; và còn biết bao anh chị em người lương chưa biết Chúa.

    Thiên Chúa là Cha của hết mọi người, yêu thương hết mọi người và muốn ban ơn cứu độ cho hết mọi người.

    Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy cầu xin Chúa cho các kitô hữu nguội lạnh trở về với tình thương của Chúa, và cho anh chị em người lương có dịp cảm nếm tình thương của Chúa.

    II. GỢI Ý SÁM HỐI

    - Chúng ta có thành kiến coi thường những người ngoài tôn giáo của chúng ta.

    - Chúng ta không quan tâm giới thiệu Chúa cho lương dân.

    - Nhiều khi cuộc sống của chúng ta còn thua kém người lương nữa.

     

     

     

     

SỐNG TỈNH THỨC - KHÔNG BIẾT GIỜ CHẾT

 

  •  
    nguyenthi leyen
     
    Thu, Aug 20 at 2:03 AM
     
     
     
     
     
    Ảnh cùng dòng


     
    ĐƯỜNG VỀ NHÀ CHA

    KHÔNG AI BIẾT TRƯỚC SẼ CHẾT GIỜ NÀO.

     I. Sự chết đến như kẻ trộm.

     Mỗi người chúng ta sẽ chết. Điều chắc chắn nhất là chúng ta sẽ chết, nhưng chết vào giờ nào thì không ai biết chắc được. Để chung ta luôn sửa soạn sẵn sàng, Thánh Phaolô đã nói với chúng ta:“Chính anh chị em đã rõ: ngày của Chúa sẽ đến bất ngờ, như kẻ trộm lúc đêm khuya.” ( I- Thê-xa-lô-ni 5 : 2).

     Chúa bảo chúng ta : Hãy tỉnh thức, vì Con Người sẽ đến phán-xét chúng ta vào giờ chúng ta không ngờ. (Luca 12 : 40)

     Thánh Grêgory đã nói:“Chúng ta không biết trước sẽ chết giờ nào, để chúng ta luôn chuẩn-bị sẵn sàng.”

     Thánh Bênađô nói rằng vì chúng ta có thể chết bất cứ giờ nào, bất cứ ở đâu, nên muốn chết lành, được cứu rỗi, phải sẵn sàng đón nhận sự chết: “Thần chết đến bất cứ giờ nào, bất cứ ở đâu, nên chúng ta phải luôn sẵn sàng chờ đợi nó.”

     II. Giờ chết còn xa ?

     Ai cũng biết mình sẽ chết. Nhưng điều tai hại là nhiều người cứ tưởng sự chết còn quá xa, xa tít quá tầm mắt mình. Ngay cả những người già cả, những người đau yếu tật-nguyền cũng muốn nghĩ rằng: họ còn sống ít ra 3, 4 năm nữa. Nhưng biết đâu sẽ chết ngay ngày hôm nay vào lúc bất ngờ nhất; người chết đang ngồi, kẻ chết lúc đang ngủ….

     Bạn thân mến, ma quỷ thường lừa dối lúc cám-dỗ rằng ngày mai ta sẽ đi xưng tội, hãy dứt khoát trả lời ngay với nó: “Ai biết được: hôm nay không phải là ngày cuối của đời tôi?”

     Vào giờ đó, lúc đó tôi quay lưng lại với Chúa, ai biết được, chính là giờ phút cuối cùng của đời tôi. Tôi còn thời giờ đâu để hối lỗi và số phận đời đời tôi thế nào? Chính vào lúc cắn phải mồi độc mà thần chết đã đến cho một số tội-nhân khốn-nạn, đẩy họ xuống địa-ngục: “Như cá mắc câu, người tội-lỗi bị mang đi vào giờ tội-lỗi của nó.” (Giảng viên 9: 12)

     Ma quỷ đánh lừa người tội-lỗi rằng trường hợp rủi-ro đó không xảy đến cho bạn đâu, hãy trả lời ngay với nó: ”Trường hợp đó rất có thể xảy đến với tôi, số phận đời đời tôi sẽ ra sao?”

     LỜI NGUYỆN THỐNG HỐI.

     Lạy Chúa, con đáng phải sa vào chốn ngục hình vì các tội –lỗi con đã phạm. “Hỏa –ngục là nhà của con”. Nhưng Thánh Phêrô đã ghi: “Thiên Chúa đã nhẫn nại vì anh chị em, để không một ai phải hư đi, trái lại muốn cho hết mọi người ăn-năn hối-cải.” (2/ Phêrô 3 : 9).

     Chúa nhẫn-nại chờ đợi con đến nay vì Chúa không muốn con hư mất, nhưng Chúa muốn con sấp mình xuống dưới chân Chúa và van nài lòng thương xót của Chúa: “Lạy Chúa xin thương xót con theo lượng từ-bi hải-hà của Chúa.”

     Tội lỗi con thật nặng nề vì Chúa đã soi sáng cho con. Những người tội-lỗi khác đáng được khoan-hồng hơn, vì họ chưa được ánh sáng chiếu dọi như con. Lạy Đấng Cứu-Chuộc con, Chúa là đấng vô tội đã chịu chết khồ nhục trên Thập-giá như một tội-nhân, để “máu Đấng vô tội rửa sạch tội-lỗi các tội nhân!”

     Lạy Cha chí nhân! Xin tha thứ cho con vì tình yêu Chúa Giêsu. Xin nghe lời con Chúa, đấng trung-gian bầu-cử và là Trạng-sư của con. Con không những chỉ xin ơn tha thứ, mà con muốn mến Chúa, vì Chúa là Đấng rất đáng mến yêu. Từ đây, con xin hiến dâng hồn xác con, ý muốn và cả sự tự-do cho Chúa. Từ đây, con xin xa lánh các dịp hiểm nghèo “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ.”

    Tác giả: Thánh An-Phong-Xô Li-go-ri  
    (Phêrô Bùi-Đắc-Hữu, dịch)
     

 

SỐNG TỈNH THỨC - ĐTC CẦU NGUYỆN

  •  
    Tinh Cao
     
    Tue, Aug 11 at 8:03 AM
     
     

    ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Cầu Nguyện:

     

    Bài 6 - Cầu nguyện: Trận Đấu của Tổ Phụ Giacóp

     

     

    2020.06.10 Udienza Generale

     

    Xin chào anh chị em thân mến,

     

    Chúng ta hãy tiếp tục các bài giào lý của chúng ta về chủ đề cầu nguyện. Sách Khởi Nguyên, qua những gì xẩy ra nơi con người nam nữ ở thời xa xưa, kể cho chúng ta biết về các câu chuyện giúp chúng ta có thể nhờ đó suy niệm về nó nơi đời sống của mình. Trong Vòng Các Vị Tổ Phụ (the Patriarch Cycle), chúng ta cũng thầy câu chuyện về một con người khôn khéo thi thố có tài nhất, đó là Giacóp. Trình thuật Thánh Kinh kể cho chúng ta biết về mối liên hệ khó khăn Giacop gặp phải với Esau anh mình. Ngay từ bé, đã xẩy ra một mối kình địch giữa họ với nhau, một mối kình địch chẳng bao giờ được khắc phục sau này. Giacóp là đứa con lọt lòng sau - họ là một cặp song sinh - nhưng nhờ mánh lới đã khéo chiếm được phúc lành và quyền trưởng nam của cha mình là Isaac (xem Khởi Nguyên 25:19-34). Đó mới chỉ là câu chuyện đầu tiên trong một loạt dài những thủ đoạn khả thi cho thấy con người không ngần ngại này thực hiện. Ngay cả cái tên "Jacop" cũng có nghĩa là một ai đó tinh xảo nơi những biến chuyển của mình.

     

    Bị bắt buộc phải thoát thân cho khỏi người anh của mình, chàng ta dường như lại thành công trong hết những gì thực hiện trong đời của mình. Chàng ta giỏi về thương mại: chàng đã trở nên rất giầu có, thành một chủ nhân của một đàn vô vàn súc vật. Nhờ kiên cường và nhẫn nại, chàng đã lấy được người con gái đẹp nhất chàng thực sự phải lòng của ông cậu Laban. Giacóp - theo ngôn ngữ tân thời chúng ta có thể nói - là một con người "tự lập tự cường - self-made"; nhờ tài khéo của mình, nhờ biết khôn lanh, chàng đã chiếm được tất cả mọi sự mong muốn. Tuy nhiên, chàng lại thiếu một điều gì đó. Chàng thiếu mất mối liên hệ sống động với nguồn gốc của chàng

     

    Một ngày kia, chàng chợt nghe thấy tiếng gọi hồi hương, về quê quán cũ của mình, nơi người anh Esau của chàng vẫn còn sống, một người anh chàng luôn có một mối liên hệ ghê gớm. Giacóp lên đường, thực hiện một hành trình dài, với một đoàn bao gồm nhiều người và súc vật, cho đến khi chàng tiến đến bước cuối cùng ở giòng suối Jabbok. Ở đây, Sách Khởi Nguyên cống hiến cho chúng ta một câu chuyện đáng nhớ (xem 32:23-33). Câu chuyện này cho thấy rằng vị tổ phụ ấy, sau khi có tất cả những người của mình cùng với đàn súc vật của mình - rất là nhiều - băng qua một giòng suối, vẫn ở một mình bên bờ sống phía xa lạ. Và chàng suy tư về những gì đang chờ đợi mình vào những ngày tháng tới đây? Người anh Esau sẽ tỏ thái độ như thế nào đối với mình đây, vì chàng đã cướp mất quyền trưởng nam của người anh? Tâm trí của Giacóp quay cuồng với những ý nghĩ ... Để rồi, khi trời bắt đầu tối, đột nhiên một người lạ nắm lấy chàng và bắt đầu vật lộn với chàng. Sách Giáo Lý dẫn giải: "truyền thống linh đạo của Giáo Hội vẫn coi biểu hiệu của cầu nguyện như là một trận đấu của đức tin và là một cuộc chiến thắng của lòng kiên trì" (số 2573).

    Giacóp vật lộn cả đêm, không bao giờ buông tha cho đối phương của mình. Cuối cùng thì chàng bị đập, khiến giây thần kinh bên hông của chàng bị đối thủ đánh vào, nên sau đó chàng sẽ đã bước đi khập khễnh suốt đời của chàng. Kẻ vật lộn lạ lùng đó hỏi tên của vị tổ phụ và bảo với vị tổ phụ này rằng: "Tên của ngươi không còn gọi là Giacóp nữa, mà là Israel, vì ngươi đã phấn đấu với cả Thiên Chúa lẫn con người ta, và đã thắng thế" (32:28). Lời ấy như thể nói rằng: ngươi sẽ không bao giờ là con người bước đi như vậy nữa, tức đi thẳng. Vị ấy đã đổi tên cho chàng, thay đổi đời chàng, thay đổi thái độ của chàng. Ngươi sẽ được gọi là Israel. Sau đó Giacóp cũng hỏi người ấy rằng: "Tôi xin ngài cho tôi biết tên của ngài". Người ấy chẳng cho chàng biết tên của mình, mà lại chúc lành cho chàng. Vậy Giacóp hiểu rằng chàng đã được gặp gỡ Thiên Chúa "nhãn tiền" (29-30).

    Việc vật lộn đối chọi với Thiên Chúa là một ẩn dụ về cầu nguyện. Những lúc khác Giacóp đã tỏ ra có thể đối thoại với Thiên Chúa, cảm thấy Ngài như là một sự hiện diện thân tình và gần gũi. Thế nhưng, đêm hôm ấy, nhờ một cuộc đối chọi lâu dài gần như làm cho chàng không chịu đựng nổi nữa, thì vị tổ phụ này đã tỏ ra thay đổi. Chàng đã đi đến chỗ trở thành một con người được thay đổi: tên của chàng, đường lối của chàng và cá tính của chàng. Nhờ vậy chàng không còn làm chủ tình hình - cái tinh khôn của chàng trở thành vô dụng đối với chàng -, chàng không còn là một con người chiến lược và tính toán nữaThiên Chúa đã quay trở chàng về với sự thật của chàng, như là một con người chết chóc, kinh đảm và kinh sợ, vì trong cuộc đối chọi, Giacóp đã tỏ ra sợ hãi. Nhờ vậy Giacóp chỉ còn nỗi yếu hèn và bất lực, cùng với tội lỗi của mình, để dâng cho Thiên Chúa. Và chính nhờ vậy này Giacóp nhận được phúc lành của Thiên Chúa, một phúc lành chàng khập khễnh bước vào đất hứa: yếu đuối và thương tật, nhưng lại với một con tim mới. Có lần tôi đã nghe một vị nam bô lão đã nói - một con người tốt lành, một Kitô hữu tốt lành, nhưng lại là một tội nhân đầy tin tưởng vào Thiên Chúa - rằng: "Thiên Chúa sẽ giúp con; Ngài sẽ không bỏ con một mình. Con sẽ vào Nước Trời; dù khập khễnh, nhưng con sẽ vào". Trước đó, ông là một con người tự tin; ông đã tin tưởng vào tài tinh khôn của ông. Ông đã là một con người không tiếp thu ân sủng, miễn nhiễm với lòng thương xót; ông không hề biết đến lòng thương xót là gì. "Tôi đây, tôi là một kẻ truyền khiến!" Ông không nghĩ ông cần đến lòng thương xót. Thế nhưng, Thiên Chúa đã cứu những gì đã bị mất mát. Ngài đã làm cho ông hiểu rằng ông là con người hạn hữu; ông là một tội nhân, cần lòng thương xót, và Ngài đã cứu ông.

    Tất cả chúng ta đều hẹn hò với Thiên Chúa về đêm, trong đêm tối tăm của cuộc sống chúng ta, ở nhiều đêm đen trong cuộc đời của chúng ta: những lúc tối tăm, những lúc tội lỗi, những lúc thất lạc hướng đi. Và vào lúc đó, bao giờ chúng ta cũng được hẹn hò với Thiên Chúa. Ngài sẽ làm cho chúng lạ lùng bỡ ngỡ vào lúc chúng không ngờ nhất, khi chúng ta cảm thấy mình thực sự lẻ loi cô quạnh. Cũng vào đêm ấy, khi đối chọi với một kẻ lạ mặt, chúng ta mới nhận ra rằng chúng ta chỉ là những con người nam nữ đáng thương - "đồ đáng thương" tôi dám nói như thế -, thế nhưng, chính lúc chúng ta cảm thấy mình là "thứ đồ đáng thương" ấy, chúng ta không cần sợ: vì Thiên Chúa sẽ cống hiến cho chúng ta một tên gọi mới, chất chứa ý nghĩa cho cả cuộc đời của chúng ta; Ngài sẽ thay đổi lòng dạ của chúng ta và Ngài sẽ ban cho chúng ta phúc lành chỉ giành cho những ai để mình cho Ngài thay đổi. Đó là một lời mời gọi tuyệt vời, là hãy để mình cho Thiên Chúa đổi thay. Ngài biết cách làm điều này, vì Ngài biết được từng người chúng ta. "Lạy Chúa, Chúa biết con", hết mọi người chúng ta có thể nói: "Lạy Chúa, Chúa biết con. Xin hãy biến đổi con đi".

    https://zenit.org/articles/this-is-a-beautiful-invitation-to-let-ourselves-be-changed-by-god-full-text-of-popes-general-audience/

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

     

    --
    CMC-THDC (Thân Hữu Đồng Công)
    ---
    Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "CMC-THDC".
    Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it..
    Để xem cuộc thảo luận này trên web, hãy truy cập https://groups.google.com/d/msgid/cmc-thdc/CAChZeFhyWKrnPT8Riu%3DC7KkX96U-2vYbMc1%3D%2BYsv6Ebhy-cAxw%40mail.gmail.com.